Thứ sáu, 16/11/2018 11:57 AM

Influenza

Chủ nhật, 06/05/2018 9:45 AM

Influenza virus hay còn gọi là Virus cúm, nó là thành viên chính của nhóm Orthomyxovirus và đó là căn nguyên gây bệnh cúm: nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính tạo dịch do virus. Orthomyxovirus bao gồm 3 týp miễn dịch: Cúm A, B, C.

Virus Influenza phóng đại khoảng 100.000 lần.

Virus cúm được phân lập lần đầu năm 1933, chúng có thể gây những vụ dịch lan tràn khắp thê giới. Năm 1918-1919 đại dịch cúm đã gây bệnh cho 20 triệu người. Trên cơ sỏ ý nghĩa y học đó, vào những năm cuôi thập kỷ 40, việc nghiên cứu về cúm được tiến hành khẩn trương. Người ta đã xác định vai trò gây bệnh của virus cúm trên người và động vật rất rộng rãi.

1. CẤU TRÚC VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

1.1. Cấu trúc

Các virus cúm được phân chia thành 3 nhóm khác nhau (A, B, C) do một số cấu trúc kháng nguyên bề mặt khác nhau, nhưng phần lớn có cấu trúc kháng nguyên giống nhau. Dưới kính hiển vi điện tử thấy virus cúm hình cầu. Đường kính khoảng 100-120 nm. Các hạt virus cúm có cấu trúc phức tạp. Các protein capsid virus cúm, cùng với ARN, tạo thành nucleocapsid đối xứng xoắn. Bao ngoài của virus cúm được cấu tạo bởi 2 lớp lipid, trên bề mặt hai lớp lipid đó có những điểm chồi lên (spike) giống như "lông". Các điểm chồi đó cấu tạo bởi glycoprotein, tạo nên bởi các kháng nguyên hemagglutinin và neuraminidase ký hiệu là H và N. Mỗi sợi H và N dài 8-10 nm, cách nhau 8 nm. Kháng nguyên hemagglutinin có chức năng giúp virus bám trên bề mặt tế bào cảm thụ và xuyên thủng màng tế bào. Chức năng của neuraminidase chưa được rõ, nhưng chúng cũng bổ sung chức năng của hemaglutinin và ngoài ra chúng còn thúc đẩy sự lắp ráp và chín muồi của virus trong tế bào cảm thụ. Hai cấu trúc glycoprotein H và N xác định kháng nguyên đặc hiệu của từng thứ týp virus. Kháng nguyên H và N là những kháng nguyên quyết định khả năng ngưng kết hồng cầu động vật.

Cấu trúc của Influenza virus.

Virus cúm phân lập từ bệnh nhân ở giai đoạn nguyên thuỷ (original phase) có thể gây ngưng kết hồng cầu người nhóm máu O và hồng cầu chuột lang. Virus cúm nuôi cấy trong phòng thí nghiệm có thể ngưng kết được hồng cầu gà và hồng cầu ngỗng (derivative phase). Kháng nguyên H đặc trưng cho týp, kháng nguyên N đặc trưng thứ týp. Các cấu trúc H và N của virus cúm có thể thay đổi trong từng thứ týp. Hiện nay có 13 cấu trúc kháng nguyên H và 9 cấu trúc kháng nguyên N khác nhau đặc hiệu cho từng thứ týp của các týp cúm A, B và C: ký hiệu kháng nguyên H1 đến H13, N1 đến N9. Cấu trúc ARN của cúm A và B phân làm 8 đoạn gen, còn cúm C phân làm 7 đoạn, trên mỗi đoạn gen virus, có thể ghi dấu cho nhiều mật mã di truyền.

Các thứ týp H và N khác nhau của các virus cúm có thể gây bệnh cho người và nhiều động vật khác nhau, nhất là những động vật mới sinh. Ví dụ: H1N1 gây bệnh cho người và cũng gây bệnh được cho lợn, H1N3 có thể gây bệnh cho cá voi; H3N2 gây bệnh cho người; H4N5 gây bệnh cho hải cẩu,...

1.2. Khả năng thay đổi câu trúc kháng nguyên

Cấu trúc hemaglutinin (H) có thể thay đổi tạo thành các H mới. Sự thay đổi cấu trúc kháng nguyên H của virus tạo thành một týp cúm mới. Như vậy kháng thể kháng H của týp virus mới chưa xuất hiện trong quần thể dân chúng và, vì vậy, týp virus mới có thể gây nên dịch mới. Các kháng nguyên N cũng có thể thay đổi, đặc biệt thường xẩy ra với virus týp A và B. Do vậy virus cúm A và cúm B có nhiều thứ týp (Subtype) do sự thay đổi cấu trúc kháng nguyên H và N.

1.3. Cách gọi tên virus cúm

Ví dụ: A/Swine/NewJersety/8/76/H1N1;

A/BangKok/7/79/H3N2 B/Singapore/7/79/H1N2....

Trước hết gọi týp virus, động vật cảm thụ (nếu là động vật), địa danh phân lập virus, số bệnh phẩm phân lập được virus, năm phân lập virus và cấu trúc H và N.

1.4. Phản ứng lý hóa của virus cúm

Virus cúm tương đối vững bền với nhiệt độ; ở 0°C đến 4°C, sống được vài tuần, ở -20°C và đông khô virus cúm sống hàng năm. Dễ diệt virus cúm ở 56°C. Dễ diệt với các dung môi hoà tan lipid: Ether, β-propiolacton, formol,... Các tia tím bất hoạt virus cúm nhưng không phá huỷ kháng nguyên nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn bào thai và hoạt tính của H và N. Với pH thì vững bền từ 4 đến 9.

2. LÂM SÀNG

Đốì tượng cảm thụ với bệnh là những người khỏe mạnh không có kháng thế kháng virus cúm. Triệu chứng của một bệnh cảm lạnh: sốt nhẹ, hắt hơi, đau đầu, ho, xuất tiết nhiều lần sau thòi gian ủ bệnh từ 1 đến 5 ngày. Với trẻ em nhiễm virus cúm cũng có dấu hiệu lâm sàng như trên, nhưng ở trẻ em nhỏ nhiễm trùng có thể sốt cao, co giật, viêm dạ dày-ruột. Bệnh ở trẻ sơ sinh còn nặng hơn với các triệu chứng: viêm cơ tim, viêm phổi và có thể có những biến chứng khác: viêm tai, viêm phổi, thậm chí tới viêm não-dẫn tới tử vong. Bệnh ở đường hô hấp do virus cúm thường có kèm bội nhiễm vi khuẩn; do đó, bệnh nặng lên gấp bội.

Virus cúm týp A thường gây đại dịch với chu kỳ 7 đến 10 năm; cúm týp B thường chỉ gây dịch nhỏ hơn với chu kỳ 5 đến 7 năm. Riêng virus cúm týp C chỉ gây các triệu chứng lâm sàng không điển hình và tạo các vụ dịch nhỏ ở những tập thể mới hình thành. Sau mỗi vụ dịch thường xuất hiện kháng thể trong quần thể và gây miễn dịch đặc hiệu với thứ týp virus. Sau những thời gian thích hợp, các cấu trúc kháng nguyên H hoặc N có thể thay đổi, kháng thể miễn dịch cũ không còn tác dụng với kháng nguyên mới.

3. DỊCH TỄ HỌC

- Virus cúm lan truyền từ người sang người qua đường hô hấp. Virus nhân lên trong đường hô hấp sau 4 đến 6 ngày nhiễm trùng. Virus đạt hiệu giá tối đa sau 48 giờ. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân từ tháng giêng đến tháng 4. Trong những năm 1889-1890, 1918-1919, 1957 và 1968 đã có những đại dịch do virus A girusa. Virus cúm cũng có thể lây từ động vật sang người.

4. CHẨN ĐOÁN TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

4.1. Chẩn đoán trực tiếp

• Bệnh phẩm được lấy vào những ngày đầu của bệnh là nước xuất tiết đường mũi họng.

• Bệnh phẩm được nuôi cấy trong tế bào như tế bào bào thai gà, thận khỉ và phổi người hoặc tế bào thường trực Vero, LLC-MK2.

• Sự nhân lên của ARN virus xảy ra trong nhân tế bào, các thành phần khác xảy ra ở bào tương tế bào hoặc trong màng ối của bào thai gà từ 8 tới 12 ngày. Xác định sự có mặt của virus cúm bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu.

• Định týp virus bằng phản ứng trung hòa trong tế bào hoặc ức chế ngưng kết hồng cầu với các kháng thể mẫu.

Cũng có thể chứng minh sự có mặt của virus bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp bằng kháng thế mẫu gắn huỳnh quang.

Các triệu chứng của virus cúm.

4.2. Tìm kháng thể kháng cúm

Kháng thể kháng cúm thường tìm được bằng phản ứng kết hợp bố thể, ức chế ngưng kêt hồng cầu, ELISA, và trung hoà. Kháng thế cần phải tìm sớm, vào tuần lễ đầu và sau 10 ngày sau lần lấy máu để tìm động lực kháng thế. Kháng thể lần sau phải tăng gấp 4 lần so với lần đầu mới được xác định là bệnh nhân bị bệnh cúm. Kháng thể cúm thường giảm mất một nửa hiệu giá sau vài tuần, do vậy phản ứng phải làm đúng thời gian, nhất là với phản ứng kết hợp bổ thể.

5. NGUYÊN TẮC PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ

Trong vụ dịch có thể dùng amantadin hydrochlorid để phòng bệnh có hiệu quả, nhất là với cúm A. Thuốc amantadin hydrochlorid còn được sử dụng để điều trị bệnh nhân đã nhiễm trùng có hiệu quả ở đường hô hấp. Tuy vậy, đáng tiếc amantadin không điều trị được các biến chứng của bệnh cúm. Interferon chưa có hiệu quả điều trị với virus cúm.

Tiêm phòng: vacxin virus bất hoạt týp A và týp B được sử dụng cho những người kháng thể âm tính. Tuy vậy, kháng thể được hình thành chỉ kháng lại virus vacxin, không miễn dịch chéo với thứ týp mới và không tồn tại lâu dài.

Ngoài các phương pháp phòng bệnh đặc hiệu kể trên trong vụ dịch cần cách ly bệnh nhân, xử lý các chất thải từ đường hô hấp của bệnh nhân và vô trùng các dụng cụ, quần áo của bệnh nhân.

 

Nguồn tham khảo

Vi Sinh Vật Y Học (GS.TS. Lê Huy Chính)

Quan tâm  
4

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Con Rươi - Tylorrhynchus heterochaetus
Con Rươi hay còn gọi là Rươi Biển, Địa Long là loại thường hay được khai thác ở Việt Nam để chế ra các món ăn đặc trừng vùng miền, Rươi có tên khoa học là Tylorrhynchus heterochaetus, thường số trong cát sỏi, mép khe đá hay đáy bùn...
7 Kỹ Năng Sống Sót Nên Luyện Hàng Ngày Để Đảm Bảo An Toàn Tính Mạng Cho Chính Bản Thân Bạn
Cuộc sống luôn tồn tại những điều bất ngờ mà bạn không thể lường trước được. Hãy học cách quan sát và phân tích kỹ tình hình trước khi bạn làm một việc gì đó và nếu muốn bảo đảm sự an toàn tính...
Lê Yên Thanh: Từ Chối Làm Việc Ở Google, Trở Về Việt Nam Khởi Nghiệp
Từ chối làm việc ở Google, trở về Việt Nam tham gia khởi nghiệp với mức lương thấp hơn gấp 10 lần. Điều gì khiến nhà khoa học trẻ Lê Yên Thanh làm như vây?
Phế Cầu Khuẩn - Streptococcus Pneumoniae
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là một loài vi khuẩn Gram dương thuộc chi Streptococcus. S. pneumoniae cư trú nhưng không gây ra bệnh trong mũi họng của người khỏe mạnh. Tuy nhiên, ở những người nhạy cảm, chẳng hạn như người già và...
Những Thí Nghiệm Tàn Khốc Nhất Trong Lịch Sử Loài Người
Để có được những thành tựu khoa học như hiện nay, không ít những loài vật đã bị đem ra làm thí nghiệm, và chúng phải chịu cảnh đau đớn, mù lòa, tàn tật suốt đời hoặc tử vong ngay lập tức. Dưới đây xin điểm lại những thí...
Nano Membrane Toilet: Loại Bồn Cầu Không Cần Dùng Nước
Bill Gates lại gây bất ngờ khi ông giới thiệu loại bồn cầu có tên Nano Membrane Toilet, đây là thiết bị "relax" không cần dùng nước, chi phí chưa đến 0.01 USD/ngày, giúp tiết kiệm cho thế giới 233 tỷ USD/năm.
Penicillium
Penicillium là một chi nấm có tầm quan trọng lớn trong môi trường tự nhiên cũng như sản xuất thực phẩm và thuốc. Vài thành viên của chi được dùng để sản xuất penicillin - một kháng sinh có thể giết chết hoặc ngừng sự phát triển...
Rùa Cá Sấu: Loài Rùa Nước Ngọt Lớn Nhất Hành Tinh và Có Lực Cắn Đến Rợn Người
Với lực cắn gấp 4 lần cá sấu. Các loài như: sư tử, báo đốm, cá mập, hổ,... đều phải gọi Rùa Cá Sấu bằng "cụ". Vì thế mà nó được tôn là "phiên bản sống" của khủng long thời tiền sử.
Trung Quốc Phát Triển Robot AI Quyết Định Sinh Mạng Bệnh Nhân Đang Hôn Mê
Tại bệnh viện công PLA của Trung Quốc, người ta phát triển một loại robot AI để xác định một người nào đó đang hôn mê có thể tỉnh lại một lần nữa hay không, loại máy mọc này có thể chẩn đoán chính xác lên đến 90%.