Chủ nhật, 23/09/2018 6:48 PM

Tứ Chẩn

Thứ tư, 30/09/2015 10:23 AM

Tứ chẩn là 4 phương pháp nhìn, nghe, hỏi và sờ nắn, xem mạch để tập hợp được đầy đủ các triệu chứng đang biểu hiện trên người bệnh.

Sự tập hợp triệu chứng đầy đủ, sẽ giúp người thầy thuốc hệ thống hóa được dễ dàng, để thực  hiện  việc  chẩn  đoán  bệnh  thuộc  hội chứng nào của Bát cương, bệnh của tạng phủ, kinh lạc nào, do nguyên nhân nào gây ra. Từ đó mà quyết định phương pháp điều trị cho thích  hợp.

Tứ chẩn

I. VỌNG

1.Vọng (Nhìn)

Quan sát  tỉ mỉ thần, sắc, hình thái, mặt, lưỡi... của người bệnh, sẽ giúp thầy thuốc sơ bộ  thấy  cần  đi sâu, nắm vững những vấn đề gì để biết được tình hình bệnh tật trong cơ thể phản  ánh  ra  ngoài. Y học cổ truyền rất chú trọng đến việc xem xét các bộ phận ở mặt, mắt, lưỡi... vì có quan hệ nhiều  với các tạng phủ.

-Xem thần : Thần là sự hoạt động về tinh thần, ý thức và sự hoạt động của các tạng phủ bên trong cơ thể, biểu hiện ra bên ngoài.

+ Còn thần: Mắt sáng, tỉnh táo, hoạt động có ý thức ... là dấu hiệu chính khí chưa suy

sụp, bệnh nhẹ, chữa dễ và có khả năng khỏi.

+ Mất (thất) thần :  Tinh thần mỏi mệt, thờ ơ, nói không đủ sức... là dấu hiệu chính  khí

suy, bệnh nặng, khó chữa hoặc chữa lâu ngày.

Do đó, thiên  'Thiên  Niên ' (LKhu 55) viết : "Còn thần thì sống, mất thần thì chết".

Một số người bệnh trạng thái nặng, bệnh lâu ngày, cơ thể quá suy yếu đột nhiên tinh thần  tỉnh táo, muốn ăn uống, gò má đỏ là dấu hiệu chính khí muốn thoát, bệnh tình nguy hiểm,

Y học cổ truyền  gọi là hiện tượng "Hồi quang  phản chiếu"  hoặc "Giả  thần".

2.  XEM SẮC

Thường xem sắc ở mặt, người bình thường sắc mặt sẽ tươi nhuận, ngược lại khi có bệnh thường có sự thay đổi, căn cứ trên những sự thay đổi đó có thể biết được phần nào trạng thái bệnh lý ở tạng phủ liên  hệ.

- Sắc đỏ: hỏa sinh nhiệt, do đó, sắc đỏ biểu hiện cho sự viêm nhiệt. Tuy nhiên cần phân

biệt giữa thực nhiệt  và hạ nhiệt.

+ Thực nhiệt  gây đỏ bừng cả mặt, kèm theo sốt cao, sốt toàn thân.

+  Hư  nhiệt,  chỉ  ửng  đỏ  ở  2  gò  má,  người  gai  rét  chứ  không sốt, thường gặp

trong các chứng âm hư.

- Sắc vàng : Thiên 'Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận' (TVấn 5) ghi : " Sắc vàng là sắc của Tỳ", Tỳ hư kém, sắc vàng sẽ đục tối khác với sắc vàng tươi nhuận của Tỳ khí sung  mãn, 'Tỳ ố thấp', Tỳ ứ không kiện được thủy thấp, thủy thấp đình trệ lại, khí huyết  giảm  sút, da không được nuôi  dưỡng nên có màu vàng.

Chứng  vàng  da  (Hoàng  đản),  sắc  vàng  tươi  sáng  là  do  thấp  nhiệt  (vàng  da  do  nhiễm khuẩn), nhưng  sắc vàng tối là do hàn thấp (vàng da do ứ mật, tan huyết).

- Sắc trắng thường  do hư, hàn, thiếu  máu.

- Sắc đen xám, u tối thường do thận hư, thận hư tinh khí suy kiệt, không vận hóa được

thủy thấp làm máu huyết ngưng  trệ gây ra xám đen.

Nhìn vào đồ hình Thái cực áp dụng trên khuôn mặt, áp dụng màu sắc vào để xem ta thấy :

+ Cằm : tượng trưng cho thận, nếu thấy màu đen xám là dấu hiệu  thủy của thận suy.

+ Trán tượng trưng cho tâm, thấy có màu đen xám là dấu hiệu  thủy của tâm suy...

Căn cứ vào màu sắc, vị trí các bộ phận tương ứng, có thể biết được rồi loạn bệnh lý ở cơ quan tạng phủ liên  hệ.

3. XEM HÌNH THÁI (Hình Dáng, Tư Thế, Cử Động)

Xem hình dáng để biết tình trạng sức khỏe của tạng phủ, qua các biểu hiện có liên hệ đối với cơ quan tạng phủ đó.

Thí dụ: Xem da lông để biết trạng thái của Phế (Phế chủ da lông), xem răng để biết trạng thái của thận (Vì thận chủ xương, răng...).

Xem  tư  thế  cử  động  của  người  bệnh  để  biết  trạng  thái  tổng  quát  thuộc  âm  hay dương chứng. Thí dụ : người bệnh ưa rên rỉ, hay cáu gắt... thuộc dương chứng. Người bệnh thích nằm yên, không ưa ánh sáng, tiếng  động... thuộc âm chứng.

4. XEM MŨI

Chủ yếu xem hình dạng của mũi để chẩn đoán trạng thái hư yếu hoặc bất thường của phế vì phế khai khiếu  ở mũi.

 

Thí dụ: 2 cánh mũi phập phồng, do Mộc đó phế vượng (hay gặp trong chứng viêm phổi, hen suyễn...).

Ngoài ra, có thể dựa vào nước mũi để chẩn đoán tình trạng rối loạn : chảy nước mũi trong là dấu hiệu thủy  của phế suy, hay gặp trong chứng cảm phong hàn...

5. XEM MÔI

Môi đỏ hồng  là  nhiệt,  môi  nhợt  nhạt  là huyết hư, môi xanh tím là huyết ứ. Ngoài ra Tỳ khai  khiếu  ra  ở  môi  miệng,  do đó, môi lở loét là dấu hiệu hỏa của Tỳ vượng, môi thâm đen là dấu hiệu thủy  của Tỳ suy...

6. XEM DA

Tìm những dấu vết xuất hiện trên da để suy đoán được những rối loạn chức năng ở vùng tương ứng.

Theo tạp chí Spounik số 9/1984, các nhà nghiên cứu đã tìm ra 10 chức năng của da. Sự bảo vệ chống ánh sáng quá nhiều là 1 trong những chức năng đó. Sự nhiễm sắc, đậm màu khác nhau, những vết Ban, những nốt ruồi, mụn cơm xuất hiện trên da đều có liên hệ đến cơ quan tạng phủ tương ứng.

Da mặt tương ứng với đoạn trên của Thân não.

Những đoạn não tủy được phản chiếu  trên da cổ và bàn tay...

Như vậy, tất cả sự thay đổi ở da (vết nám, mụn cơm , mụn ruồi...) đều có thể cho thấy sự rối loạn hoặc suy yếu của 1 bộ phận cơ quan bên trong.

7. XEM TAI (NHĨ CHẨN)

Theo  Nogier,  loa  tai  đại  biểu  cho  hình  thái  của  bào  thai lộn ngược trong tử cung người mẹ, đầu chúc xuống,  chân ở trên. Được phân bổ như sau :

BỘ PHẬN Ở TAI
CƠ QUAN TẠNG PHỦ TƯƠNG ỨNG
Dái Tai Đầu, Trán, Mắt, Mũi, Miệng, Chẩm
Đôi Vành Tai Chi Dưới
Chân Vành Tai Bụng, Ngực, Sống Lưng
Xoắn Tai Dưới

Đại Trường, Tiểu Trường, Ruột Dư, Bàng Quang,Thận, Tụy, Túi Mật, Gan, Lách

ThànhTrong Bình Tai Tâm Vị, Thực Quản, Tim, Phổi
Thuyền Tai Chi Trên
Hố Tam Giác Tử Cung, Đầu Gối

Dựa vào vị trí, sự thay đổi các dấu hiệu báo bệnh trên các vùng ở loa tai, có thể suy đoán bệnh  lý ở cơ quan tạng phủ có liên  hệ.

Thí dụ : Sụn tai ở chân vành tai, tương ứng với cột sống, thấy có dấu hiệu báo bệnh xuất  Hiện  ở  vùng  này  (mụn  ruồi,  tàn  nhang,  điện  trở  thay  đổi...)  có  thể  chẩn  đoán  cột  sống  người  bệnh đang bị rối loạn, bệnh...

- Các bác sĩ ở Canada và Mỹ cho biết : những đường nhăn xuất hiện ở vành tai dưới của  những

người dưới 60 tuổi có thể là dấu hiệu  của bệnh tắc mạch máu cơ tim.

- Nicholas  Patrakis,  1  nhà  huyết  học,  khi  nghiên  cứu  về  di  truyền  học  đã  nhận  thấy : những phụ nữ có ráy tai ướt, dễ bị ung thư vú hơn ráy tai khô. Theo ông, giữa vú và tai có liên  hệ  :  cả  2  đều  có  những loại tuyến tương tự và đều tiết dịch như nhau. Ông làm thí nghiệm : Hút dịch ở vú và nhận thấy : hầu hết phụ nữ da trắng thường chỉ cần được hút trong  vòng  10 -15 giây là đã có sữa non, trong khi đó, hầu hết phụ nữ Á châu cho sữa non ở  nhịp độ  chậm  hơn  nhiều.  Và  điều  quan trọng là người phụ nữ nào tiết sữa non nhanh đều có ráy tai ướt.

8. XEM MẮT (NHÃN CHẨN)

Mắt cũng là 1 vùng phản chiếu của cơ thể, do đó qua mắt có thể biết được phần nào trạng

thái rối loạn của cơ quan tạng phủ tương ứng.

Theo các công trình  nghiên  cứu của Trung  Quốc, mắt có liên  hệ với ngũ tạng như sau :

Ngũ Tạng Nhãn Chẩn Của Trung  Quốc
Can Tròng Đen
Tâm Thịt  2 Bên Khoé Mắt
Tỳ Mi Mắt
Phế Tròng Trắng
Thận Con Ngươi

- Theo Nội Kinh : "Can khai khiếu ở mắt" do đó mắt có màu đỏ, mắt sưng là dấu hiệu hỏa của can vượng,  mắt mọc thịt,  có mộng là dấu hiệu thổ của can vượng...

- Theo Giáo sư Oshawa, những người có mắt Tam Bạch Đản thường chết bất đắc kỳ tử  (chết bất ngờ).

- Theo tạp chí Spounik số 9/1984, giáo sư Valkhover, đại học y khoa Lumunba, cho rằng: mống mắt cũng có một vùng phản chiếu tương ứng của cơ thể. Theo ông, tổn thương ở 1  cơ  quan tạng phủ sẽ phát ra tín hiệu tạo thành xung động thần kinh qua dây thần kinh đến  vùng  phản  chiếu  tương  ứng  ở  mống  mắt, tạo nên ở mống mắt những vết nhiễm sắc nhạt  và ánh sáng sẽ lọt qua nhiều hơn bình thường. Ở giai đoạn mãn tính, những vết này sẽ có màu sẫm nên nhu cầu về ánh sáng giảm bớt... Do đó, những thay đổi về màu sắc ở mống mắt sẽ cho biết về giai đoạn của quá trình viêm nhiễm ở 1 cơ quan tạng phủ tương ứng nào đó tương ứng.

Màu sắc của mắt cũng rất quan trọng vì mắt là nơi điều tiết ánh sáng : chỉ cho lọt vào mắt 1 lượng  ánh  sáng  cần  thiết.  Những  người mắt màu xanh cho ánh sáng qua nhiều hơn so với  người  mắt  sẫm.

Như  vậy,  nếu  người  có cặp mắt lợt, rời bỏ khí hậu quen thuộc của mình đang sống tức là vùng ít nắng để đi sống ở vùng nhiều nắng hơn sẽ dễ bị kích thích quá  đáng,  dễ  gây  ra  co  giật,  huyết  áp  cao.  Trái lại, người mắt  đen,  đang  sống  ở  vùng nhiều  ánh sáng, đi đến vùng  ít nắng hơn, sẽ trở thành nhu nhược lười biếng mệt mỏi...

Qua thí nghiệm sự nhạy cảm ánh sáng của mắt, các nhà nghiên cứu nhận thấy : người có  giác  mạc  xanh nhạy cảm ánh sáng hơn người mắt nâu sẫm 3 lần và hơn giác mạc đen 4 lần. Như vậy có thể dùng chỉ số này làm tiêu chuẩn để đánh giá sự nhạy cảm của tất cả cơ thể.

Thí dụ : muốn cho thuốc đem lại hiệu quả tốt trong việc điều trị, liều lượng thuốc đối với người  mắt đậm có thể phải nhiều  và mạnh  hơn so với người  mắt lợt.

Hình  dáng  của  mắt  có  1  vai trò  trong  sự  điều hòa ánh sáng. Người ở vùng nhiều nắng, hay tiếp xúc với ánh nắng (công nhân lao động ở công trường...) trán thường trợt ra sau, vành xương chân mày lồi, mắt nhỏ và sâu. Ngược lại người ở vùng ít nắng. Ít tiếp xúc với ánh  sáng  (người  bệnh nặng  phải  ở  trong  nhà,  nơi  ẩm  thấp  thiếu  ánh  sáng...)  thường  có mặt bẹt, hốc mắt rộng và đôi mắt to.

Lông mi và lông mày cũng giúp điều tiết ánh sáng cho mắt, che bớt ánh sáng vào mắt, do đó, 1 cơ thể yếu, không những sợ quá nhiều ánh sáng mà còn không chịu nổi lượng ánh sáng mà người  khác coi là cần thiết,  chính  vì thế họ có lông  mi dài và nhiều.

9. XEM LƯỠI (THIỆT CHẨN)

Lưỡi là 1 tổ  chức cấu  tạo  bởi  nhiều cơ trơn  hợp  thành. Các lớp niêm mạc, nhất  là  phía  trên  lưỡi, tạo thành rêu lưỡi. Các dây thần kinh mạch máu và  các nhú  dạng chỉ  (Pulpilae  Folifermis)  của  lưỡi  rất nhậy, do đó các thay đổi chức năng tiêu hóa, thể dịch tình trạng cơ thể... có thể phản ánh  nhanh  chóng qua lưỡi. Vì vậy, quan sát lưỡi cũng có thể chẩn đoán bệnh khá chính  xác và độc đáo.

9.1. Về hình th

Lưỡi được phân chia như sau :

- Đầu lưỡi thuộc Tâm.

- Cuống lưỡi thuộc Thận.

- Giữa lưỡi thuộc Tỳ.

- 2 bên rìa lưỡi thuộc Can.

Thí dụ :

+ Thấy đầu lưỡi lở dộp, có thể nghĩ  đến hỏa của tâm vượng.

+ Cuống lưỡi sưng, cuống lưỡi lở là dấu hiệu  hỏa của thận vượng.

+ Giữa lưỡi xám đen là dấu hiệu  thủy của Tỳ suy.

9.2. Màu sắc và chất lưỡi

Xem lưỡi, thường  tập trung  vào chất lưỡi và rêu lưỡi.

a) Lưỡi bình thường

- Chất lưỡi hồng nhạt do màng lưới các mạch máu vận chuyển trong lớp cơ và trong lớp dưới niêm  mạc lưỡi làm cho lưỡi đỏ hồng.

- Rêu lưỡi trắng mỏng : do lớp nhú dạng chỉ với lớp thượng bì bị sừng hóa, thêm những vi  khuẩn xen lẫn với thức ăn vụn nát, những mảnh tế bào bị hủy hoại và nước miếng do tuyến  nước miếng  tiết ra, tạo thành  chất lưỡi trắng mỏng.

b) Các biến đổi

b1. Màu sắc

- Trắng  bệch  :  liên  hệ  đến  hiện  tượng  thiếu  máu,  mao  mạch  máu  bị  co  lại,  huyết  dịch giảm  sút,  dòng  máu  lưu  thông  kém,  gây  phù...  Thường  có  liên  hệ  với  hàn  chứng,  hư chứng, dương khí suy nhược, khí huyết  không đủ.

- Xanh tím : liên hệ ứ máu tĩnh mạch hoặc thiếu oxy trong hồng cầu. Nếu do nhiệt, chất

lưỡi xanh tím nhiều, lưỡi khô, ít tân dịch. Nếu do hàn, chất lưỡi xanh tím nhưng ướt tươi.

Nếu ứ huyết thì có kèm theo các vết ban hoặc điểm ứ huyết.

- Đỏ : Thuộc nhiệt, do thực nhiệt hoặc hư nhiệt gây nên. Nếu đỏ tím là do nhiệt tà quá

thịnh, đã vào phần dinh huyết và huyết, ở bệnh nhân mãn tính là do âm hư hỏa vượng, tân dịch bị giảm  nhiều.

- Khô ráo : do nước miếng bài tiết ra bị giảm sút. YHHĐ cho là do hệ thần kinh giao cảm hoạt động mạnh hoặc do hoạt động của hệ Đối giao cảm yếu làm cho tình trạng tiết nước miếng bị giảm sút gây ra chất lưỡi khô ráo. YHCT cho là do nhiệt tà quá thịnh, đốt cháy làm khô tân dịch.

- Có vết nứt : do các nhú dạng chỉ của lưỡi chỗ thì dính, chỗ thì tách rời nhau, gây ra kẽ

nứt. Cũng  có  khi  do  niêm  mạc  lưỡi  co  rút  lại gây ra nứt. Thường gặp trong các chứng bệnh nhiệt  thịnh  đã vào phần lý, dinh, huyết.

b2. Về hình dáng

- Phù nề : thuộc Thực chứng, nhiệt chứng, nếu phù 2 bên thường do hư hàn hoặc do đàm thấp kết lại tràn lên.

- Sưng tụ : màu trắng nhạt : do Tỳ và Thận dương hư, chất lưỡi hồng đỏ, do thấp nhiệt

bên trong, nhiệt  độc mạnh.

b3. Về cử động của lưỡi

- Cứng  không  chuyển  động  được  :  do  bệnh  nhiệt,  hôn  mê,  sốt cao làm tổn thương tân dịch, trúng phong.

- Lệch: do trúng  phong.

- Run: do Tâm Tỳ khí huyết  hư.

- Rụt ngắn  : dấu hiệu  bệnh nguy  hiểm.

- Lưỡi thè ra ngoài : do Tâm Tỳ có nhiệt  hoặc bệnh bẩm sinh  phát dục kém ở trẻ em.

c) Xem rêu lưỡi

- Màu sắc :

c1. Rêu trắng :

thuộc về hàn chứng và biểu chứng.

c2. Rêu  lưỡi  vàng : thuộc nhiệt chứng, lý chứng. Do lưỡi bị viêm tại chỗ, phản ứng tiết

dịch do có sự tác động của cầu khuẩn vàng xuất hiện ở lưỡi tạo nên.

c3. Rêu lưỡi đen: thường là bệnh nặng. Nếu  đen mà khô  là do nhiệt  thịnh làm tổn thương  tân  dịch.  Do vi  khuẩn  sinh sôi  nẩy nở  làm sừng  hóa  tế bào. Thường gặp trong chứng sốt cao gây mất nước, bệnh viêm nhiễm lâu ngày dùng kháng sinh lâu ngày làm tối loạn chức năng  tiêu hóa ở bao tử, ruột...

- Tính chất :

c4. Rêu lưỡi dầy : Tà khí đã vào trong hoặc tích trệ ở trong. Đang bệnh, ăn uống kém hoặc  chỉ  uống  chất  lỏng  khiến  tác  động  cọ  sát  kém,  hoặc  do  sốt  cao  mất  nước,  nước miếng  tiết ra bị giảm  sút.

c5. Rêu lưỡi mỏng: hay gặp ở bệnh còn ở biểu, ngoại cảm. Rêu lưỡi từ mỏng biến sang dầy là bệnh nặng lên, từ biểu đi vào lý.

c6. Rêu lưỡi ướt: biểu hiện tân dịch chưa bị tổn thương, rêu lưỡi ướt trơn là do thủy thấp ứ lại bên trong.

c7. Rêu lưỡi khô: biểu hiện tân dịch bị hao tổn. Ngoài ra, nếu thấp tà tụ lại bên trong

không sinh  ra tân dịch cũng gây khô lưỡi.

9.3 Biểu Hiện Lâm Sàng Giữa Lưỡi Và Bệnh

Theo tạp chí Medical News (Anh), số 30/1980, bác sĩ Tống Nam Đình, trường trung cấp

y tế Thượng Hải I, qua quan sát kỹ lưỡng nhiều người bệnh đã đưa ra quan hệ giữa lưỡi và bệnh tật như sau :

- Chất lưỡi đỏ sẫm hoặc xanh tím, rêu lưỡi vàng dầy hoặc xám tro: bệnh nặng.

- Nơi  người  bị  phỏng,  diện  tích  phỏng  càng  rộng,  mức  phỏng càng  rộng  thì chất  lưỡi chuyển  sang  đỏ  hồng càng nhanh càng rõ... Phỏng mà kèm nhiễm khuẩn máu thì lưỡi đỏ sẫm và khô ráo.

- Chất lưỡi trắng bệch: gặp ở bệnh mãn tính, bệnh tiến triển chậm, kéo dài.

- Rêu lưỡi vàng: hay gặp ở bệnh nhiễm khuẩn máu do tụ cầu và liên cầu, do đó có thể

chẩn đoán là chứng thực nhiệt  (thổ vượng do hỏa vượng).

- Lưỡi sáng bóng, không rêu : bệnh nhiễm  khuẩn do trực khuẩn mủ xanh.

- Lưỡi đỏ, sáng bóng : gặp ở giai  đoạn cuối của Ung thư.

- Lưỡi đỏ sáng bóng lại thêm vết loét ở mặt lưỡi : nguy  kịch sắp chết.

- Lưỡi  âm  hư  (chất  lưỡi đỏ sẫm, thân lưỡi hao sút, lưỡi khô có vết nứt, có trường hợp sáng  bóng,  có  trường  hợp  2  bên  đầu  lưỡi  nổi  gai  đỏ,  giai  đoạn  cuối  của  bệnh (thường sáng  bóng  như  gương  toàn  lưỡi)  :  bệnh cảm nhiễm nặng, bệnh có khối u ác tính, cường tuyến  giáp trạng (Bướu cổ lồi mắt), bệnh tổn thương  ở gan, phổi.

- Ruột dư viêm cấp : rêu lưỡi nhờn. (Trên thực tế lâm sàng, có thể dựa dựa trên quan sát lưỡi để đánh giá mức phát triển của bệnh ruột dư viêm  cấp) :

+  Qua  điều  trị,  nếu  rêu  lưỡi  dầy,  nhờn  chuyển sang trắng mỏng là triệu chứng tốt, bệnh thuyên  giảm,  chiều hướng thuận  lợi.

+ Qua điều trị : dù các triệu chứng có lui bớt nhưng rêu lưỡi vẫn thấy nhờn như cũ, không có gì thay đổi cả thường là bệnh không biến chuyển hoặc có khi bệnh bên trong đang trên đà phát triển.

- Gan viêm nặng : lưỡi đỏ sẫm, khô, ít ướt, rêu lưỡi dầy nhờn hoặc khô ráo, vàng hoặc

đen.  Viêm  càng  nặng, tiến triển càng xấu, càng thấy trạng thái lưỡi rõ ràng đậm nét hơn.

Có trường hợp chỉ thấy lưỡi láng  bóng, không rêu.

- Xơ  gan :  dù  trước  kia  có  chất  lưỡi  hồng  nhạt,  rêu  lưỡi  trắng  mỏng  nhưng  bỗng thấy chuyển  sang màu đỏ sẫm mà sáng bóng thường là nặng.

- Ung thư gan : Rêu lưỡi có 2 vùng  xanh, bầm tím.

- Bệnh nhồi máu cơ tim: lưỡi trở nên bầm tím từng phần, các tĩnh mạch dưới lưỡi biến

đổi  trạng thái dãn tĩnh mạch. Thường quan sát thấy lưỡi bị trắng, sau 4-5 ngày lớp màng trắng đó sít lại và trở nên đen.

- Ung thư thực quản: lưỡi trở nên bầm tím và 67% trường hợp do tế bào bị tróc ra nên dễ phát hiện được những  thay đổi bệnh lý.

- Tiêu cầu thận viêm: trên lưỡi xuất hiện  1 lớp đen xám.

- Cũng theo tác giả, những bệnh thường làm lưỡi thay đổi là bệnh tim, bao tử viêm, loét, phổi viêm, bướu cổ, lồi mắt, đái tháo đường, ruột dư viêm cấp.

Trạng thái Chất Lưỡi Lưỡi, Rêu lưỡi Chứng bệnh

Trắng mỏng

Cảm phong hàn ở Biểu hoặc ở người khỏe  
Trắng mỏng Dương hư, khí huyết đều hư
 
Không  rêu Dương suy ở bệnh mãn, khí huyết suy
 
Trắng  và  mỏng kèm theo vết nứt Khí huyết hư, Vị âm không đủ
Vàng và nhờn Tỳ vị hư nhược, Thấp nhiệt ứ đọng
Xám tro và trơn Dương hư gây nội hàn, Đàm thấp ứ đọng
Rêu  trắng,  đầu lưỡi hồng Cảm phong nhiệt ở Biểu, Tâm hỏa vượng
Trắng và nhờn Đàm ẩm, Thấp trọc, Tích trệ về ăn uống
Trắng và cáu bẩn Đàm  ẩm  ứ  đọng  bên  trong,  Uế  trọc  trong  vị sinh  nhiệt
Trắng  dầy  như đắp phấn Giai  đoạn  đầu  của  bệnh  ôn  dịch  hoặc có  ung nhọt bên trong
Vàng mà khô ráo Bệnh lâu ngày, huyết ráo, khô tân dịch
Vàng mà nhờn Thấp nhiệt ở trong, Đàm trọc ứ đọng bên trong gây ra nhiệt
Trắng Nhiệt từ phần vệ chuyển vào phần khí
Vàng và mỏng Nhiệt vượng ở phần khí
Vàng và nhờn Thấp nhiệt ở phần khí
Vàng mà dầy và khô Nhiệt  tà  xâm nhập sâu vào trong gây ra chứng
Không có rêu Nhiệt uất kết ở trong trường Vị
Đen và khô Lý thực, cực nhiệt hại đến phần âm
Không có rêu Nhiệt xâm nhập phần huyết, âm hư, hỏa vượng
Vàng mà ráo Âm huyết khô ráo, hư hỏa nung nấu bên trong
Trắng mà nhuận Khí huyết ngưng trệ, Nội hàn trầm trọng

BẢNG TÓM TẮT VỀ CÁCH XEM LƯỠI (THIỆT CHẨN)

10. XEM MẶT (DIỆN CHẨN)
Mặt cũng là 1 trong số các vùng phản chiếu của cơ thể, do đó qua khuôn mặt cũng có thể phần nào đoán biết được bệnh tật ở các cơ quan tạng phủ tương ứng.

VÙNG PHẢN CHIẾU TRÊN MẶT BỘ PHẬN CƠ QUAN TRONG CƠ THỂ
Trán Đầu não
Lông mày Cánh tay, vai
Sơn căn Cổ gáy
Sống mũi Cột sống
2 bên sống mũi Tuyến giáp, thận
Mi mắt trên Mắt, thận dương
Mi mắt dưới Thận âm
Gò má Tim, Nhũ hoa
Phổi, Gan, Bao Tử, Lách, Mật, Amidal
Nếp nhăn 2 bên mũi (Pháp lệnh) Hoành cách mô, Sườn
Cánh mũi Mông, Thần kinh tọa
Nhân trung Ruột già, Tử cung, Bộ sinh dục
Bờ môi trên Dịch hoàn, Buồng trứng, Đùi, Háng
Bờ môi dưới (cằm) Ruột  non,  Bọng  đái,  Bụng  dưới,  Cổ chân,  Bàn  chân
Mép miệng Nhượng chân, Đầu gối, Bắp chân
2 bên cánh mũi đến giáp tai Cánh  tay

Thí dụ : Thấy dùng hiệu báo bệnh xuất hiện ở vùng lông mày, có thể chẩn đoán cánh tay có trục trặc. Phía trên Nhân trung có dấu hiệu báo bệnh, là Ruột già hoặc bộ sinh dục có trục trặc...

11. XEM TAY  CHÂN

Xem tay chân thường chú ý đến:

a) Hình  dáng: Ngón tay dùi trống (dấu hiệu Hypocrate) thường gặp nơi người Xơ gan cổ trướng, bệnh Tim...

b) Màu sắc: nhất là ở các móng tay; màu xanh tím thường gặp nơi người suy hô hấp, suy tuần hoàn nặng...

c) Vân  tay: Bình  thường  không thay đổi, tuy nhiên,  có 1 vài sự cấu tạo đáng chú ý.

+ Theo các nhà nghiên cứu Liên Xô, nơi người bệnh loét hành tá tràng thường có sự thay đổi nơi vân tay ngón trỏ (ngón thứ 2).

+ Allan  Park, dựa trên công trình  nghiên  cứu về di truyền  học cho thấy :

- Dạng vân thắt nút (noeud) thường  thấy nơi người  bị bệnh tim bẩm sinh.

- Dạng xoáy ốc (volute) hay gặp nơi người có hội chứng Turner (vóc người  bé, ngực bé, cổ tử cung hẹp).

- Dạng cánh cung (Arche) hay gặp ở người mắc hội chứng Kleinfelter (tinh  hoàn kém phát triển,  ngực có phần hơi đàn bà)...

12. CHỈ TAY Ở TRẺ EM

Chỉ  tay  ở  đây  là  tĩnh  mạch  nhỏ  tại  ngón  tay  trỏ, chỗ giáp thịt đỏ trắng, gần gốc xương ngón tay trỏ, gọi là cách xem "Hổ khẩu"  (vì có hình  dáng giống  miệng  con cọp).

Xem  hổ  khẩu  là  xem  xét  hình  dáng  chỉ  tay,  tức  hình  tĩnh  mạch  nông  (Vense  digitalis palmares)  ở  dưới  da  ngón  trỏ  của  bàn  tay.  Lớp  da  trẻ  nhỏ  còn non, mỏng, do đó tĩnh mạch nông dễ nổi và dễ nhận thấy. Dựa vào sự biến đổi vị trí, màu sắc và hình thái của các chỉ tay này, có thể chẩn đoán và tiên lượng bệnh của trẻ em.

Cách xem Hổ khẩu trẻ em : Để ngửa ngón tay trỏ lên, vuốt nhẹ vài lần từ gốc ngón tay trỏ lên xuống,  sẽ thấy hiện  ra chỉ tay của trẻ, chỗ giáp ranh thịt trắng đỏ của ngón tay trỏ.

Theo y học cổ truyền ngón tay trỏ được chia ra 3 phần : mỗi phần tương ứng với 1 đốt lóng  ngón  tay  :Lóng cuối cùng, giáp bàn tay, gọi là Phong Quan.

- Lóng thứ 2, lóng  giữa gọi là Khí Quan.

- Lóng trên cùng gọi là Mệnh Quan.

Cũng theo Y gia cổ xưa thì :

- Chỉ tay xuất hiện Phong Quan là bệnh nhẹ.

- Ở Khí quan là bệnh nặng.

- Ở Mệnh quan là bệnh nặng, trầm trọng và nguy  hiểm  đến tính mạng.

Y  học  hiện  đại,  với  phương  pháp  dùng  kính  soi  mao  quản  (Capillaroscopy)  phát  hiện được rất rõ màu sắc và hình thái các quai mao quản ở vùng chân móng tay. Bình thường các quai mao quản ở vùng chân móng tay có ít và đáy màu hồng, khi số lượng các quai mao quản tăng nhiều lên, tĩnh mạch dãn to ra, máu lưu thông kém, trở thành ứ đọng, đáy đổi  thành màu xanh tím. Trong trường hợp tim suy kém quá, áp lực tĩnh mạch càng cao, các  quai  mao  mạch  càng  nhiều,  tĩnh  mạch  càng  dãn  rộng,  đáy trở thành tím đen, 1 dấu hiệu  thiếu  oxy trầm trọng của cơ thể (hay gặp trong Suy tim  giai  đoạn 3).

Phương pháp xem Hổ khẩu của YHCT cũng gần giống phương pháp xem quai mao mạch của YHHĐ, nhất là trong trường hợp trẻ bị bệnh nặng.

Thường  trẻ  bị  bệnh  nặng, trong hội chứng suy tim và suy hô hấp đều có chỉ tay hiện rõ suốt  3 đốt ngón tay  (lên  đến  Mệnh  quan)  và đều có màu xanh đen, tím tía là biểu hiện thiếu  oxy  trầm  trọng  trong  máu. Nơi trẻ bệnh nặng, máu ở các tĩnh mạch nông bị trì trệ nên nhìn  rất rõ.

Lưu ý :

a) Khi trẻ vừa được chữa khỏi bệnh (như đang ngạt được cho  thở  oxy  nhân  tạo),  chỉ  tay  rút  từ  trên  xuống  dưới.

Nhiều  trẻ  bệnh  nguy  kịch  khó thở trầm trọng, chỉ tay đã lên đến Mệnh  quan,  nguy  cơ  đến  tính  mạng, khi  được  tích cực cứu chữa, vừa khỏi bệnh, chỉ tay từ Mệnh quan rút xuống Khí quan hoặc Phong quan. Như vậy dấu hiệu RÚT XUỐNG là dấu hiệu rất quan trọng trong việc theo dõi quá trình  trị liệu.

b)  Hiện  tượng  chỉ  tay  có  dấu  hiệu  màu đen, xanh tím... dù đã lên đến Mệnh quan cũng không  phải là dấu hiệu xấu, báo trước cái chết không thể tránh được như các y gia xưa quan niệm. Nên hiểu rằng đó là hiện tượng bệnh trầm trọng, cần chú ý theo dõi và điều trị tích cực. Nếu được điều trị tích cực và thích hợp, vẫn có khả năng cứu sống, nhất là đối với những  phương tiện cấp cứu hiện đại.

c) Phân loại và ý nghĩa  các loại dạng chỉ tay:

Theo  "Báo  Cáo  Tiểu  Nhi  Chỉ  Văn  Đích  Nghiên  Cứu"  đăng  trong  Trung  y  tạp  chí  số 6/1980  trang  43-47  và  theo  BS.  Lê  Nguyên  Khánh,  trong  cuốn  "Kết  hợp  YHCT  với YHHĐ  trong lâm sàng" Nxb Y học 1984, trang 251-252, chỉ tay của trẻ em được phân thành  6 loại :

1. Loại chỉ tay nhỏ và ngắn, không chia nhánh, không uốn khúc, chỉ thấy ở Hổ khẩu và Phong  quan.

2. Loại chỉ tay chạy thẳn: không chia nhánh, không uốn khúc, chạy thẳng lên Khí quan

hoặc Mệnh quan; gồm loại hình  "Mũi  kim treo" và "hình  Giáo mác"

+  Hình  Mũi  kim  treo: Thấy  ở  Khí  quan  biểu  hiện  Can  nhiệt.  Thấy  ở  Mệnh  quan  biểu hiện  "Mạn Tỳ, tức Tỳ khí"  suy sụp, dễ lâm vào tình  trạng hiểm  nghèo.

+ Chỉ tay Hình  Giáo mác: biểu hiện "Đờm  nhiệt"  gây kinh phong, dễ phát sinh  co giật 3. Loại  chỉ  tay  Rõ  nhánh  Đơn  giản :

Chỉ  mới  rẽ  thành  2  nhánh  giống  hình "xương cá" hoặc 2 "móc câu".

+ Hình  Xương cá : ở Phong quan là dấu hiệu kinh  phong. ở Khí quan là dấu hiệu hư lao.

+ Hình  2 Móc câu : biểu hiện Tỳ hư, khí trệ, bị tích trệ do ăn phải đồ ăn sống lạnh.

4. Loại chỉ tay rẽ thành nhiều nhánh : rẽ quá 2 nhánh trở lên, gồm chỉ tay hình chữ Thủy hoặc chữ Song.

+ Hình  chữ Thủy: thấy ở Phong quan, dấu hiệu  kinh phong, đờm ngăn ở ngực, tích tụ.

+ Hình  chữ Song: biểu hiện bị trướng tích do ăn nhằm đồ độc, dễ gây kinh phong.

5. Chỉ tay uốn khúc : uốn khúc nhiều hay ít, to hay nhỏ, có quy luật hoặc không có quy

luật, bao gồm các hình  : "Trùng  rối loạn"  và " Rắn bò đến".

- Chỉ tay hình  trùng  rối loạn : dấu hiệu  bệnh Cam tích, giun  sán.

- Chỉ tay hình rắn bò đến : biểu hiện  tạng phủ có tích trệ về khí, dễ sinh  oẹ khan.

6. Loại chỉ tay giáp vòng : rẽ nhiều nhánh và uốn khúc mạnh thành khép vòng. Gồm các

loại hình  : "Hạt Châu Trôi"  và hình  "Vòng  quanh".

+ Chỉ tay hình Hạt châu trôi: chỉ tay như chấm độ, biểu hiện Tam tiêu nóng làm c

ho trẻ bứt rứt, kêu khóc.

+ Chỉ tay hình  vòng quanh: Thấy ở Phong quan là chứng Cam tích.

Thấy ở Khí quan là sẽ nôn mửa nhiều. Thường thường, chỉ tay của trẻ khỏe mạnh, không thấy rõ, nếu có thấy chỉ thấy ở gần hổ khẩu hoặc ở Phong quan thôi, tuy nhiên,

chỉ thường nhỏ ngắn và không uốn khúc 1 cách rõ ràng, nếu có rẽ nhánh cũng chỉ rẽ nhánh đơn giản thành 2 nhánh mà thôi... Ở trẻ nhỏ, nếu chỉ tay thấy rõ, dù bất cứ ở hình  thức nào thường là trẻ đang bệnh.

Chỉ  tay  rẽ  nhánh  hoặc  uốn  khúc  hay  gặp  trong trường hợp trúng độc nghiêm trọng, đặc biệt có dấu hiệu rối loạn chức năng thần kinh hoặc hô hấp. Trẻ lên cơn động kinh hoặc co giật thường thấy chỉ tay uốn khúc. Trẻ bị sốt cao, chỉ tay xuất hiện càng rõ. Sốt càng cao, hình  chỉ tay càng rẽ nhiều  nhánh  hoặc càng uốn khúc nhiều.

Có thể tạm nhận rằng yếu tố chính tạo nên hình thái chỉ tay ở trẻ nhỏ là do có sự rối loạn  Trung tâm điều hòa thân nhiệt hoặc do có biến đổi trạng thái sinh lý, bệnh lý của các hệ tuần hoàn, hô hấp và dinh dưỡng gây nên.

XEM Ở CHÂN

Theo  các nhà nghiên cứu, chân cũng là 1 bộ phận phản chiếu của cơ thể, nhất là lòng bàn chân. Theo BS, Cerney, Carter và Ingham cơ thể con người được biểu hiện và phản chiếu toàn  bộ  trong  lòng  bàn  chân.  Đầu  ở  ngón  chân  cái,  tạng  phủ  chủ  yếu  ở  lòng  giữa bàn chân.

..  (Về chi tiết, xin xem thêm ở tập Túc châm)... do đó, có thể dựa vào những thay đổi về hình thái, cường độ, điện trở... ở lòng bàn chân để có thể biết được trạng thái bệnh

lý ở cơ quan tạng phủ tương ứng.

-Các  nhà  nghiên  cứu  Mỹ  cho biết : Những người mắc bệnh đái tháo đường thường có vân hình  tròn ở ngón chân thứ 2 và hình  tam giác ở dưới bụng ngón chân cái...

Tóm  lại : phạm  vi  của  vọng  chẩn  rất  lớn,  tuy  nhiên trên lâm sàng, không nhất thiết phải áp dụng cùng lúc tất cả mọi phương pháp vừa đề ra nhưng nếu điều kiện có thể được, nên phối  hợp  vài  phương  pháp khác nhau để việc chẩn đoán mang lại hiệu quả và chính xác hơn.

II. VĂN (NGHE - NGỬI)

Nội  dung  của  Văn  chẩn  (nghe)  là để ý đến những tính chất của các âm thanh tiếng thở, tiếng  ho, tiếng  rên, ngửi  mùi bốc ra từ người  bệnh...

a) Tiếng nói:

- Tiếng  nói nhỏ, hụt hơi, không đủ sức... là dấu hiệu  của hư chứng.

- Tiếng  nói to, vang, mạnh... là dấu hiệu  thực chứng.

- Nói ngọng,  khó nói, hay gặp trong chứng trúng phong.

- Hay nói, nói 1 mình  là dấu hiệu tâm và thận hư.

b) Tiếng thở:

- Thở nhanh,  thở mạnh... là dấu hiệu thực chứng.

- Thở nông, yếu là dấu hiệu  hư chứng.

c) Tiếng ho:

- Ho có đờm là Thấu, ho không đờm là Khái, ho khan là bệnh nội thương...

- Ho kèm theo hắt hơi, sổ mũi...  thường là do cảm phong

hàn.

- Ho từng cơn, có tiếng  rít... là ho gà.

d) Tiếng nấc:

- Nấc liên tục, tiếng  to là thực nhiệt.

- Nấc thưa, tiếng  nhỏ là hư hàn.

- Nơi người bệnh nặng, nếu nấc thường  là bệnh nặng.

e) Ngửi mùi vị :

Cần theo dõi mùi buồng bệnh, giường bệnh, quần áo, da dẻ, hơi thở, các chất thải (Đờm, nước tiểu, phân...).

- Phân tanh hôi, loãng  do Tỳ hư.

- Nước tiểu khai, đục do thấp nhiệt.

- Đờm tanh hôi, màu vàng  xanh hoặc đục là dấu hiệu Phế ung (áp xe phổi).

- BS.  Leisy  Miser  cho  rằng :  "Bằng  khứu  giác  của  mình, tôi  có  thể  phát  hiện  ra được người mắc bệnh đái đường đứng cách tôi 10 bước". Ông đã tổng kết và đưa ra 1 bảng liệt kê hướng dẫn mùi  vị của các loại bệnh.

+ Da của người mắc bệnh Thương hàn có mùi vị của bánh mì nướng, mùi của bệnh hoại thư...Ông cho rằng bệnh đái đường và bệnh gan hoàn toàn có thể căn cứ vào hô hấp để phán đoán...

III. VẤN (HỎI)

Hỏi người  bệnh  hoặc  thân nhân người bệnh là 1 yếu tố hết sức quan trọng để cung cấp thêm cho thầy thuốc những chi tiết không thể biết được về tiền sử bệnh, diễn tiến bệnh từ lúc khởi bệnh đến lúc thăm khám. Hỏi sẽ giúp thầy thuốc bổ sung những khái niệm đã có, làm sáng tỏ những nghi ngờ đã có khi nhìn  và nghe.

Những vấn đề cần hỏi:

- Quê quán và chỗ ở lâu nhất của người bệnh (để ý đến chi tiết địa lý và phong thổ

gây bệnh).

- Sinh hoạt, tập quán, nghề nghiệp.

- Tinh  thần và hoàn cảnh sống.

- Tiền sử bệnh (trước đây đã mắc bệnh gì...).

- Diễn tiến của bệnh từ lúc phát đến khi đến khám.

Đi vào chi tiết cần hỏi:

a) Thân nhiệt :

Có sợ lạnh,  phát sốt, gai rét gì không?

+ Sợ lạnh:

- Mới mắc mà sợ lạnh  thường  là do cảm phong hàn.

- Bệnh lâu ngày, sợ lạnh, tay chân lạnh là dấu hiệu  dương hư.

+ Phát sốt:

-Phát sốt có quy luật hoặc sốt càng ngày càng tăng gọi là Triều nhiệt.

- Nóng nhức trong xương  gọi là "Cốt chưng lao nhiệt"

- Lòng bàn tay chân nóng, gò má đỏ là sốt do âm hư.

- Sốt gai rét thường  do ngoại cảm.

- Lúc  sốt  lúc  rét  (sốt  rét  có  cữ  nhất  định)  là  chứng bán biểu bán lý thuộc thiếu dương chứng, sốt rét...

+ Mồ hôi:

- Sợ lạnh, phát sốt có mồ hôi là biểu thực, không có mồ hôi là biểu hư.

- Sốt cao, ra mồ hôi nhiều  là lý nhiệt.

- Ngủ thì đổ mồ hôi (mồ hôi trộm - Đạo hãn) thường do âm hư.

- Lúc nào cũng ra mồ hôi (tự hãn), sau khi ra mồ hôi thấy lạnh  là dương hư khí hư.

- Toàn thân ra mồ hôi nhiều mà chân tay lạnh là dấu hiệu thoát dương (vong dương), trụy mạch.

b. Đau :

- Đau  vùng  đỉnh  đầu  lan  xuống  gáy  hoặc  nửa  bên đầu, liên hệ đến kinh Thái dương và Thiếu  dương...

- Ngực sườn đau, đầy tức, mắt đau, liên  hệ đến Can và kinh Thiếu  dương.

- Vùng thượng  vị đau, liên hệ đến Tỳ, bao tử đau...

Tùy vùng  đau tương ứng với tạng phủ nào mà suy ra bệnh ở tạng phủ đó.

- Bệnh mới, đau nhiều, ấn vào đau thêm, thuộc Thực chứng.

- Bệnh lâu, đau ê ẩm, ấn vào đỡ đau, thuộc hư chứng.

- Đau dữ dội 1 nơi là do huyết ứ ...

c. Ăn uống:

- Miệng  khát,  thích  uống  nước  là  thực  nhiệt,  khát  nhưng  không  thích  uống  nước  là  hư hàn, thấp.

- Bệnh mới, không thèm ăn là do tích trệ. Bệnh cũ lâu ngày mà biếng ăn là do Tỳ vị suy

kém.

- Ăn nhiều  mau đói là Hỏa của Vị mạnh.  Đói mà không muốn  ăn là Vị âm hư.

- Miệng đắng là Hỏa của Vị mạnh, thuộc nhiệt, miệng hôi là do hỏa của vị đốt bên trong,

miệng  nhạt là do đàm trọc...

d. Ngủ:

- Mất ngủ, hồi hộp, ngủ hay mê là do tâm huyết không đủ.

- Ngủ hay vật vã, trằn trọc lâu không ngủ là do âm hư hỏa vượng.

e. Đại tiểu tiện:

- Đại tiện táo, khó, thường do thực nhiệt hoặc do khí hư, âm hư, huyết hư (hay gặp nơi

người  phụ nữ mới  sinh).

- Đại tiện lỏng  :

+ Phân đặc mùi  thối : lý nhiệt  tích trệ.

+ Phân loãng,  ít thối do Tỳ vị hư hàn.

+ Tiêu chảy lúc sáng sớm (ngũ canh tiết tả) do thận hư.

- Nước tiểu ít, nước tiểu màu vàng, nước tiểu màu đỏ do thực nhiệt, tiểu nhiều, tiểu trong và dài, do hư hàn, tiểu luôn,  tiểu gắt, tiểu đau là do thấp nhiệt...

f. Kinh nguyệt

- Khí hư (Huyết Trắng):

- Kinh trước kỳ, màu kinh đỏ tươi, số lượng nhiều, do huyết nhiệt, sắc lợt, lượng ít, bụng đau sau khi hành kinh thường  do khí huyết thiếu.

- Kinh sau kỳ, sắc thẫm, có cục, bụng đau trước khi hành kinh, do ứ huyết, hàn hoặc do

huyết  hư.

- Rong kinh, rong huyết, sắc tím đen, thành  khối, do can thận hư hoặc Tỳ hư.

- Khí hư lượng nhiều, loãng,do Tỳ thận hư hàn, khí hư nhiều, màu vàng hôi, ngứa do thấp nhiệt.

4. THIẾT

Thiết là cắt mổ xẻ để phân tích. Đây là khâu cuối cùng trong tứ chẩn, nhằm tập hợp đầy đủ  các  triệu  chứng, giúp cho việc chẩn đoán bệnh được toàn diện. Gồm có 2 phần:sờ

nắn (Án chẩn) và xem mạch (Mạch chẩn).

I. SỜ NẮN (Án chẩn, Xúc chẩn)

Sờ nắn để tìm xem vị trí và tính  chất của bệnh, thường  xem tại da, thịt,  tay chân và bụng.

1. Xem da thịt

Hàn nhiệt.

+ Sờ vào nóng ngay, càng lâu càng nóng là thực chứng, biểu nhiệt.

+ Sờ vào nóng, ấn sâu vào mát : trong hư ngoài  thực.

+ Lòng bàn tay nóng,  cảm thấy da nóng bừng nhưng không sốt, do hư nhiệt.

+ Da khô táo : Tân dịch giảm, ứ huyết.

+ Phù : ấn mạnh vết lõm còn là thủy  thũng,  vết lõm nổi đầy ngay là khí thũng.

- Da thuộc phế (phế chủ bì mao) do đó nếu lỗ chân lông  thưa, hở dễ bị ngoại  cảm.

- Mô, cơ nhục, thuộc tỳ (tỳ chủ cơ nhục).

+ Da thịt săn chắc, vừa phải là khí huyết  sung mãn.

+ Da thịt nhão là là tỳ vị hư hàn.

+ Da thịt quá dầy là hay bị chứng thấp (do tỳ vị tích nhiệt  : Thấp nhiệt).

-Gân cơ do can đởm phụ trách (can chủ cân), gân cơ cứng, căng chắc như dây đàn do tà khí xâm nhập vào huyết  mạch gây ứ huyết.

- Thận chủ xương, xem độ cứng mềm của xương để biết chức năng của thận.

- Ấn tìm cảm giác đau :

+ Ấn mạnh vào đau tăng là thực chứng.

+ Ấn mạnh vào đau giảm  là hư chứng.

- Đau chói là thực chứng hoặc ứ huyết.

- Đau ê ẩm do hư chứng hoặc hư hàn.

2. Sờ tay chân :

- Tay chân lạnh,  sợ lạnh là dương hư.

- Tay chân  nóng  là  nhiệt  thịnh.

- Nóng ở mu bàn tay là Biểu nhiệt,  ngoại  cảm. Nóng trong lòng bàn tay là nội thương.

3. Xem bụng (Phúc Chẩn)

Tùy vị trí liên  hệ với tạng phủ để dễ chẩn đoán.

Bụng là 1 phần cơ thể chứa đựng nhiều cơ quan phức tạp. Muốn chẩn đoán, cần biết qua vị trí các cơ quan trong bụng :

- Phần trên bụng, phía tay phải có gan, ống dẫn mật, túi mật.

- Phần trên bụng, phía tay trái có lách, bao tử, tụy tạng, kết tràng ngang.

- Phần dưới bụng, phía tay trái là ruột già, trực tràng.

- Phần bụng dưới của phụ nữ là tử cung, buồng trứng, dây chằng,  bộ phận sinh dục.

- Phần dưới bụng : bọng đái, thận.

- Khi chẩn đoán cần lưu ý :

- Thích  án (xoa bóp) thuộc hư, không thích  xoa bóp (cự án) thuộc thực.

- Bụng có khối, rắn, đau, không di chuyển  thường là khối giun,  ứ huyết.

- Lúc có lúc tan, ấn vào không thấy hình  thể, không ở 1 nơi nhất định  thường do khí trệ.

- Trong  việc  châm cứu, việc thăm khám bằng cách sờ nắn rất quan trọng đặc biệt trong  việc tìm các A thị huyệt hoặc các huyệt chẩn đoán để từ đó chẩn đoán được các đường

kinh bệnh và chọn huyệt châm cứu có kết quả.

IV. THIẾT  CHẨN

1. Đại Cương

- Xem mạch để biết được tình trạng thịnh suy của các tạng phủ, vị trí nông sâu, tính chất

hàn nhiệt  của bệnh.

- Mạch là 1 thực thể của âm dương là gợn sóng của khí huyết.

- Muốn chẩn mạch, phải dùng trực giác và lý trí phối hợp để nhận định thể và trạng của mạch.

- Thể và trạng của mạch gồm :

a) Vị trí : nông sâu

b) Cường độ : mạnh yếu.

c) Tốc độ : Nhanh chậm.

d) Nhịp độ : đều và không đều.

e) Thể tích : lớn nhỏ.

f)  Hình  thái : tròn dẹp.

2. Nơi Xem Mạch

Tại động mạch quay ở tay, động mạch ở đùi, động mạch chày sau, động mạch mu chân,  động  mạch  Thái  dương  nhưng  vị  trí  thường  dùng  nhất  là  động  mạch  tay  quay,  ở  Thốn khẩu.

Mạch được chia làm 3 bộ : Thốn - Quan -Xích.

Độ dài từ ngấn khớp cánh tay đến bộ "Quan"  là 1 Xích tức là 1 thước ta.

Độ dài từ bộ "Quan"  đến ngấn ngoài  cổ tay là 1 Thốn, tức 1 tấc ta.

Bộ Quan tương đương với mỏm chẩm xương trụ kéo ngang, bộ Thốn ở trên và bộ Xích ở dưới bộ Quan.

Mạch được chia ra như sau :

BỘ MẠCH TAY TRÁI (HUYẾT) TAY PHẢI (KHÍ)
THỐN Tâm - Tiểu trường Phế - Đại trường
QUAN Can - Đởm Tỳ - Vị
XÍCH Thận âm - Bàng Quang Thận dương (Mệnh môn) - Tam tiêu

- Cách Xem Mạch

Để người bệnh nằm hoặc ngồi ở tư thế thoải mái, người bệnh để ngửa cổ tay  và  bàn  tay, thầy thuốc dùng 3 ngón tay đặt vào 3 bộ vị : Thốn, Quan, Xích. Đầu ngón tay giữa đặt lên trên động mạch tay quay ở cổ tay người bệnh, tại vị trí phía trong lồi xương quay, đó là bộ Quan, đặt tiếp lên động mạch quay 2 đầu ngón tay kề ngay bên ngón giữa. 1 đầu ngón tay tại vị trí ở ngay trên bộ Quan nhìn về phía lòng bàn tay gọi là bộ Thốn, ngón tay khác đặt tại vị trí ở bên dưới bộ Quan, nhìn  về phía khuỷ tay, gọi là bộ Xích.

Ở trẻ nhỏ dưới 7 - 8 tuổi, chỉ cần dùng 1 ngón tay, đè lên động mạch của 3 bộ mạch rồi lăn  qua, lăn lại để xem mạch cũng được.

Tay phải của thầy thuốc thì xem tay trái người bệnh và ngược lại, tay trái thầy thuốc xem  tay phải người  bệnh.

Tùy  theo  hình  thể  người  bệnh mà đặt các ngón tay vào các bộ vị cho thích hợp : người  cao, béo đặt các ngón tay khít vào nhau. Nơi người ốm, lùn, các ngón tay thầy thuốc đặt thưa.

Sau đó, ấn nhẹ, ấn trung bình hoặc ấn mạnh để tìm hiểu sự rối loạn bệnh lý, biểu hiện qua mạch mà chẩn đoán.

Người bệnh nên nghỉ ngơi 10 - 15 phút trước khi xem mạch, nằm hay ngồi thoải mái, xem mạch vào buổi sáng sớm, lúc mạch chưa bị thay đổi thì tốt nhất, tuy nhiên không nên câu nệ, tiện lúc nào, xem lúc đó cũng được.

Xem  mạch  có  2  loại  :  xem  chung  cả  3  bộ  (tổng  khám),  để  nhận  định  tình  hình  chung (thường  được  dùng nhất) và xem riêng từng bộ phận (đơn khám) để đánh giá riêng từng cơ quan tạng phủ).

4. Xem Mạch Nam Tả Nữ Hữu

Theo  cách  phân  chia  âm,  dương,  bên  trái,  người  nam  thuộc  dương,  bên  phải người nữ, thuộc âm. Vì thế nam nên xem bên trái trước còn nữ nên xem bên phải trước và trái sau.
Xem mạch người nam, tay trái, mạch ở tay phải mạnh hơn trái là dương nhiều hơn âm, là thuận.  Ngược  lại,  tay  phải mạnh hơn tay trái là âm nhiều hơn dương, không thuận tức là người  nam đó bị dương suy âm thịnh.

Xem mạch người nữ, tay phải mạnh hơn tay trái là âm nhiều hơn dương, là thuận. Ngược lại, tay trái mạnh hơn tay phải là dương nhiều hơn âm, không thuận, tức là người nữ đó bị âm suy, dương thịnh.
Như vậy, việc xem Nam tả Nữ hữu, chủ yếu chỉ để xem âm dương thuận hay nghịch đối với  người  đó,  chứ không nhất thiết phải theo đúng quy củ, mà tiện như thế nào, thì xem thế ấy.
Điều chủ yếu trong câu "Nam tả Nữ hữu" là chú ý vào 2 bộ Xích của cả Nam lẫn Nữ.

- "Nam dĩ tả xích nhị tàng tinh hoặc Nam dĩ tả xích vi tinh phủ" (Nam tàng trữ tinh khí ở  bộ  Xích  tay  trái).  Xem  mạch  người  nam,  nếu  bộ Xích tay trái hòa hoãn, có lực thì biết người  ấy  tinh  khí  dư  dật,  khỏe  mạnh.  Nếu  bộ  xích  tay  trái  Trầm,  Vi,  vô lực thì không khỏe.

- "Nữ dĩ hữu xích nhi hộ bào hoặc nữ dĩ hữu xích vi huyết hải" (Nữ buộc dây bào thai và chứa huyết ở bộ xích tay phải). Xem mạch người nữ, nếu bộ xích tay phải hòa hoãn, có lực thì biết tử cung và huyết của họ tốt. Nếu bộ xích tay phải Trầm, Vi, vô lực thì không khỏe.

5. Mạch và Ngũ hành

Dùng  Ngũ Hành áp dụng vào mạch ta có :

Bên trái : Thận Thủy  (Bộ Xích)  sinh Can Mộc (Quan), Can Mộc sinh  Tâm Hỏa (Thốn).

Bên  phải  :  Mệnh  Môn  (Thận  dương - bộ  Xích)  sinh  Tỳ  Thổ  (Quan),  Tỳ  Thổ  sinh Phế Kim (Thốn).

6. Mạch Và Khí Huyết

Xét về khí huyết với Mạch ta có :

Bên  trái  thuộc  huyết  :  Thận,  Can  và  Tâm.  Thận  sinh huyết. Tỳ thống huyết và Tâm chủ huyết  như thế, bên trái liên  hệ với huyết.

Bên  phải  gồm  Phế,  Tỳ,  Mệnh  môn,  Tam  tiêu, Phế chủ khí, Tỳ là Trung khí Tam tiêu là đường dẫn đến Nguyên  khí, do đó bên phải liên  hệ với khí.

7. Mạch Và Tạng Phủ

Mỗi tạng phủ đều có 1 mạch riêng,  theo đặc tính  mà tạng phủ đó biểu lộ :

- Tạng Tâm chủ Hỏa, Hỏa thường bùng lên như ngọn lửa bùng lên, vì thế mạch của Tâm là mạch Hồng.

- Tạng Can : tính của Can là cang cường, thẳng, giống như dây đàn, dây  cung căng cứng, vì thế mạch của Can là mạch Huyền.

- Tạng  Tỳ,  là  trung  tâm,  là nơi vận chuyển điều hòa cho cơ thể, vì thế, mạch của Tỳ là mạch Hoãn.

- Tạng Phế: Phế chủ sự buồn phiền, buồn phiền thì ngừng trệ lại, do đó, mạch của Phế là mạch Sáp.

- Tạng Thận: Thận chủ xương, Thận có vị mặn, đi xuống, do đó, mạch của Thận là mạch Trầm.

8. Mạch Và Mùa

Mỗi 1 mùa  ứng  với  1 tạng nhất định dù mùa đó chi phối toàn thể các mạch khác trong suốt mùa đó.

Mùa Xuâ : Cây cối xanh tốt, ứng với màu của Can do đó có mạch Huyền.

Mùa Hè : Cây cối lớn lên, sức nóng của mùa hè bùng lên, thiêu đốt vạn vật như lửa bùng lên, do đó mạch của mùa Hè là mạch Hồng.

Mùa Thu : Mọi vật bắt đầu thu lại, lá cây khô đi và rơi rụng giống như lông, do đó mạch

của mùa Thu là mạch Mao.

Mùa  Đông  :  Mọi  vật  thu  giữ  lại,  tàng  trữ  tất  cả những khả năng mạnh mẽ của m1h để sống qua cái lạnh,  vì thế mạch của mùa Đông là mạch Thạch.

Tứ qúy : Tứ qúy là chuyển tiếp giữa các mùa,do đó thường mang đặc tính ôn hòa, vì thế, mạch của Tứ qúy là mạch Hoãn.Từ những  tương ứng của mạch đối với mùa, có thể suy rộng ra :

- Mộc  sinh Hỏa, Hỏa  thuộc  tạng Tâm, chính  ra mạch của Tâm là mạch Hồng, nay bắt

thấy mạch Tâm là Huyền thì có thể suy đoán bệnh tuy ở Tâm nhưng do Mộc sinh nên tức là do Phong gây nên, bệnh ở tạng Mẹ truyền  sang

- Thủy khắc Hỏa, bệnh ở Tâm, bắt được mạch Trầm của Thận, là Thủy khắc Hỏa, bệnh

nặng hơn...

9. Mạch Và Nguyên Nhân Gây Bệnh

a) Nguyên nhân ngoài

Hàn thương Thận vì vậy có mạch Khẩn.

Thử thương  Tâm vì vậy có mạch Hư.

Táo thương Phế vì vậy có mạch Sáp.

Thấp thương Tỳ vì vậy có mạch Nhu.

Phong thương  Can vì vậy có mạch Phù.

Nhiệt thương Tâm vì vậy có mạch Nhược.

b) Nguyên nhân trong (Thất tình) :

Hỷ thương Tâm gây nên mạch Hư.

Tư thương  Tỳ gây nên mạch Kết.

Ưu thương  Phế gây nên mạch Sáp.

Nộ thương Can gây nên mạch Nhu.

Khủng  thương Thận gây nên mạch Trầm.

Kinh thương  Đởm gây nên mạch Động.

Bi thương  Bào lạc gây nên mạch Khẩn.

10. Mạch Thai

Giai đoạn thai mới thành hình, rất khó biểu hiện nơi mạch, nhưng từ 3 tháng trở lên mạch thai biểu hiện rất rõ, có thể căn cứ trên mạch để không những đoán biết tuổi thai mà còn biết được thai tượng hình  trai hay gái. Đây là 1 điểm khá độc đáo của ngành  YHCT.

Thai 3 tháng, thường chú trọng vào 2 bộ mạch ở Tâm và Thận tức Tả Thốn và Tả Xích.

Tâm chủ huyết, Thận chủ bào thai, bào thai sống được là nhờ tinh huyết nuôi dưỡng, do đó cần để ý đến 2 tạng này.

Khi có thai, thường  mạch  ở  2  tạng này nhảy mạnh hơn các mạch ở tạng khác, Thận và Tâm là Tạng, lại cùng thuộc kinh Thiếu âm, do đó liên hệ đến huyết. Mạch đập mạnh là biểu  hiện  của  dương. Như  vậy  mạch 2  bộ Tâm và Thận đập mạnh là  dấu hiệu  huyết vượng. Bào thai sống nhờ huyết nên huyết  vượng là dấu có thai.

III. CÁC LOẠI MẠCH

Hiện nay, trên thế giới, các nhà nghiên cứu Y học hiện đại, trong tinh thần nghiên cứu kết hợp YHCT và YHHĐ, đã cố gắng tìm hiểu mạch qua các phương pháp diễn tả mạch hiện đại.  Trong  tài  liệu  này,  chúng  tôi  xin  giới  thiệu  1  số  công  trình  nghiên  cứu  đó,  để  giúp làm  sáng  tỏ  vấn  đề  về  mạch  là  1  trong  số  những  vấn đề gây nhiều hiểu lầm nhất trong giới  thầy thuốc.

Dụng cụ  biểu diễn mạch là máy ĐiệnTâm  cơ Thanh(Electro Cardiopho Mecanograph).

Xin xem thêm trong "Trung Y Biện Chứng Luận Trị" của Ban cải cách giáo dục học viện

Trung Y Quảng Đông, 1976 và "Kết hợp YHCT và YHHĐ trong lâm sàng" củ a  BS.  Lê

Nguyên  Khánh, Nxb Y học 1982.

1. MẠCH BÌNH THƯỜNG

Là  mạch  có  đập ở 2 bộ, không Phù không Trầm. Theo YHCT, mạch bình thường trung bình  4-5 lần đếm trong 1 hơi thở, tiếng chuyên môn gọi là "Tức", 1 Tức có 4 - 5 chí, được tính như sau : Hít 1 hơi và o (thở vào) rồi từ từ thở ra,, vừa thở ra vừa đếm 1, 2, 3... Đếm đến đâu mà hết thở thì được coi là 1 Tức.

Theo  YHHĐ,  tương  đương  với  70 - 80  lần  đập  trong  1  phút,  nơi người lớn. Nơi trẻ em, mạch thường đập nhanh  hơn 120 - 140/ phút.

Dưới đây chúng  tôi giới  thiệu  các loại mạch thường dùng trong YHCT.

MẠCH CÁCH

Hình Tượng Mạch CÁCH

Sách Trung Y Học Khái Luận ghi: "Mạch Cách... lớn mà Huyền, Cấp, đặt nhẹ tay thấy

ngay, ấn xuống  thì không thấy, như ấn tay vào da trống, ngoài  căng trong rỗng".

Sách Mạch Chẩn ghi lại hình  vẽ biểu thị mạch Cách:

Sách Mạch Học Giảng Nghĩa ghi: "Mạch cách chủ biểu hàn, trung hư, xẩy thai, lậu hạ,

đàn ông thì mất tinh,  huyết  ".

Tả Thốn Cách

Tâm hư, đau

Hữu Thốn Cách

Phế hư, khí ủng trệ

Tả Quan Cách

Sán hà

Hữu Quan Cách

Tỳ hư, dạ dày đau

Tả Xích Cách

Di tinh

Hữu Xích Cách

Xảy thai, lậu tạ

MẠCH ĐẠI

Hình Tượng Mạch ĐẠI Sách Trung  Y  Chẩn  Đoán  Học ghi : "Mạch  Đại,  rộng  và  to  khác  thường,  chỉ  không  cuồn cuộn như mạch Hồng mà thôi".

- Sách Mạch Chẩn biểu diễn hình  vẽ mạch Đại: Mạch ĐẠI Chủ Bệnh Sách  Mạch  Học  Giảng  Nghĩa  ghi:  "Mạch  Đại  chủ  tà  nhiệt  cảm  nặng,  thấp  nhiệt,  tích khí, ho suyễn,  trường tiết, khí đưa nghịch  lên làm mặt bị phù, hư lao nội thương".

Tả Thốn Đại

Tâm phiền, phong nhiệt, kinh sợ

Hữu Thốn Đại

Khí nghịch, mặt phù, ho suyễn.

Tả Quan Đại

Sán khí, phong huyễn

Hữu Quan Đại

Tích khí, vị thực, bụng đầy

Tả Xích Đại

Thận tý

Hữu Xích Đại

Tiểu đỏ, đại tiện khó

MẠCH ĐỢI

Hình Tượng Mạch ĐỢI

Sách Mạch  Học Giảng Nghĩa ghi: "Đại có nghĩa là thay đổi, mạch bình thường mà bất

thình  lình  thấy Nhuyễn,  Nhược hoặc lúc Sác lúc sơ, đều gọi là mạch Đại ( Đợi )".

Sách Mạch Chẩn biểu thị hình  vẽ mạch Đại:

Mạch ĐỢI Chủ Bệnh

Sách  Mạch  Học  Giảng  Nghĩa ghi:  "Mạch  Đợi chủ tạng khí suy yếu, Tỳ hư hàn không ăn được, nôn mửa, tiêu chảy, bụng đau".

Tả Thốn ĐỢI
Hồi hộp.
Hữu Thốn ĐỢI
Khí suy.
Tả Quan ĐỢI
Liên sườn đau dữ dội.
Hữu Quan ĐỢI
Tỳ suy, bụng trướng.
Tả Xích ĐỢI
Chân lạnh.
Hữu Xích ĐỢI
Dương tuyệt.

MẠCH ĐOẢN

Hình Tượng Mạch ĐOẢN

Sách Trung Y Chẩn  Đoán Học  Giảng Nghĩa ghi:  "Mạch  Đoản, đầu  đuôi đều ngắn, không cùng bộ vị".

Mạch ĐOẢN Chủ Bệnh

Sách Mạch Học Giảng Nghĩa ghi: "Mạch Đoản chủ hơi thở ngắn, huyết hư, phế hư, ăn không tiêu, mồ hôi ra nhiều,  dương khí bị vong".

Hữu Thốn ĐOẢN
Phế hư, đầu đau.

 
Tả Thốn ĐOẢN
Tâm thần, bất túc.

 
Hữu Quan ĐOẢN
Vị quản đầy, tức, không thông.
Tả Quan ĐOẢN
Phế khí, tổn thương.

 
Hữu Xích ĐOẢN
Chân dương suy yếu.
Tả Xích ĐOẢN
Bụng  dưới đau.

MẠCH HOÃN

Hình Tượng Mạch HOÃN

Sách Trung  Y  Chẩn  Đoán  Học  Giảng  Nghĩa  ghi:  "Mạch  Hoãn, 1 hơi thở 4 chí, đi lại khoan  thai".

Mạch HOÃN Chủ Bệnh

Sách  Mạch  Học  Giảng  Nghĩa ghi:  "Mạch  Hoãn  chủ  về  phong  thấp,  trúng  phong,  đau nhức, hoa mắt, chóng mặt, hư nhức, ung nhọt, tiểu khó".

Tả Thốn HOÃN
Tâm khí không đủ.
Hữu Thốn HOÃN
Thương  phong.
Tả Quan HOÃN
Can hư.

 
Hữu Quan HOÃN
Tỳ thấp.
Tả Xích HOÃN
Âm hư.
Hữu Xích HOÃN
Dương suy.

MẠCH HOẠT

Hình Tượng Mạch HOẠT

Hoạt là trơn tru, như những  hạt đậu lăn dưới tay.

Sách Mạch Chẩn ghi lại hình  vẽ biểu diễn mạch Hoạt như sau
 

 
Quan tâm  
9

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Cà Ri Ấn Độ - Murraya Koenigii
Toàn bộ lá, thân, quả, hạt và rễ Cây Cà Ri Ấn Độ (Murraya Koenigii) đều được sử dụng làm gia vị và làm thuốc. Ở Ấn Độ, người ta trồng chủ yếu để lấy lá, phần lớn để chế bột cari và làm thuốc trị rối loạn tiêu...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.