Thứ sáu, 23/06/2017 10:06 AM

Cây Ngải Cứu - Artemisia Vulgaris

Thứ ba, 19/01/2016 12:42 PM

Mô tả: Cây thảo sống dai, cao khoảng 1m, thân có rãnh dọc. Lá mọc so le, xẻ nhiều kiểu, từ xẻ lông chim đến xẻ thuỳ theo đường gân, mặt trên xanh đậm, mặt dưới trắng xanh, có lông. Hoa đầu màu lục nhạt, xếp thành chùm xim.

Mùa hoa quả tháng 10-12.

Cây Ngải Cứu - Artemisia Vulgaris
Cây Ngải Cứu - Artemisia Vulgaris

Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất và lá hay Ngải diệp - Herba et Folium Artemisiae Vulgaris.

Nơi sống và thu hái: Cây của miền Âu Á ôn đới, mọc hoang và thường được trồng. Thu hái các ngọn cây có hoa và lá, dùng tươi hay phơi trong râm cho đến khô dùng dần. Nếu tán nhỏ rồi rây lấy phần lông trắng và bột, gọi là Ngải nhung dùng làm mồi cứu.

Thành phần hoá học: Trong cây có tinh dầu (0,2-0,34%) mà thành phần chủ yếu là cineol, -thuyon, dehydro matricaria este, tetradecatrilin, tricosanol, arachol alcol, adenin, cholin.

Trong cụm hoa có tinh dầu với hàm lượng cineol cao nhất, ở các chồi tươi và khô, hàm lượng cineol có khi tới 30%.

Cây Ngải Cứu - Artemisia Vulgaris
Hoa Cây Ngải Cứu - Artemisia Vulgaris

Tính vị, tác dụng: Ngải cứu đã phơi hay sấy khô có vị đắng, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng điều hoà khí huyết, trừ hàn thấp, ôn kinh, an thai, cầm máu.

Ở Ấn Độ, người ta cho biết cây có tác dụng điều kinh, trị giun, kháng sinh và lợi tiêu hoá; rễ bổ và kháng sinh.

Công dụng: Thường dùng chữa: Chảy máu chức năng tử cung (băng huyết, lậu huyết, bạch đới ở phụ nữ do tử cung lạnh), đe doạ sẩy thai; Đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt khó khăn do thiếu máu và các nguyên nhân khác. Dùng ngoài trị bụng lạnh đau, đau dạ dày, đau khớp, eczema, ngứa.

Cách dùng: Dùng tươi hay phơi khô tán thành bột, hãm hoặc sắc uống. Ngày dùng 6-10g. Thường phối hợp với Ích mẫu, Cỏ gấu để điều hoà kinh nguyệt. Phối hợp với Gừng sống trị hàn lỵ ra huyết. Phối hợp với Hà thủ ô (liều bằng nhau), Phèn phi (2/10), kẹo Mạch nha làm hoàn làm thuốc bổ máu, trị sốt rét kinh niên. Có thể trộn bột Ngải cứu với Mạch nha, mật ong làm thuốc bổ máu. Ngải cứu khô ngâm với rượu trắng hay nước cơm rượu nếp dùng uống hoạt huyết, bổ huyết. Lá Ngải cứu hơ nóng chườm bụng trị đau bụng, dùng gối đầu trị đau đầu. Nước Ngải tươi giải nóng, giải nhiệt. Có thể nấu thành cao, dùng riêng hoặc phối hợp với các loại thuốc khác.

Quan tâm  
2

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Cách Cấp Cứu Xuất Huyết Dạ Dày Khẩn Cấp
Trường hợp xấu khi dạ dày bị xuất huyết, bệnh nhân bị mất máu nhiều đột ngột gây nguy hiểm đến tính mạng. Để tránh ảnh hưởng xấu nhất, lúc này bạn cần biết cách cấp cứu xuất huyết dạ dày khẩn cấp đúng đắn và kịp...
9 Bài Thuốc Trị Bệnh Từ Cây Ngải Tím
Ngải Tím hay còn gọi là Nghệ Đen, tên thuốc là Nga Truật. Nó có vị đắng, tính cay, mùi hăng, tính ấm, tác dụng hành khí, thông huyết, tiêu thực, mạnh tì, kích thích tiêu hóa, tiêu viêm, tiêu xơ.
Cây Nấm Phiến Đốm Chuông - Panaeolus Campanulatus
Nấm Phiến Đốm Chuông mọc trên phân hoại mục ở các bãi cỏ từ tháng giêng tới tháng 9, thường riêng lẻ hoặc họp thành nhóm nhỏ. Có gặp ở Hà Nội, Hải Hưng. Lớp thịt mỏng, màu da sơn dương. Thịt không mùi, chứa những chất...
Cây Nhó Đông - Morinda Longissima
Cây Nhó đông (Morinda longissima) có vị đắng, màu vàng, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kiện tỳ, hoạt huyết, tiêu viêm, tán ứ, chữa viêm gan, vàng da, xơ gan.
10 Dấu Hiệu Chứng Tỏ Cơ Thể Bạn Có Quá Nhiều Độc Tố Cần Thải Độc Ngay
Nếu bạn thường xuyên mất ngủ, luôn trong tình trạng mệt mỏi, thiếu năng lượng, béo bụng... thì đó chỉ là một số trong 10 dấu hiệu giúp bạn nhận biết cơ thể đang có quá nhiều độc tố đấy và việc bạn...
Cách Làm Trà Lá Sen Giúp Giảm Cân Hiệu Quả
Nếu bạn đã biết tới công dụng của hạt sen, ngó sen thì nay, bạn sẽ biết thêm công dụng giảm cân cực hiệu quả từ lá sen nữa. Hè đến, cùng học cách làm trà lá sen với chúng tôi nhé!
Y Ngư
Loài côn trùng bé chỉ bằng hai hạt gạo, thân dài thon, có râu trên đầu, nhiều chân, màu trắng hoặc xám bạc, thường bò ra từ vải cũ, giấy tờ cũ, hoặc quần áo bẩn, đồ đạc bám bụi.
Đậu Nành
Đậu nành, tên Hán-Việt là Hoàng đại đậu là hạt của Cây Đậu Tương (Glycine Max) có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau lan sang Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên... Theo Đông y, đậu nành có vị ngọt, khí bình, không độc, có công dụng kiện...
Quan Âm Cứu Khổ Tán
Quan Âm Cứu Khổ Tán chữa mọi trường hợp đẻ khó đẻ ngang đẻ ngược và con chết trong bụng không ra.
Cây Ngải Tượng
Cây Ngải Tượng hay còn gọi là Cây Bình vôi có tác dụng an thần, trấn kinh, chữa mất ngủ, sốt nóng, nhức đầu, khó thở, chữa đau dạ dày. Trong huyền môn thì nó được dùng để gọi người trở về, trông giữ của cải cho gia chủ...