Thứ sáu, 21/09/2018 8:23 PM

Sốt Rét Kháng Thuốc

Thứ ba, 03/07/2018 7:48 AM

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sốt rét kháng thuốc là khả năng ký sinh trùng sốt rét gây bệnh có thể sống sót và phát triển mặc dù bệnh nhân đã được điều trị và hấp thu một liều lượng thuốc bằng hoặc cao hơn liều dùng thông thường.

Sốt Rét Kháng Thuốc
Sốt Rét Kháng Thuốc

1. ĐẠI CƯƠNG

Sốt rét kháng thuốc (Resistance malaria - theo định nghĩa của WHO 2011 - Global plan for Artemisinin resistance containment - GPARC) là khả năng một chủng ký sinh trùng sốt rét vẫn tồn tại và/hoặc nhân lên khi sử dụng thuốc sốt rét đủ liều hoặc với liều cao hơn liều khuyến cáo và khả năng hấp thu thuốc và dung nạp thuốc của người bệnh tốt. Cơ chế do đột biến tự nhiên tại 1 hoặc vài vị trí trên genome của ký sinh trùng sốt rét.

Cần phải phân biệt giữa sốt rét kháng thuốc thật sự với thất bại điều trị: sốt rét kháng thuốc chắc chắn dẫn tới thất bại điều trị, trong khi đó thất bại điều trị không chỉ do kháng thuốc mà còn có nhiều yếu tố khác như: dùng thuốc không đủ liều, không đủ thời gian, thuốc kém chất lượng, tương tác với thuốc khác làm giảm hiệu lực thuốc sốt rét, kém hoặc rối loạn hấp thu, chẩn đoán nhầm... Số trường hợp sốt rét thất bại điều trị trong vòng 10 năm qua đã xuất hiện tại trên 50% trong số 43 nước có lưu hành bệnh sốt rét, chủ yếu ở châu Phi và tiểu vùng sông Mê kông. Plasmodium falciparum đã kháng lại với nhiều loại thuốc sốt rét và đặc biệt nghiêm trọng là kháng với artemisinin.

2. NGUYÊN NHÂN

-  Đơn trị liệu

- Dùng thuốc không đủ liều lượng và thời gian

- Chưa rõ cơ chế sốt rét kháng lại artemisinin, giả thuyết về cơ chế đột biến trên một hoặc nhiều đoạn genome của ký sinh trùng sốt rét.

3. CHẨN ĐOÁN

3.1. Lâm sàng

a. Sốt

- Có triệu chứng điển hình của cơn sốt rét với 3 giai đoạn: rét run, sốt nóng và ra mồ hôi. Hoặc có triệu chứng không điển hình của cơn sốt rét: sốt không thành cơn (người bệnh thấy ớn lạnh, gai rét, nhiệt độ nách 37,50C) hoặc sốt cao liên tục, sốt dao động.

- Đang ở hoặc qua lại vùng sốt rét lưu hành, có tiền sử mắc sốt rét trong 2 năm gần đây.

- Thiếu máu.

- Gan to, lách to.

b. Các dấu hiệu nguy hiểm dự báo sốt rét nặng

- Rối loạn ý thức nhẹ, thoáng qua (li bì, cuồng sảng, vật vã ...).

- Sốt cao liên tục.

- Rối loạn tiêu hóa: nôn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, đau bụng cấp.

- Đau đầu dữ dội.

- Mật độ ký sinh trùng cao (P. falciparum ++++ hoặc ≥ 100.000 KST/ml máu).

- Thiếu máu nặng: da xanh, niêm mạc nhợt.

c. Các dấu hiệu của sốt rét ác tính

- Rối loạn ý thức (Glasgow ≤ 15 điểm đối với người lớn, Blantyre ≤ 5 điểm đối với trẻ em);

- Hôn mê (Glasgow ≤ 10 điểm đối với người lớn, Blantyre ≤ 3 điểm đối với trẻ em);

- Mệt lả (người bệnh không có khả năng tự ngồi, đứng và đi lại mà không có sự hỗ trợ);

- Co giật trên 2 cơn/24 giờ;

- Thở sâu (> 20 lần/phút) và rối loạn nhịp thở;

- Phù phổi cấp, có ran ẩm ở 2 đáy phổi;

- Hoặc có hội chứng suy hô hấp cấp; khó thở (tím tái, co kéo cơ hô hấp) và SpO2 < 92%;

- Suy tuần hoàn hoặc sốc (huyết áp tâm thu < 80 mmHg ở người lớn và < 50 mmHg ở trẻ em);

- Suy thận cấp: nước tiểu < 0,5 ml/kg/giờ (ở cả người lớn và trẻ em);

- Vàng da niêm mạc;

d. Tiến triển

Thất bại điều trị sớm:

- Phát triển các dấu hiệu nguy hiểm hoặc sốt rét nặng vào các ngày điều trị thứ 1, 2, 3 (D1, D2, D3).

- Mật độ ký sinh trùng sốt rét ngày D2 cao hơn ngày D0, ngay cả khi người bệnh không sốt.

- Còn ký sinh trùng vào ngày D3 và nhiệt độ nách >= 37,50C.

- Mật độ ký sinh trùng ngày D3 >= 25% mật độ ký sinh trùng ngày D0.

Thất bại điều trị muộn:

- Xuất hiện sốt trở lại và/hoặc có ký sinh trùng sốt rét từ ngày 4 (D4) đến ngày 28 (D28) sau điều trị.

Sốt Rét Kháng Thuốc
Bệnh nhân sốt cao vật vã

3.2. Cận lâm sàng

a. Xét nghiệm máu bằng kính hiển vi

Lấy lam máu giọt dày và giọt mỏng xét nghiệm vào ngày D0 để xác nhận các tiêu chuẩn lựa chọn/loại trừ. Lam máu giọt dày được xét nghiệm tiếp vào các ngày D2, D3, D7, D14, D21 và D28 hoặc vào bất kỳ ngày nào nếu người bệnh tự quay lại để đánh giá lại ký sinh trùng.

Mật độ ký sinh trùng sẽ được tính bằng đếm số lượng ký sinh trùng thể vô tính trên 200 bạch cầu trên lam máu giọt dày. Số lượng ký sinh trùng thể vô tính trong 1 μl máu, sẽ được tính bằng cách lấy số ký sinh trùng thể vô tính chia cho số bạch cầu đếm được sau đó nhân với số bạch cầu chuẩn (thường là 8.000 bạch cầu/μl).

Mật độ KST/μl = Số KST đếm được x 8.000/ Số bạch cầu đếm được

b. Các xét nghiệm Invitro

Nuôi cấy phân lập ký sinh trùng sốt rét từ máu của người bệnh.

Cho ký sinh trùng sốt rét tiếp xúc với các nồng độ khác nhau của thuốc sốt rét.

Đánh giá mức độ phát triển của ký sinh trùng để xác định mức độ kháng thuốc.

Đo nồng độ thuốc trong máu: lấy máu của những người bệnh bị sốt rét dù có sử dụng thuốc dự phòng, tách chiết và đo nồng độ thuốc sốt rét. Kỹ thuật này giúp phân biệt giữa việc không tuân thủ dùng thuốc với kháng thuốc.

c. Sinh học phân tử

Được sử dụng để phát hiện kháng thuốc đối với chloroquin, sulfadoxinpyrimethamin và atovaquon. Sử dụng kỹ thuật PCR hoặc giải trình tự gene để phát hiện các dấu ấn (markers) kháng thuốc trong máu người bệnh sốt rét.

3.3. Chẩn đoán xác định

a. Lâm sàng

Có yếu tố dịch tễ liên quan tới vùng lưu hành sốt rét.

Tính chất cơn sốt rét, thiếu máu, gan to, lách to.

Có các dấu hiệu nguy hiểm hoặc sốt rét nặng vào các ngày điều trị thứ 1, 2, 3 (D1, D2, D3). Xuất hiện sốt trở lại sau điều trị.

b. Cận lâm sàng

Xét nghiệm KSTSR (+):

- Mật độ ký sinh trùng sốt rét ngày D2 cao hơn ngày D0, ngay cả khi người bệnh không sốt.

- Còn ký sinh trùng vào ngày D3 và nhiệt độ nách lớn hơn 37,50C.

- Mật độ ký sinh trùng ngày D3 lớn hơn 25% mật độ ký sinh trùng ngày D0.

- Có ký sinh trùng sốt rét từ ngày 4 (D4) đến ngày 28 (D28) sau điều trị.

c. Riêng đối với Artemisinin (ACT), nghi ngờ kháng thuốc hoặc được coi là kháng thuốc khi:

- Thời gian sạch ký sinh trùng sốt rét dài: ≥ 10% ca bệnh vẫn phát hiện được ký sinh trùng sốt rét vào ngày thứ (D3) sau khi bắt đầu điều trị bằng ACT (nghi ngờ kháng
thuốc), hoặc:

- Thất bại điều trị khi sử dụng Artemisinin đường uống đơn thuần với nồng độ thuốc trong máu đủ ở ngưỡng ức chế ký sinh trùng nhưng ký sinh trùng sốt rét vẫn tồn tại dai dẳng đến 7 ngày hoặc hết sau điều trị 3 ngày (D3) nhưng tái phát vào ngày D28 hoặc D42 (khẳng định kháng thuốc).

Sốt Rét Kháng Thuốc
Ký sinh trùng không chết khi dùng thuốc mà còn lây lan mạnh hơn

4. ĐIỀU TRỊ

4.1. Tất cả các trường hợp sốt rét điều trị thất bại, phải lấy lam máu để xét nghiệm lại và điều trị như sau:

- Nếu người bệnh xuất hiện lại KST trong vòng 14 ngày, sẽ sử dụng thuốc điều trị thay thế (second line).

- Nếu người bệnh xuất hiện lại KST sau 14 ngày, được coi như tái nhiễm và điều trị bằng thuốc lựa chọn ưu tiên (first line).

- Nếu gặp các trường hợp điều trị thất bại đối với một loại thuốc sốt rét tại cơ sở điều trị, cần báo lên tuyến trên để tiến hành xác minh KSTSR kháng thuốc.

4.2. Sử dụng thuốc điều trị thay thế (second line)

Quinin 30 mg/kg/ngày x 7 ngày + doxycyclin 3 mg/kg/ngày x 7 ngày. Hoặc Quinin 30 mg/kg/ngày x 7 ngày + clindamycin 15 mg/kg/ngày x 7 ngày cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 8 tuổi.

Chú ý:

Không điều trị Dihydroartemisinin - piperaquin cho phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu.

Không điều trị Primaquin cho phụ nữ có thai, trẻ em dưới 3 tuổi và người thiếu men G6PD.

5. DỰ PHÒNG SỐT RÉT KHÁNG THUỐC

- Điều trị phối hợp thuốc

- Không điều trị Artemisinin đơn thuần đường uống

- Triển khai các biện pháp dự phòng sự lan truyền sốt rét từ vùng này sang vùng khác, đặc biệt từ vùng đã xác định có ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc sang những vùng chưa có sốt rét kháng thuốc hoặc chưa được xác định có kháng thuốc hay không.

- Tăng cường theo dõi, giám sát để đánh giá nguy cơ kháng artemisinin.

►Xem thêm: Phương Pháp Phòng và Điều Trị Virus Cúm Gia Cầm Cho Người

 
Quan tâm  
3

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Thyroxine hay còn gọi là T4 là một trong hai kích thích tố chủ yếu được sản xuất bởi tuyến giáp, một chất khác là triiodothyronine (T3). Tuyến giáp là một tuyến có hình con bướm nhỏ nằm ngay dưới quả táo của Adam. Tuyến này đóng một...
Pyruvate Kinase là một enzyme được tìm thấy trong các tế bào hồng cầu giúp thay đổi đường trong máu (glucose) thành năng lượng khi mức oxy thấp.
Trị Ống Chân Sưng Tấy, Đau Nhức Và Lở Loét Sinh Dòi Bằng Rau Sam
Trị Ống Chân Sưng Tấy, Đau Nhức Và Lở Loét Sinh Dòi Bằng Rau Sam: Do thận bị hư hàn, khí độc phong tà ở ngoài tụ lại, công vào bên huyệt Tam lý, ngấm dần xuống bên huyệt Tam âm giao, khí độc phong nhiệt, chạy xuống hai bên...
Sản Xuất Những Ly Cocktail Từ Phân Của Trẻ Em
Có một nhóm các vi sinh vật cực kỳ hữu cho đường ruột gọi là Probiotic, nhưng chúng lại có nhiều nhất trong phân của trẻ em. Trong tương lai, phân trẻ em chính là nguyên liệu để sản xuất ra những ly cocktail lợi khuẩn trứ danh đấy.
Công Nghệ Nano, Sự Kết Hợp Tuyệt Vời Giữa Y Học Cổ Truyền Và Y Học Hiện Đại
Công nghệ Nano đang làm mưa làm gió trên thị trường thuốc tại việt nam nói riêng và thế giới nói chung. Vậy đó là gì mà đặc biệt quá vậy? Có thật sự công hiệu trong điều trị bệnh hay không? Mời cả nhà theo...
Những Danh Y Sử Dụng Thuật Châm Cứu Đến Mức Xuất Thần Nhập Hóa và Một Số Câu Chuyện Ly Kỳ Về Cách Trị Bệnh Của Họ
Châm cứu đã có từ bao giờ? Ai là người sáng lập ra môn châm cứu? Những danh y nào sử dụng thuật châm cứu thuần thục đến mức xuất thần nhập hóa? và những giai thoại về các vị thần y, thì quả thật không phải người nào cũng am...
Penicilamin được dùng trong trường hợp nhiễm độc kim loại nặng, đặc biệt chì và đồng; bệnh Wilson; viêm khớp dạng thấp nặng.
Bệnh Viện Pleiku: Một Bác Sỹ Bị Bố Bệnh Nhi Hành Hung
Theo cơ quan điều tra, người hành hung bác sĩ Nguyễn Đăng Hà (25 tuổi) – bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa TP. Pleiku (Gia Lai) là Ngô Thành Công (31 tuổi, trú tại tổ 6, phường Yên Đổ, TP. Pleiku) – bố của bệnh nhi.
Ích Nhi
Ích Nhi giúp giải cảm, giảm ho, tiêu đờm. Hỗ trợ các trường hợp cảm lạnh, cảm cúm, hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi, ho do lạnh, ho có đờm, ho do dị ứng thời tiết, viêm họng, viêm phế quản.