Thứ ba, 17/07/2018 6:30 PM

Influenza

Chủ nhật, 06/05/2018 9:45 AM

Influenza virus hay còn gọi là Virus cúm, nó là thành viên chính của nhóm Orthomyxovirus và đó là căn nguyên gây bệnh cúm: nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính tạo dịch do virus. Orthomyxovirus bao gồm 3 týp miễn dịch: Cúm A, B, C.

Virus Influenza phóng đại khoảng 100.000 lần.

Virus cúm được phân lập lần đầu năm 1933, chúng có thể gây những vụ dịch lan tràn khắp thê giới. Năm 1918-1919 đại dịch cúm đã gây bệnh cho 20 triệu người. Trên cơ sỏ ý nghĩa y học đó, vào những năm cuôi thập kỷ 40, việc nghiên cứu về cúm được tiến hành khẩn trương. Người ta đã xác định vai trò gây bệnh của virus cúm trên người và động vật rất rộng rãi.

1. CẤU TRÚC VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

1.1. Cấu trúc

Các virus cúm được phân chia thành 3 nhóm khác nhau (A, B, C) do một số cấu trúc kháng nguyên bề mặt khác nhau, nhưng phần lớn có cấu trúc kháng nguyên giống nhau. Dưới kính hiển vi điện tử thấy virus cúm hình cầu. Đường kính khoảng 100-120 nm. Các hạt virus cúm có cấu trúc phức tạp. Các protein capsid virus cúm, cùng với ARN, tạo thành nucleocapsid đối xứng xoắn. Bao ngoài của virus cúm được cấu tạo bởi 2 lớp lipid, trên bề mặt hai lớp lipid đó có những điểm chồi lên (spike) giống như "lông". Các điểm chồi đó cấu tạo bởi glycoprotein, tạo nên bởi các kháng nguyên hemagglutinin và neuraminidase ký hiệu là H và N. Mỗi sợi H và N dài 8-10 nm, cách nhau 8 nm. Kháng nguyên hemagglutinin có chức năng giúp virus bám trên bề mặt tế bào cảm thụ và xuyên thủng màng tế bào. Chức năng của neuraminidase chưa được rõ, nhưng chúng cũng bổ sung chức năng của hemaglutinin và ngoài ra chúng còn thúc đẩy sự lắp ráp và chín muồi của virus trong tế bào cảm thụ. Hai cấu trúc glycoprotein H và N xác định kháng nguyên đặc hiệu của từng thứ týp virus. Kháng nguyên H và N là những kháng nguyên quyết định khả năng ngưng kết hồng cầu động vật.

Cấu trúc của Influenza virus.

Virus cúm phân lập từ bệnh nhân ở giai đoạn nguyên thuỷ (original phase) có thể gây ngưng kết hồng cầu người nhóm máu O và hồng cầu chuột lang. Virus cúm nuôi cấy trong phòng thí nghiệm có thể ngưng kết được hồng cầu gà và hồng cầu ngỗng (derivative phase). Kháng nguyên H đặc trưng cho týp, kháng nguyên N đặc trưng thứ týp. Các cấu trúc H và N của virus cúm có thể thay đổi trong từng thứ týp. Hiện nay có 13 cấu trúc kháng nguyên H và 9 cấu trúc kháng nguyên N khác nhau đặc hiệu cho từng thứ týp của các týp cúm A, B và C: ký hiệu kháng nguyên H1 đến H13, N1 đến N9. Cấu trúc ARN của cúm A và B phân làm 8 đoạn gen, còn cúm C phân làm 7 đoạn, trên mỗi đoạn gen virus, có thể ghi dấu cho nhiều mật mã di truyền.

Các thứ týp H và N khác nhau của các virus cúm có thể gây bệnh cho người và nhiều động vật khác nhau, nhất là những động vật mới sinh. Ví dụ: H1N1 gây bệnh cho người và cũng gây bệnh được cho lợn, H1N3 có thể gây bệnh cho cá voi; H3N2 gây bệnh cho người; H4N5 gây bệnh cho hải cẩu,...

1.2. Khả năng thay đổi câu trúc kháng nguyên

Cấu trúc hemaglutinin (H) có thể thay đổi tạo thành các H mới. Sự thay đổi cấu trúc kháng nguyên H của virus tạo thành một týp cúm mới. Như vậy kháng thể kháng H của týp virus mới chưa xuất hiện trong quần thể dân chúng và, vì vậy, týp virus mới có thể gây nên dịch mới. Các kháng nguyên N cũng có thể thay đổi, đặc biệt thường xẩy ra với virus týp A và B. Do vậy virus cúm A và cúm B có nhiều thứ týp (Subtype) do sự thay đổi cấu trúc kháng nguyên H và N.

1.3. Cách gọi tên virus cúm

Ví dụ: A/Swine/NewJersety/8/76/H1N1;

A/BangKok/7/79/H3N2 B/Singapore/7/79/H1N2....

Trước hết gọi týp virus, động vật cảm thụ (nếu là động vật), địa danh phân lập virus, số bệnh phẩm phân lập được virus, năm phân lập virus và cấu trúc H và N.

1.4. Phản ứng lý hóa của virus cúm

Virus cúm tương đối vững bền với nhiệt độ; ở 0°C đến 4°C, sống được vài tuần, ở -20°C và đông khô virus cúm sống hàng năm. Dễ diệt virus cúm ở 56°C. Dễ diệt với các dung môi hoà tan lipid: Ether, β-propiolacton, formol,... Các tia tím bất hoạt virus cúm nhưng không phá huỷ kháng nguyên nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn bào thai và hoạt tính của H và N. Với pH thì vững bền từ 4 đến 9.

2. LÂM SÀNG

Đốì tượng cảm thụ với bệnh là những người khỏe mạnh không có kháng thế kháng virus cúm. Triệu chứng của một bệnh cảm lạnh: sốt nhẹ, hắt hơi, đau đầu, ho, xuất tiết nhiều lần sau thòi gian ủ bệnh từ 1 đến 5 ngày. Với trẻ em nhiễm virus cúm cũng có dấu hiệu lâm sàng như trên, nhưng ở trẻ em nhỏ nhiễm trùng có thể sốt cao, co giật, viêm dạ dày-ruột. Bệnh ở trẻ sơ sinh còn nặng hơn với các triệu chứng: viêm cơ tim, viêm phổi và có thể có những biến chứng khác: viêm tai, viêm phổi, thậm chí tới viêm não-dẫn tới tử vong. Bệnh ở đường hô hấp do virus cúm thường có kèm bội nhiễm vi khuẩn; do đó, bệnh nặng lên gấp bội.

Virus cúm týp A thường gây đại dịch với chu kỳ 7 đến 10 năm; cúm týp B thường chỉ gây dịch nhỏ hơn với chu kỳ 5 đến 7 năm. Riêng virus cúm týp C chỉ gây các triệu chứng lâm sàng không điển hình và tạo các vụ dịch nhỏ ở những tập thể mới hình thành. Sau mỗi vụ dịch thường xuất hiện kháng thể trong quần thể và gây miễn dịch đặc hiệu với thứ týp virus. Sau những thời gian thích hợp, các cấu trúc kháng nguyên H hoặc N có thể thay đổi, kháng thể miễn dịch cũ không còn tác dụng với kháng nguyên mới.

3. DỊCH TỄ HỌC

- Virus cúm lan truyền từ người sang người qua đường hô hấp. Virus nhân lên trong đường hô hấp sau 4 đến 6 ngày nhiễm trùng. Virus đạt hiệu giá tối đa sau 48 giờ. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân từ tháng giêng đến tháng 4. Trong những năm 1889-1890, 1918-1919, 1957 và 1968 đã có những đại dịch do virus A girusa. Virus cúm cũng có thể lây từ động vật sang người.

4. CHẨN ĐOÁN TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

4.1. Chẩn đoán trực tiếp

• Bệnh phẩm được lấy vào những ngày đầu của bệnh là nước xuất tiết đường mũi họng.

• Bệnh phẩm được nuôi cấy trong tế bào như tế bào bào thai gà, thận khỉ và phổi người hoặc tế bào thường trực Vero, LLC-MK2.

• Sự nhân lên của ARN virus xảy ra trong nhân tế bào, các thành phần khác xảy ra ở bào tương tế bào hoặc trong màng ối của bào thai gà từ 8 tới 12 ngày. Xác định sự có mặt của virus cúm bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu.

• Định týp virus bằng phản ứng trung hòa trong tế bào hoặc ức chế ngưng kết hồng cầu với các kháng thể mẫu.

Cũng có thể chứng minh sự có mặt của virus bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp bằng kháng thế mẫu gắn huỳnh quang.

Các triệu chứng của virus cúm.

4.2. Tìm kháng thể kháng cúm

Kháng thể kháng cúm thường tìm được bằng phản ứng kết hợp bố thể, ức chế ngưng kêt hồng cầu, ELISA, và trung hoà. Kháng thế cần phải tìm sớm, vào tuần lễ đầu và sau 10 ngày sau lần lấy máu để tìm động lực kháng thế. Kháng thể lần sau phải tăng gấp 4 lần so với lần đầu mới được xác định là bệnh nhân bị bệnh cúm. Kháng thể cúm thường giảm mất một nửa hiệu giá sau vài tuần, do vậy phản ứng phải làm đúng thời gian, nhất là với phản ứng kết hợp bổ thể.

5. NGUYÊN TẮC PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ

Trong vụ dịch có thể dùng amantadin hydrochlorid để phòng bệnh có hiệu quả, nhất là với cúm A. Thuốc amantadin hydrochlorid còn được sử dụng để điều trị bệnh nhân đã nhiễm trùng có hiệu quả ở đường hô hấp. Tuy vậy, đáng tiếc amantadin không điều trị được các biến chứng của bệnh cúm. Interferon chưa có hiệu quả điều trị với virus cúm.

Tiêm phòng: vacxin virus bất hoạt týp A và týp B được sử dụng cho những người kháng thể âm tính. Tuy vậy, kháng thể được hình thành chỉ kháng lại virus vacxin, không miễn dịch chéo với thứ týp mới và không tồn tại lâu dài.

Ngoài các phương pháp phòng bệnh đặc hiệu kể trên trong vụ dịch cần cách ly bệnh nhân, xử lý các chất thải từ đường hô hấp của bệnh nhân và vô trùng các dụng cụ, quần áo của bệnh nhân.

 

Nguồn tham khảo

Vi Sinh Vật Y Học (GS.TS. Lê Huy Chính)

Quan tâm  
3

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Câu Chuyện Ly Kỳ Về Nhà KHoa Học Alexander Flemming Phát Hiện Ra Penicillin
Trong nhiều thế kỷ trước, con người đã biết cách dùng nấm để trị các chứng viêm. Tại Anh, vào giữa thế kỷ XVII, John Parkinson, một vị thầy thuốc hoàng gia đã biết cách chữa trị các vết thương bằng cách dùng rêu áp lên để vết...
Hồ Bà Dương: Từng Chôn Vùi 70 Vạn Đại Quân Của Trần Hữu Lượng và Những Vụ Đắm Tàu Huyền Bí Giờ Chỉ Còn Là Đồng Cỏ
Có diện tích lớn gấp 3 lần thủ đô Luân Đôn nước Anh, hồ nước ngọt Bà Dương từng là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Tuy nhiên hạn hán đang dần giết chết và biến hồ nước này thành đồng cỏ khô.
Giải Pháp Biến Sa Mạc Thành Đất Trồng Tươi Tốt
Nếu không có giải pháp thì đến năm 2045 khoảng 135 triệu người sẽ mất nhà và kế sinh nhai do đất đai bị sa mạc hóa. Thật may, gần đây 1 công ty của Na Uy đã phát minh ra một phương pháp giúp biến đất sa mạc thành đất trồng tươi...
Những Hòn Đảo Biết Di Chuyển Tại Peru
Hấu hết các hòn đảo tự nhiên đều không thể di chuyển nhưng đây lại là trường hợp ngoại lệ, hòn đảo này có hơn 500 người sinh sống và đặc biệt là nó có thể di chuyển đấy.
Trực Thăng Có Thể Hoạt Động Trên Sao Hỏa Được Không?
Con người đang dần bước sang một kỷ nguyên mới trong công cuộc khám phá vũ trụ khi NASA tuyên bố sẽ đưa trực thăng lên sao Hỏa vào năm 2020. Đây là một bước tiến cực lớn, chưa có tiền lệ.
8 Phát Minh Vượt Thời Gian Của Leonardo Da Vinci Khiến Hậu Thế Không Khỏi Thán Phục
Leonardo da Vinci là một trong những nghệ thuật gia nổi tiếng nhất của lịch sử nhân loại. Ngoài danh hoạ nổi tiếng, ông cũng là một nhà phát minh thiên tài trong các lĩnh vực xây dựng dân dụng, hóa học, thủy động lực học, quang học,...
Luật Rừng: Chim Ưng Đầu Trắng Cướp Miếng Ăn Ngày Trên Mồm Cáo Đỏ
Miếng ăn khó nhọc lắm mới kiếm được lại bị kẻ khác phỗng tay trên, đúng là luật rừng mà và trường hợp Chim Ưng Đầu Trắng cướp miếng mồi của Cáo Đỏ đầy kịch tính sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tính khắc nghiệt của cuộc...