Thứ năm, 24/01/2019 3:27 AM

Cibacen - Trị Cao Huyết Áp, Suy Tim Sung Huyết Và Suy Thận

Thứ sáu, 11/01/2019 1:37 PM

Cibacen là thuốc điều trị cao huyết áp, suy tim sung huyết và suy thận mãn tiến triển. Để biết thêm thông tin về cách sử dụng thuốc này thì mời bạn theo dõi bài viết dưới đây.

Cibacen - Trị Cao Huyết Áp, Suy Tim Sung Huyết Và Suy Thận
Cibacen - Trị Cao Huyết Áp, Suy Tim Sung Huyết Và Suy Thận

CHỈ ĐỊNH

- Suy tim sung huyết : Cibacen được chỉ định như trị liệu hỗ trợ cho bệnh nhân bị suy tim sung huyết không có đáp ứng tốt với digitalis và/hoặc với thuốc lợi tiểu (NYHA class II và IV).

- Suy thận mãn tiến triển (độ thanh thải creatinin từ 30-60 ml/phút).

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

- Quá mẫn cảm với benazepril.

- Có tiền sử phù mạch.

THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

Trong suy thận:

Trường hợp suy thận nặng (thanh thải creatinin < 30 ml/phút), nên chọn liều thấp nhất so với người có chức năng thận bình thường.

Như với các thuốc ức chế men chuyển khác, cần phải đặc biệt lưu ý với những bệnh nhân bị hẹp động mạch thận. Đã quan sát được tăng nitơ và creatinin huyết ở một số bệnh nhân được điều trị bằng Cibacen. Các tác động này có thể hồi phục được khi ngưng dùng Cibacen hay thuốc lợi tiểu hoặc ngưng cả hai. Nên kiểm tra chức năng thận thường xuyên trong vài tuần đầu tiên điều trị và ở các khoảng cách đều đặn sau đó cho các bệnh nhân có hẹp động mạch thận và bệnh thận

Thẩm tách máu:

Các phản ứng giống phản vệ được quan sát ở bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển khi làm thẩm tách với màng polyacrylonitrile có tính thấm cao (AN69) do đó khuyến cáo không nên dùng các màng loại này khi làm thẩm tách cho những bệnh nhân trên.

Phẫu thuật / Gây mê:

Trước khi phẫu thuật, bệnh nhân nên thông báo cho nhân viên gây mê biết là họ được điều trị với thuốc ức chế men chuyển. Trong gây mê với các tác nhân gây hạ áp, thuốc ức chế men chuyển có thể ngăn chặn hình thành angiotensin II thứ phát trước sự phóng thích bồi hoàn renin. Nếu xảy ra hạ huyết áp và nghi là do cơ chế này, nên điều chỉnh bằng cách tăng thể tích máu.

Tăng kali máu:

Khi điều trị với thuốc ức chế men chuyển, đã thấy nồng độ kali trong máu tăng trong vài trường hợp hiếm. Không bao giờ cần ngưng Cibacen vì tăng kali máu đã được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng về cao huyết áp. Suy thận, tiểu đường và dùng đồng thời với các thuốc hạ kali huyết có thể là những yếu tố nguy cơ để xảy ra tăng kali huyết (xem mục "Tương tác thuốc").

Xơ động mạch chủ và xơ van hai lá:

Như với các thuốc giãn mạch khác, nên đặc biệt thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân bị xơ động mạch chủ và xơ van hai lá.

Người già:

Cibacen được đánh giá là hữu hiệu và dung nạp tốt ở người già cũng như người trẻ. Tuy nhiên, như với tất cả các thuốc trị cao huyết áp, cũng nên thận trọng khi điều trị cho người già cũng như khi bệnh nhân bị suy tim hay xơ vữa mạch vành, mạch máu não. Tụt huyết áp đột ngột có thể làm giảm cung cấp máu đến các cơ quan quan trọng ở những mức độ không thích hợp.

Phù mạch:

Phù mạch đã được ghi nhận ở bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển. Phù mặt hay môi xảy ra trong khi điều trị có thể biến mất sau khi ngưng thuốc hay thậm chí khi điều trị tiếp tục. Trong những trường hợp như vậy nên ngưng Cibacen ngay lập tức, theo dõi sát bệnh nhân cho đến khi hết phù. Phù thanh quản hay choáng có thể gây tử vong. Nếu phù lan đến luỡi, thanh môn hay thanh quản có thể làm tắc nghẽn đường thở thì nên có điều trị thích hợp ngay lập tức như tiêm dung dịch adrenaline dưới da 1/1000 (0,3-0,5 ml).

Hạ huyết áp:

Hiếm khi có giảm quá mức huyết áp động mạch (0,4%) ở những bệnh nhân bị cao huyết áp không có biến chứng và thường là không có triệu chứng. Tuy nhiên tụt huyết áp có thể xảy ra khi đang điều trị thuốc ức chế men chuyển ở bệnh nhân bị mất muối và nước nặng như dùng lợi tiểu liều cao (trong suy tim nặng) hay sau thẩm tách máu. Có thể giảm nguy cơ này bằng cách ngưng tạm thời thuốc lợi tiểu vài ngày trước khi điều trị với Cibacen hoặc dùng các biện pháp khác để ổn định thể tích máu. Nếu có nguy cơ tụt huyết áp quá mức như ở bệnh nhân suy tim thì bệnh nhân phải được đặc biệt theo dõi sau khi dùng liều đầu tiên Cibacen. Có thể ngưng theo dõi khi huyết áp đã ổn định. Nếu xảy ra tụt huyết áp, đặt bệnh nhân nằm và nếu cần, cho truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Nếu tụt huyết áp chỉ tạm thời thì không chống chỉ định với thuốc này. Nói chung vẫn có thể tiếp tục điều trị bình thường sau khi đã nâng huyết áp bằng cách tăng thể tích tuần hoàn.

Mất bạch cầu hạt/giảm bạch cầu trung tính:

Một số trường hợp mất bạch cầu hạt và suy tủy đã được ghi khi điều trị với các thuốc ức chế men chuyển. Các tác dụng phụ này thường xảy ra ở những bệnh nhân suy thận, nhất là khi có kèm theo bệnh mạch máu do collagen. Như với các thuốc ức chế men chuyển khác, cần theo dõi định kỳ công thức bạch cầu ở những bệnh nhân bị bệnh collagen ở mạch máu hoặc ở thận.

THẬN TRỌNG

Lái xe và điều khiển máy:

Các triệu chứng thần kinh trung ương hiếm khi có khi dùng Cibacen. Như với các thuốc trị cao huyết áp khác, phải nhắc nhở bệnh nhân về những nguy cơ này khi lái xe hay điều khiển máy móc.

Lúc có thai

Không được kê toa Cibacen cho phụ nữ có thai.

Dùng Cibacen trong 3 tháng đầu tiên và 3 tháng thứ hai của thai kỳ có thể gây các tổn thương ở thận và dị dạng mặt và sọ của phôi. Cũng có thể có nguy cơ tụt huyết áp của thai nhi. Hiện tượng cân nặng thấp, giảm tưới máu thận và vô niệu đã quan sát được ở một vài trẻ sơ sinh. Thiểu ối đã có báo cáo xảy ra ở mẹ dẫn đến suy chức năng thận của thai nhi. Tất cả trẻ sơ sinh mà có thấy Cibacen trong tử cung trước đó phải được kiểm tra chặt chẽ về cao kali máu, lượng nước tiểu bình thường và huyết áp. Nếu cần thiết, dùng các biện pháp thích hợp như bù nước hoặc thẩm tách máu để đào thải thuốc ức chế men chuyển khỏi tuần hoàn.

Lúc nuôi con bú

Benazepril và benazeprilate có bài tiết qua sữa mẹ, nhưng nồng độ tối đa chỉ bằng 0,3% của nồng độ trong huyết tương. Phân đoạn benazeprilate đạt được trong đại tuần hoàn của trẻ nhũ nhi không đáng kể. Tuy nhiên, Cibacen không được khuyến cáo dùng cho phụ nữ cho con bú mặc dù những tác dụng phụ trên trẻ bú sữa mẹ không thực sự có.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Cibacen được dùng phối hợp với các thuốc chẹn bêta, thuốc đối kháng canxi, cimetidin, thuốc lợi tiểu, digoxin, hydralazine, warfarin, acenocoumarol, acid acetylsalicylic và naproxen mà không có dấu hiệu tương tác bất lợi trên lâm sàng. Những bệnh nhân đã dùng thuốc lợi tiểu hoặc bị mất nước nặng có thể bị tụt huyết áp quá mức sau khi dùng thuốc ức chế men chuyển. Có thể giảm hiện tượng bằng cách ngưng thuốc lợi tiểu 2-3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với Cibacen.

Tác dụng hạ huyết áp của Cibacen được tăng cường bởi các tác nhân làm tăng hoạt động của renin trong huyết tương hay gây biến đổi cân bằng natri (như thuốc lợi tiểu).

Điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu giữ kali (như spironolactone, triamterene, amiloride...), thuốc có kali hay muối thì không khuyến cáo dùng Cibacen trong phối hợp với thuốc ức chế men chuyển có thể gây tăng đáng kể kali máu. Nếu cần thiết phải phối hợp thì phải kiểm tra cẩn thận nồng độ kali/huyết thanh thường xuyên.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Cao huyết áp:

Liều khuyến cáo ban đầu cho bệnh nhân không dùng thuốc lợi tiểu là 10 mg/ngày. Có thể tăng liều đến 20 mg/ngày.

Ở một số bệnh nhân được dùng liều duy nhất hàng ngày, hiệu quả hạ áp có thể giảm vào giai đoạn cuối của khoảng cách liều. Trong trường hợp này, nên chia liều hàng ngày làm 2 lần bằng nhau hoặc phối hợp thêm với thuốc lợi tiểu. Liều tối đa hàng ngày được khuyến cáo cho bệnh nhân cao huyết áp là 40 mg, uống 1 lần duy nhất hay chia làm 2 lần bằng nhau.

Nếu đơn trị với Cibacen không giảm được huyết áp như mong muốn, có thể phối hợp với các thuốc hạ áp khác như thuốc lợi tiểu loại thiazid, thuốc ức chế canxi hoặc thuốc chẹn bêta, có thể dùng cùng một lúc với liều thấp ban đầu.

Liều thông thường của Cibacen được khuyến cáo cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin (30 ml/phút. Ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút thì liều ban đầu là 5 mg và có thể tăng lên đến 10 mg/ngày. Để giảm huyết áp hơn nữa, nên phối hợp thêm với thuốc lợi tiểu không phải thiazid hay thuốc hạ áp khác.

Suy tim sung huyết:

Cibacen được chỉ định như trị liệu hỗ trợ cho bệnh nhân bị suy tim. Liều khuyến cáo ban đầu là 2,5 mg, uống một lần duy nhất trong ngày. Do nguy cơ hạ áp nhanh đáp ứng với liều đầu tiên, bệnh nhân dùng Cibacen cần được theo dõi sát trong thời kỳ đầu (xem mục "Thận trọng lúc dùng"). Có thể tăng liều lên đến 5 mg/ngày sau 2-4 tuần nếu triệu chứng của suy tim không giảm, liều này giúp bệnh nhân không bị tụt huyết áp hay các tác dụng phụ khác. Tùy theo đáp ứng lâm sàng, liều có thể tăng nữa đến 10 mg/ngày thậm chí 20 mg/ngày ở những khoảng cách thích hợp. Dùng liều duy nhất hàng ngày nói chung có tác dụng. Một số bệnh nhân có thể có đáp ứng tốt hơn với chế độ hai lần uống thuốc mỗi ngày. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng suy tim nặng hơn (NYHA classe IV) thường yêu cầu liều thấp hơn bệnh nhân có suy tim nhẹ hay trung bình (NYHA classe II & III).

Ở bệnh nhân có suy tim sung huyết mà độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút thì liều hàng ngày có thể tăng đến 10 mg nhưng liều ban đầu thấp (2,5 mg, uống một lần trong ngày) có thể cho hiệu quả tối ưu.

Suy thận mãn tiến triển:

Liều khuyến cáo trong điều trị lâu dài để làm chậm lại sự tiến triển của bệnh thận mãn tính là 10 mg một lần duy nhất mỗi ngày. Có thể phối hợp với các thuốc hạ áp khác nếu cần để hạ huyết áp hơn nữa.

Trẻ em: tính an toàn và hiệu quả của Cibacen chưa được xác lập ở trẻ em.

Bệnh nhân lớn tuổi: về liều khuyến cáo và thận trọng đặc biệt xin xem phần dược động học.

QUÁ LIỀU

Triệu chứng : hiện nay chưa có những thông tin về quá liều Cibacen ngoại trừ một số trường hợp có gây tụt huyết áp đáng kể.

Điều trị: nếu mới xảy ra thì nên gây nôn. Mặc dầu benazeprilate (chất chuyển hóa có hoạt tính) chỉ bị thẩm tách với tỉ lệ rất nhỏ, thì thẩm tách nên được xem như một biện pháp trợ giúp cho thải trừ thuốc bình thường ở bệnh nhân bị suy thận nặng. Nếu bị tụt huyết áp nặng, bệnh nhân nên được truyền tĩnh mạch dung dịch salin sinh lý.

BẢO QUẢN

Bảo quản tránh ẩm và nóng.

Không sử dụng thuốc đã quá hạn dùng ghi trên bao bì.

 

Nguồn tham khảo

Benhhoc.com

Quan tâm  
0

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Surfactant - Chất Hoạt Động Bề Mặt
Chất hoạt động bề mặt Surfactant, Surface active agent) đó là một chất làm ướt có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của một chất lỏng. Là chất mà phân tử của nó phân cực: một đầu ưa nước và một đuôi kị nước.
Viêm Não Và Viêm Màng Não Có Phải Là Một Bệnh?
Viêm não và viêm màng não có triệu chứng ban đầu khá giống với các bệnh khác, bệnh được chẩn đoán xác định nhờ các xét nghiệm. Và bạn nên nhớ rằng viêm não và viêm màng não là hai bệnh khác nhau chứ không phải là một...
Kỹ Thuật Đặt Thông Tenckhoff Trong Thẩm Phân Phúc Mạc Ở Bệnh Nhi
Kỹ Thuật Đặt Thông Tenckhoff trong thẩm phân phúc mạc ở bệnh nhi là một phương pháp được dùng cho bệnh nhân suy thận. Dưới đây là toàn bộ quá trình thực hiện kỹ thuật này. Mời các bạn cùng tham khảo.
Bộ Y Tế và 75 Bệnh Viện Trên Địa Bàn Hà Nội Mở Đường Dây Nóng Để Tiếp Nhận, Xử Lý Kịp Thời Phản Ánh Của Người Dân Về Các Dịch Vụ Y Tế
Chất lượng khám chữa bệnh của các bệnh viện ngày càng được cải thiện nhưng vẫn còn tồn động nhiều vấn đề khiến dư luận rất bức xúc. Trước vấn đề trên, Bộ Y Tế mở đường dây nóng 0973.306.306 để tiếp nhận phản ánh...
Công Nghệ Nano, Sự Kết Hợp Tuyệt Vời Giữa Y Học Cổ Truyền Và Y Học Hiện Đại
Công nghệ Nano đang làm mưa làm gió trên thị trường thuốc tại việt nam nói riêng và thế giới nói chung. Vậy đó là gì mà đặc biệt quá vậy? Có thật sự công hiệu trong điều trị bệnh hay không? Mời cả nhà theo...
Fibrin
Fibrin là sản phẩm sau cùng của tiến trình đông máu, sản sinh ra do tác động của enzyme thrombin trên chất tạo ra huyết tương là tiền thân hòa tan được của fibrin.
Rượu Kế
Rượu Kế hay còn gọi là Tửu Kế, Cồn Kế, là dụng cụ được dùng để xác định độ rượu, độ chìm của Rượu Kế trong dung dịch càng nhiều thì rượu càng nặng.
Malathion - Thuốc Điều Trị Chấy Rận Hiệu Quả
Malathion được sử dụng để điều trị chứng rận chấy, các con côn trùng nhỏ ở trên đầu gây kích ứng và làm tấy rát da đầu. Thuốc malathion thuộc về dòng thuốc organophosphates. Thuốc hoạt động bằng cách làm tê liệt và giết chết...
OPI
Opi là nhựa lấy từ quả xanh của cây thuốc phiện papaver somniferum L (Papaveraceae). Alcaloid cơ bản của opi 0,3 – 0,7% papaverin 0,8 – 1% thebain 0,2 – 0,7%, narcein 0,2% opi rất được thông dụng vì tác dụng giảm đau và rất dễ gây nghiện. Đây là...
Bí Ẩn Xác Ướp Không Đầu Đã Được Giải Mã
Trong một ngôi mộ cổ ở Ai Cập, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một cái đầu và một thân hình mất tứ chi. Trong hơn 100 năm qua, người ta đã tranh luận rất nhiều về xác ướp không đầu này nhưng vẫn chưa ngã ngũ ra là cái đầu ấy...