Thứ sáu, 14/12/2018 4:57 AM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Tai

Thứ ba, 13/02/2018 6:26 PM

Chẩn đoán tai là phương pháp thông qua quan sát hình thái bên ngoài, vị trí, to nhỏ, dày mỏng, màu sắc mạch máu và các "vật phản ứng dương tính" khác của tai (như mụn nốt, chất thoát ra, nếp nhăn...), hoặc đùng tay sờ vào sự thay đổi hình thái của nó; hoặc dùng bút thử, que thử vấn vào các huyệt vị trên vành tai để kiểm tra điểm ấn đau dương tính; hoặc dùng máy trắc lượng tin tức phần tai để trắc lượng những thay đổi tin tức của tai; hoặc đùng nhiễm sắc dịch đặc chế tiến hành nhiễm sắc huyệt tai để quan sát sự thay đổi màu sắc huyệt tai để dự đoán mức độ thọ yểu, chẩn đoán bệnh tật, phần đoán diễn biến và phát triển của bệnh. Chẩn tai thấy sớm nhất là trong "Nội kinh", về sau các thời đại đều có phát triển, như trong sách "Lý chính xoa bóp yếu thuật" do Trương Chấn Vân đời Thanh biên soạn, là lý luận sớm nhất nêu lên vành tai phân thuộc ngũ tạng, đồng thời vẽ nên sơ đồ vành tai, có ảnh hưởng rất lớn ở đời nhà Thanh. Trong sách "Vọng chẩn tôn kinh" do Uông Hồng biên soạn, có 1 tiết chuyên nêu về "Vọng nhĩ chẩn pháp đề cương", bàn về vọng chẩn vành tai, không chỉ đưa ra quan điểm lấy sự thay đổi sắc trạch phần tai phân thuộc ngũ hành ứng với ngũ tạng, mà còn cho rằng phân biệt được hình tai có thể biết được hàn, nhiệt, hư, thực, và nói rằng: "Hạ tiêu tất vành tai khô đét; Tràng ung tất vành tai kết vẩy; Bệnh thận tiền, tai tất khô cháy; Thận tiền chết tai, tất là cháy đen".

Quan sát hình thái bên ngoài, vị trí, to nhỏ, dày mỏng, màu sắc mạch máu... của tai để chẩn bệnh là
phương pháp định bệnh rất hay.

Từ giữa thập kỷ 1920 đến nay, công tác nghiên cứu chẩn đoán tai trên thế giới đã thu được thành tích to lớn, đến năm 1957, sau khi giáo sư P.Nogier người Pháp giới thiệu sơ đồ huyệt tai hình giống một phối thai ngược, thì ở Trung Quốc đã xuất bản một loạt sách như "Nhĩ châm" của bộ đội Nam Kinh, "Nhĩ châm" của nhóm Trần củng Tôn, "Chẩn đoán và điều trị vành tai" của Lưu Sử Bội, "Tổng thuật nguyên lý chẩn trị bệnh huyệt tai" của Quản Tôn Tín, "Sổ tay chẩn trị học huyệt tai thực dụng" của nhóm Cổ Lệ, "Phương pháp chẩn trị huyệt tai" của Lý Chí Minh, "Thực dụng nhĩ châm" của Vương Chiếu Hạo, "Tiễn minh nhĩ châm học" của úy Trì Tỉnh, "Nhĩ châm liệu pháp" của Lưu Phúc tín, "Nhĩ huyệt chẩn đoán trị liệu học" của Hoàng Lệ Xuân, và cả những tác phẩm chuyên môn liên quan đến chẩn học tai "Nhĩ huyệt chẩn đoán học" do Hiệp hội Chẩn đoán học Huyệt tai biên soạn năm 1990, ghi rõ tường tận các bệnh ở các khoa nội, ngoại, phụ khoa, nhi khoa, ngũ quan phản ánh lên vành tai, đồng thời có gần 150 chương luận văn phát biểu đăng trên các tạp chí chuyên ngành y học của Trung Quốc. Năm 1987, Hội Châm cứu học Trung Quốc đã được sự ủy thác của Tổ chức Y tế Thế giới văn phòng khu tây Thái Bình Dương, đã chế định "phương án tiêu chuẩn hóa huyệt tai" và đã được các nhà y học các nước thừa nhận. Hiện nay phương pháp chẩn tai cũng từ phương pháp nhìn chẩn đoán huyệt tai đơn lẻ phát triển thành phương pháp nhìn chẩn đoán huyệt tai bao quát, phương pháp sờ chẩn huyệt tai, phương pháp ấn huyệt tai, phương pháp điện trắc định huyệt tai, phương pháp nhiễm sắc huyệt tai, phương pháp phân tích nguyên nhân đau tai, phương pháp trắc định biết độ nhiệt cảm huyệt tai, phương pháp trắc định nhiệt độ tai, phương pháp ấn đau huyệt tai, phương pháp phản xạ tâm tai..., và đã được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Quan hệ mật thiết của tai với kinh lạc: "Linh khu. Tà khí tạng phủ bệnh hình" nói rằng: "12 kinh mạch, 365 lạc, khí huyết của nó đều lên mặt và đi vào các khiếu... khí riêng của nó đi vào tai để nghe". Chứng minh mối quan hệ giữa tai với kinh lạc là vô cùng mật thiết. Trong 12 kinh mạch thì thủ, túc tam đường kinh đều tuần hành trực tiếp ở tai, trong đó túc dương minh vị kinh "Thượng nhĩ tiền"; "thủ thái dương tiểu tràng kinh... chi của nó lại vào trong tai"; "túc thái dương bàng quang kinh... từ đỉnh đến góc trên tai"; thủ thiếu dương tam tiêu kinh "chi của nó... lên gáy, vào hệ tai, thẳng lên góc trên tai, vào tai sau, vào tai giữa, đi ra tai trước"; "thủ dương minh chi biệt... vào tai, hợp vào tông mạch", túc thiếu dương đảm kinh "chi của nó từ sau tai vào giữa tai đi ra trước tai". Ngoài ra, gân của túc dương minh, gân của túc thiếu dương, gân của thủ thái dương, gân của thủ thiếu dương đều tuần hành ở tai. Thủ túc tam âm kinh thì thông qua chi biệt (kinh biệt) của nó hợp với dương kinh mà nối liền với tai. "Tố vấn. Mậu thích luận" nói rằng: "Lạc của 5 kinh là thủ thiếu âm, thái âm và túc dương minh đều hội ở giữa tai". Chứng minh 12 kinh mạch đều trực tiếp hoặc gián tiếp phát sinh quan hệ với tai. Cho nên, "Linh khu", "Tố vấn" nói rằng: "Tai là nơi tụ hội của tông mạch". Nghiên cứu thực nghiêm hiện đại đã nêu rõ, trong 48 đường kinh mà ta quan sát có 42 đường kinh có phát sinh quan hệ truyền cảm với huyệt tai, chiếm 87%, nêu lên mối liên hệ truyền cảm giữa huyệt tai ứng với kinh lạc là sự tồn tại khách quan. 12 kinh mạch và kinh khí của âm khiêu, dương khiêu mạch đều thông lên ở tai, do đó thông qua mối liên hệ của kinh lạc, vành tai là cánh cửa phản ánh sinh lý và bệnh lý của tạng phủ.

2. Mối quan hệ mật thiết giũa tai và tạng phủ: Tai là một vị trí quan trọng bên ngoài cơ thể liên hệ với nội tạng. Trong ngũ tạng thì mối quan hệ giữa tai với thận, tâm là mật thiết nhất. Tai thuộc thận sở chủ, thận khai khiếu ở tai, "Tố vân. Âm dương ứng tượng đại luận" nói rằng: "Thận chủ tai, khiếu của thận là tai". "Linh khu. Mạch độ" nói rằng: "Thận khí thông ở tai". "Nan kinh", "Trung tạng kinh" cũng cho rằng tai là biểu hiện triệu chứng bên ngoài của thận. Trong "Nan kinh. Tứ thập nan" nói rằng: "Tai là triệu chứng của thận". "Trung tạng kinh" nói: "Thận là ngôi nhà của tinh thần, là gốc của tính mệnh, thông với ngoài ở tai". Đủ thấy tai có quan hệ đặc thù với thận.

Còn về mối quan hệ của tai với tim, "Tố vấn. Kim quỹ chân ngôn luận" nói rằng: "Tâm khai khiếu ở tai, tàng tinh ở tâm". Còn như ý nghĩa của tâm khai khiếu ở tai, trong "Châm cứu giáp ất kinh" đời nhà Tấn cho rằng, khí của tâm vốn thông qua lưỡi, ngũ tạng đều có khiếu, lưỡi không khiếu, cho nên khiếu của tâm ký gửi ở tai; trong "Thái tố" của Dương Thượng Thiện đã chỉ rõ tâm khai khiếu ở tai là do "thận là thủy, tâm là hỏa, thủy hỏa tương tế, khi tâm thông ở tai, cho nên mới nói là khiếu của nó, tức là tâm lấy tai làm khiếu". Qua quan sát thực nghiệm hiện đại đã chứng minh sự kích thích truyền cảm của thủ thiếu âm tâm kinh có thể truyền lên vành tai, nêu rõ giữa tâm và tai quả thực lấy kinh lạc làm môi giới, giữa tâm và tai luôn tồn tại mối quan hệ mật thiết.

Ngoài ra, can tàng huyết, tai được huyết mới có thể nghe được. Tâm chủ huyết, phế chủ khí, tâm phế cùng điều khiển tông khí, phế trào bách mạch, tông khí xuyên lên đến tai, tai mới có thể nghe. Tỳ vị là trục giữa của sự thăng giáng, tỳ vị điều khiển thăng giáng, khí của thanh dương thông suốt đến tai, tai mới có thể thông biện. Vì vậy, tai không chỉ là thận khiếu, tâm khiếu, đồng thời còn là can khiếu, phế khiếu, tỳ khiếu. Tai tuy là một bộ phận nhỏ của cơ thể, diện tích chẳng qua chỉ chiếm 1% toàn bộ cơ thể mà thôi, vậy mà do mốì quan hệ mật thiết của tai với tạng phủ, nên tai có tác dụng dự báo toàn bộ tin tức sinh lý, bệnh lý của tạng khí toàn thân. Trên thực tế, dưới tai có mạch máu thần kinh rất phong phú, có muôn vàn sợi dây liên hệ với não và các tổ chức của cơ thể. Các nhà ỵ học hiện đại từ góc độ sinh lý học thần kinh, thể dịch học thần kinh, học thuyết khống chế sinh vật, học thuyết điện sinh vật, đã chứng thực mốì quan hệ huyệt tai với kinh lạc tạng phủ. Cho nên các bệnh biến của tổ chức tạng phủ có thể phản ánh ở tai, thông qua quan sát tai có thể phần đoán biết khá sớm nội tạng bị bệnh.

Nghiên cứu hiện đại cung đã chứng minh mốỉ quan hệ giữa thận và tai.

Các học giả hiện đại thông qua nghiên cứu thực hiện đã chứng thực mối quan hệ giữa thận và tai. Nếu tai trong có các chất loại kháng sinh độc tố loại glucôxít (như canamixin, gìăngtamixin, độc tố axít sunphuaric...) đối với thận cũng có tác dụng độc tính; thuốc lợi tiểu ức chế chức năng thận, đồng thời có thể dẫn đến điếc tai. Dùng thuốc để chụp X quang thận (như thuốc hiện ảnh amôniac) để điều trị điếc tai đột phát cũng có công hiệu nhất định. Các bệnh nhân bị suy thận, tách ghép thận xuất hiện thính lực bị giảm; trở ngại chức năng thận bẩm sinh, thường kèm theo điếc tai bẩm sinh. Dùng thuốc Đông y để bổ dưỡng gan thận và điều trị chứng ù tai, điếc tai cũng thu được công hiệu; dùng chất muối kích thích để điều tiết chức năng thận như chất anđểhit xêtôn đã làm giảm rất rõ ràng axít uric trong tai, có tác dụng khống chế điện sinh vật trong tai, mà trong ốc tai và tiền đình hàm chứa chất anđểhit xêtôn; người bị thận dương hư, chức năng tuyến giáp trạng suy giảm, người bị suy giảm chức năng tuyến giáp trạng tính bẩm sinh, sự phát triển tai giữa bị trở ngại, suy giảm thính lực....

Tất cả các Vấn đề trình bày trên đây, nói lên rằng, vành tai là một màn huỳnh quang quan trọng trong các khiếu bề ngoài của cơ thể, là nơi chuyển vận tin tức ra vào mạnh nhất, là một trong nhũng nơi tập trung nhất các nguồn tin tức ra vào. Tai là hình ảnh thu nhỏ của các tổ chức cơ quan tạng phủ cơ thể. Các cơ quan tạng khí đều có điểm phản ánh tập trung ở các vị trí trên phần tai, các tổ chức tạng phủ có bệnh tất sẽ phản ánh ở tai. Vì vậy, quan sát tai có thể thấy hiểu được bệnh tật của nội tạng. Xem sơ đồ phân bố huyệt tai ở hình 1-45; sơ đồ phân bố khu huyệt theo tiêu chuẩn hóa huyệt tai hình 1-46; sơ đồ tương quan giữa tai với tổ chức tạng phủ xem hình 1-47.

[Phương pháp kiểm tra]

Có nhiều phương pháp kiểm tra phần tai, nay xin giới thiệu mấy phương pháp kiểm tra thường vận dụng trong lâm sàng như sau:

1. Phương pháp vọng chẩn: Là phương pháp kiểm tra bằng mắt thường kiểm tra những thay đổi về sắc trạch, hình thái và sự thay đổi các mạch máu, nốt mụn, các chất thoát rụng... (chất phản ứng dương tính) xuất hiện trên da vành tai và phần tai và mức độ to nhỏ, dày mỏng của các gò mụn và chất phản ứng dương tính đó, đồng thời căn cứ vào vị trí huyệt tai trên tai để đưa ra chẩn đoán các bệnh tật. Trước khi vọng chẩn nhất thiết không cọ xát, tắm rửa phần vành tai, kiểm tra dưới ánh sáng đầy đủ, tốt nhất là dưới ánh sáng tự nhiên, đồng thời cố gắng phân biệt rõ các nốt ruồi, mụn cơm, mụn mủ nhỏ, vết nứt nẻ vì lạnh, các vết sẹo... giả tượng trên vành tai, đồng thời cần chú ý mối quan hệ giũa khí hậu với vật phản ứng dương tính trên vành tai và mức độ ra mồ hôi.

2. Phương pháp sờ chẩn đoán: Bao gồm phương pháp sờ và ấn đau. Phương pháp sờ đoán là dùng tay trái sờ nhẹ lên vành tai bệnh nhân, dùng bụng ngón tay cái đặt vào trên huyệt tai được kiểm tra, ngón tay trở đỡ vào vị trí đốì ứng ở lưng tai, 2 bụng ngón tay cùng phối hợp tiến hành xoa bóp; hoặc dùng que thăm dò trắc định để ấn đau vào huyệt tai, hoặc dùng máy trắc định huyệt tai và hơi dùng lực ấn nhẹ vào huyệt tai, xem giao động của kim đồng hồ nhận biết được sự thay đổi hình thái của huyệt tai. Khi sờ nắn chú ý có bị lồi lên, lõm xuống hay không, vết ấn và độ nông sâu của nó và sự thay đổi sắc trạch của huyệt tai. Khi sờ nắn trên trước dưới sau, trong trước ngoài sau, phải trước trái sau, tiến hành theo vị trí giải phẫu vành tai, tai phải chủ yếu là các huyệt gan, mật, dạ dầy, hành tá tràng, ruột thừa; tai trái chủ yếu là các huyệt tuyến tụy, tim, lách, tiểu tràng và đại tràng.

Phương pháp ấn đau là bác sĩ dùng tay trái đỡ nhẹ phía lưng tai người bệnh, tay phải cầm que thăm dò, hoặc đầu bút tròn... dùng từ 50 - 100 gam lực ấn đều các huyệt ở vành tai; đồng thời quan sát phản ứng đau đớn của người bệnh, từ đó tìm ra huyệt tai nào nhậy cảm với lực ấn đau. Khi dùng phương pháp ấn đau kiểm tra ở vòng xung quanh chân vành tai, khu đặc dị khối u, ốc tam giác, còn phải dùng phương pháp vạch vết, tức là dùng lực như trên vạch đầu bút lên vị trí được kiểm tra, để kiểm tra phản ứng đau đớn của người bệnh, đồng thời căn cứ vào màu sắc đỏ, trắng của vết vạch và tốc độ hồi phục nhanh hay chậm của vết lõm vạch để quyết định hư thực của bệnh chứng.

3. Phương pháp trắc định điện: Là dùng máy chẩn đoán tin tức hoặc máy thám trắc huyệt tai, thông qua kiểm tra sự thay đổi điện sinh vật huyệt tai đồng thời lấy điện trở thấp (là tín hiệu dương tính) để làm tài liệu tham khảo bệnh chứng của vị trí cơ thể, tạng phủ, cho nên gọi là phương pháp lương đạo, các điểm huyệt được kiểm tra cũng gọi là lương đạo điểm.

Khi trắc định, trước hết mở máy, đặt cực âm trên đầu ngón tay hoặc cổ tay bệnh nhân, đưa cực thăm dò để kiểm tra các huyệt vị phần tai. Trước hết dùng dòng một chiều kiểm tra thử bộ phận, sau dùng dòng xoay chiều kiểm tra thử bộ phận (tốt nhất là dùng dòng một chiều). Kiểm tra tai trái trước, tai phải sau, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Ghi lại toàn bộ kết quả kiểm tra, rồi tiến hành xử lý quy nạp, phân tích tổng hợp..., cuối cùng ghi vào phiếu báo kết quả.

4. Phương pháp nhiễm sắc huyệt tai: Là một phương pháp chẩn tai trực quan dùng dịch nhiễm sắc và kỹ thuật hoạt tính để nhiễm sắc tương ứng làm cho huyệt tai tương ứng với tạng phủ bị bệnh bị tô màu. Phương pháp này là dùng một loại nhiễm từ các hợp chất như amoniăc đen 10B 0,5 gam, 50mg rượu metanon, 10mg axit axetic lạnh, 50mg nước cất hỗn hợp với nhau mà phối chế thành, đựng kín trong bình thủy tinh. Khi nhiễm sắc theo thứ tự dùng dung dịch axit sunphuric 4% natri nhẹ, dung dịch thuốc tím 0,3%, nước cất rửa sạch phần tai, sạch hết bẩn dầu mỡ, sau đó dùng bông vê tròn có tẩm dịch nhiễm sắc đặt vào khoang tai dán chặt vào da, duy trì tô màu trong thời gian 2', lại dùng rượu metanon, axit axetic, nước cất với tỷ lệ 5:1:5 phối chế thành thuốc khử màu để tẩy màu, trở lại như cũ, sau đó ghi lại, vẽ sơ đồ. Hình dạng nhiễm màu của huyệt tai có dạng chấm, dạng mảnh, dạng đường, dạng vòng, hoặc dạng ban hoa... trước khi nhiễm sắc, chú ý không nên gây ma sát, ấn bấm huyệt tai, mà nhiễm sắc cần phải tiến hành theo thứ tự, từng bước đều không thể bỏ qua.

Các phương pháp chẩn đoán huyệt tai trên đây khi ứng dụng trong lâm sàng, có thể tham chiếu lẫn nhau, đồng thời có thể căn cứ theo các phương pháp 1 - Xem (vọng chẩn), 2 - sờ (xúc chẩn), 3 - Ân (ấn đau), 4 - Điện (điện trắc) để tiến hành thứ tự kiểm tra. Như vậy không chỉ loại trừ được các loại điểm giả dương tính, mà còn chỉ có sau khi phân tích toàn diện sự xuất hiện các loại phản ứng dương tính, mới có được kết luận tương đốì chính xác. Phân tích tổng hợp tin tức phần tai có thể chia làm 3 bước: Một là dựa theo hệ thống huyệt mẫn cảm và khí quan tạng phủ để tiến hành quy loại, trong mỗi hệ thống tìm ra điểm mạnh nhất, đưa ra chẩn đoán sơ bộ. Hai là căn cứ vào mốì quan hệ nội tại giữa hệ thống này với một hệ thông khác, lấy tín hiệu mạnh nhất làm trung tâm, bỏ giả lấy thật, loại trừ giả dương tính, đưa ra chẩn đoán sơ bộ. Ba là kết hợp triệu chứng lâm sàng với bệnh sử để tiến hành chẩn đoán cuối cùng. Tiến hành phân tích lâm sàng, nên tiến hành theo mấy phương diện dưới đây:

(1) Căn cứ vào lý luận học thuyết tạng tượng để tiến hành phân tích: Như người bị gẫy xương, ở huyệt thận có phản ứng dương tính; người bị viêm dạ dầy, ở huyệt gan có tín hiệu dương tính; có thể căn cứ vào lý luận "thận chủ cốt", "can khí phạm vị" để tiến hành phân tích.

(2) Căn cứ vào học thuyết hình phối thai đảo ngược để tiến hành phân tích: Rất nhiều huyệt tai là căn cứ theo học thuyết hình phối thai đảo ngược để tiến hành định vị và đặt tên. Nếu ở khu dạ dầy hoặc khu gan xuất hiện tín hiệu dương tính, có khả năng là bệnh dạ dầy và bệnh gan. Nếu ở giữa 2 huyệt xuất hiện tín hiệu dương tính, theo định vị quan hệ hình chiếu thường khó xác định chẩn đoán chính xác vị trí xuất bệnh. Nếu khi bị bệnh ở cột sống, có thể dựa vào đại thể quan hệ hình chiếu để phần đoán vị trí phát bệnh ở đốt xương thứ mấy.

(3) Căn cứ vào huyệt vị trí đặc định để tiến hành phân tích: Trong các huyệt tai có một số huyệt vị có tính đặc dị, đại diện của một loại bệnh hoặc một loại triệu chứng khác biệt, có thể dùng để phân biệt dạng cấp, mạn tính của một loại bệnh tật nào đó. Nếu điểm phế quản mở rộng, có thể phần đoán phế quản giãn nỏ; điểm 1 gan dương hoặc điểm 2 gan dương, có thể phân biệt viêm gan cấp và mạn tính....

(4) Căn cứ tham khảo chẩn đoán huyệt của các loại bệnh tật để tiến hành phân tích: Như trải qua tích lũy lâu ngày các tư liệu chẩn đoán lâm sàng và quan sát nhiều trường hợp bệnh lâm sàng, phát hiện ở huyệt của những người bệnh viêm thận có tỷ lệ xuất hiện rất cao các triệu chứng thận, điểm viêm thận, bàng quang, ống dẫn niệu, điểm đau lưng..., ta dùng nó để làm huyệt tham khảo quan trọng để chẩn đoán viêm thận.

(5) Căn cứ vào lý luận sinh lý, bệnh lý của y học hiện đại để tiến hành phân tích: Nếu bị viêm loét hành tá tràng, phản ứng chủ yếu trên vành tai lấy hệ thông tiêu hóa là chính, tín hiệu mạch tập trung ở hành tá tràng. Ngoài những điều trên, y học hiện đại cho rằng, viêm loét hành tá tràng có quan hệ đến rối loạn chức năng màng não, cho nên dưới màng thường có tín hiệu dương tính. Bệnh này đa số là sự hưng phấn của thần kinh tăng cao, chất phân tiết dạ dày tăng lên, dẫn đến việc tiết axit dạ dầy quá nhiều gây ra. Cho nên khi thử nghiệm ở huyệt giao cảm, thần môn, tín hiệu phản ứng khá mạnh; lại do bởi có phản xạ đau mà ở huyệt vai, lưng, eo... cũng sẽ có xuất hiện phản ứng dương tính.... Cho nên trong chẩn đoán tin tức, trước hết cần tìm hiểu những thay đổi này, để tiện cho việc nắm vững linh hoạt khi chẩn đoán bệnh tật.

[Vận dụng lâm sàng]

1. Vọng chẩn vành tai

1. Sắc trạch: vỏ tai hồng nhuận, là thận âm sung túc bẩm sinh, vành tai màu trắng thuộc hàn chứng, thường thấy bị phong hàn bạo phát, hoặc hàn tà trực trùng. Tai mỏng mà trắng là thận bại, thường thấy ở các bệnh nhân hấp hốì; tai dầy mà trắng là khí hư có đờm.

Vành tai hồng nhuận, là trạng thái bình thường. Nếu màu sắc đỏ thẫm, tất là thượng tiêu tâm phế tích nhiệt, thuộc thiếu dương tướng hỏa thượng công, hoặc can đởm thấp nhiệt và ngoại cảm nhiệt độc. Người bệnh lâu tai đỏ nhẹ, đa số là ám hư hỏa động. Nếu lưng tai có mạch lạc đỏ, kèm theo gốc tai bị lạnh đa số là triệu chứng báo trước bệnh sởi.

Tai màu xanh đen gây đau, thường thấy ở bệnh nhân bị đau kịch liệt, là thận thủy bất túc, hoặc thận thủy hàn cực sinh hỏa; thuần đen là thận khí sắp tuyệt, cũng thấy ở người bệnh thận thực chứng; đen nhạt là bệnh thận hư chứng; vành tai khô đen cháy, đa số là triệu chứng thận thủy cực hao, thường thấy ở thời kỳ sau ôn bệnh, thận âm hao lâu và chứng hạ tiêu.

Tai vàng kèm theo tai sưng đau thấu óc, là phong nhập thận; nếu bỗng nhiên phát sốt ác hàn, cột sống lưng cứng cấp dạng như kinh giật, như bị thương hàn, là thấp nhiệt hạ kết ở thận, màu hơi vàng là bệnh sắp khỏi; màu vàng nhạt là vị khí còn tồn tại, cũng thường thấy ở chứng thấp tà trở trung; nếu màu vàng quá thịnh, thường thấy ở bệnh hoàng đản.

Tóm lại, vô luận là màu gì, nếu tươi sáng nhuận trạch là tốt, trầm đục ám tối là xấu; màu sáng là bệnh mới, màu tốì là bệnh lâu.

2. Hình thái:

(1) Ngoại hình tai to rộng dầy chắc, thùy tai (dái tai) dầy béo thõng xuống là hình tốt, là thận khí đẫy đà, chủ sống lâu; tai gầy, nhỏ, mỏng, thùy tai nhỏ mà không sa xuống là hình hư hao, là thận khí hao tổn, chủ mạng yểu.

Báo cáo kết quả quan sát chẩn đoán tai đối với 50 người già từ 80 tuổi trở lên, phát hiện đặc điểm tai của ngươi sống lâu tai dài và thùy tai to. Theo trắc lượng thì tai của người thọ từ 80 tuổi trở lên có độ dài từ 7cm trở lên (người bình thường là 5 - 8cm), thậm chí có người tai dài tới 8,5cm độ dài thùy tai của người sống trên 80 tuổi từ 1.8cm trở lên (người bình thường từ 1 - 2,5cm), có người đạt tới 3,2cm, thậm chí có người già tự cảm thấy từ 60 tuổi về sau tai và thùy tai có xu thế dài dần ra, đã thấy rằng tai và thùy tai có quan hệ nhất định đến vấn đề thọ yểu. Quan sát sắc trạch vành tai và trắc lượng độ dài, rộng và dầy của tai với 24 người sống lâu và 21 người đoản thọ đã phát hiện, màu sắc vành tai của người sống lâu hồng nhạt, tươi nhuận quang trạch, thịt dầy đầy đặn, vành tai và thùỵ tai dài. Tai rộng không có thay đổi gì rõ rệt. Người đoản thọ đa số vành tai màu ám tối, trắng nhợt, khô khan không nhuận trạch, tai không có thịt gầy khô mỏng, vành tai và thùy tai ngắn. Chứng minh độ dài và bề dầy của tai có quan hệ đến tinh khí của thận, kinh mạch khí huyết thịnh suy và tuổi thọ dài ngắn.

(2) Tai thũng là tà khí thực, đa số thuộc thiếu dương tướng hỏa thượng công, cũng có trường hợp dương minh uẩn nhiệt hoặc thượng tiêu phong nhiệt. Tai khô héo nhăn mỏng, là thận khí kiệt tuyệt, là triệu chứng nguy kịch; vành tai kết vẩy sừng là bệnh lâu ngày huyết ứ hoặc ung nhọt đường ruột.

(3) Quan sát vân tai: Có 2 loại hình vân và màu vân. Hình vân có hình nhánh trúc (Y) hình nhánh cây và vân dạng lưới. Vân hình nhánh trúc khô mà phân nhánh ít, khoảng 2 hoặc 3 đường, từ "hoàn cốt" thẳng lên đỉnh nhọn tai, chủ về vô bệnh hoặc bệnh nhẹ; vân kiểu cành cây khô xiên mà nhiều nhánh, khoảng 4 - 5 đường, là có bệnh nặng; vân dạng mạng lưới và hình cây khô to nhỏ khó phân biệt, vân nhiều mà loạn, dạng như mạng nhện, lâm bệnh hiểm nguy. Màu vân: vân màu đỏ chủ về trong ngoài đều nhiệt, màu xanh chủ khí trệ huyết ứ kiêm phong, màu tím chủ nhiệt tà nội bế, màu đen chủ hàn tà nội phụ. Về bệnh tình nặng nhẹ, nói chung màu đỏ nhẹ, tím nặng, đen là nguy.

(4)  Xem mạch tai: Quan sát vành tai có mạch xanh nổi lên (lạc mạch) có thể chẩn đoán trẻ em bị đau, mà vị trí đau của trẻ em khác nhau, vị trí nổi mạch xanh cũng có khác nhau. Nếu trẻ bị đau bụng do giun đũa, khỏi điểm lạc tai đa số ở điểm tiểu tràng mở rộng theo hướng phía trên bên ngoài đến trên, dưới bụng; trẻ bị đau chân, khởi điểm lạc tai đa số ở điểm tọa cốt và mông, mở rộng ra phía trên bên ngoài tới chỗ gối, mắt cá.... Nếu trẻ tiểu tiện bất lợi kèm theo đau, lạc tai phân bố ở trên viền vành tai, chỗ điểm châm tai sinh dục ngoài và niệu đạo, do bởi lạc tai thuộc hệ lạc mạch nhỏ bé, trong quá trình bệnh tật khí huyết vận chuyển bất lợi, lạc mạch không thông cơ da tai cạn mỏng, cho nên dễ nổi rõ. Do đó vận dụng lạc tai chẩn bệnh, có ý nghĩa lâm sàng nhất định.

(5) Thịt nhỏ trong tai dài ra, hình như anh đào hoặc đầu vú dê, gọi là trĩ tai; nếu khối thịt đầu to cuổng nhỏ, dạng như nấm, gọi là nấm tai, nếu khối thịt nhỏ như hạt táo dài, nhô ra ngoài tai, sờ vào thấy đau, gọi là đỉnh tai. Cả 3 loại này đều do can kinh nộ hỏa, thận kinh tướng hỏa, hoặc vị kinh tích hỏa, uất kết mà thành. Nếu tai bị ngã rách hoặc bị đánh đứt, thấy 2 tai không cân xứng, hoặc trên rời dưới dính, hoặc dưới rời trên dính đều do ngoại thương gây nên.

(6) Ráy tai: Là vật tiết ra bình thường ở trong đường tai, sau khi khô thành mùn màu trắng. Nếu phong nhiệt thăng thừa, quá nhiều ráy tai, có thể tắc trở đường tai, gây ra điếc tai.

(7) Lở tai, mụn tai: Nếu sinh ra ở ngoài tai, biểu hiện sưng đỏ cục bộ, nhô lên như hạt tiêu, gọi là lở tai hoặc đinh tai. Nếu ở ngoài đường tai sưng đỏ tràn lan, gọi là mụn tai. Đa số do thói quen ngoáy tai gây tổn thương đường tai, phong nhiệt tà độc ngoại xâm; hoặc gan mật thấp nhiệt theo kinh thượng thừa, chưng đốt đường tai mà thành.

(8) Mụn lở xoáy tai: Màu da đường tai hoặc xung quanh tai đỏ ủng, lở loét, thấm dịch, kết vẩy, kèm theo nóng ran, ngứa đau. Nếu triệu chứng toàn thân nhẹ, chỉ phát sốt phiền táo hoặc lở loét cục bộ, nóng đau, nước vàng chảy ướt dầm dề, là phong nhiệt thấp tà ngâm thấm gây nên; nếu bệnh trình dài, tái phát dạng như rêu, dầy ra, thô sần, rách nứt, trên phủ lớp vẩy da hoặc vẩy mùn, kèm theo sắc mặt vàng héo, mệt mỏi, kém ăn, là tỳ hư thiếu máu, sinh phong hóa táo gây ra.

(9) Mủ tai: Là chỉ địch mủ từ trong tai chảy ra với khôi lượng nhiều, chất dính thành mủ, đường tai không sưng đỏ hoặc sưng đỏ nhẹ. Chảy mủ vàng là đinh tai, chảy mủ trắng là triền tai, chảy mủ đỏ là phong độc tai; mủ có mùi hôi mà đen là cam tai, mủ trong suốt là tai chấn. Đa số do can đởm hỏa thịnh, tà nhiệt ngoại xâm, hoặc tỷ hư thấp khốn, thượng phạm nhĩ khiếu, hoặc thận nguyên hao tổn, tà độc đình tụ gây ra. Nếu tai nung mủ cấp tính, mủ ở tai chảy không thông, đau ở phần hoàn cốt sau tai, ấn đau, nặng thì bị sưng lên, hoặc phá loét chảy mủ, gọi là độc gốc tai, còn gọi là ung xương phụ sau tai, đa số do hỏa nhiệt tà độc trong ngoài nóng rực gây ra. Nếu tai nung mủ lâu ngày, xuất hiện miệng mắt méo lệch, đa số do tai nung mủ không trị, tà độc tiềm phục ở trong; hoặc khí huyết hao tổn gây ra. Nếu tai nung mủ ỉâu ngày, hoặc chẩy mủ mùi hôi thối đen, bỗng nhiên lượng mủ giảm ít, kèm theo thấy đau đầu, nôn mửa, sốt cao, hôn mê, co giật, cổ cứng dơ, gọi là thương hàn tai vàng, đa số do ứ nhiệt trong máu, hoặc nhiệt nhập tâm bào gây nên.

(10) Vỏ tai chảy nước: Là chỉ vỏ tai sưng tấy mà màu da không thay đổi, không sốt, không đau, ấn thấy mềm, hút ra có dịch màu vàng dính, sau khi hút hết sưng, ít lâu sau lại nổi lên. Đa số do tỳ vị hư nhược, phong tà ngoại phạm, đàm trọc ngưng trệ gây nên.

(11) Lở đoạn tai: Là vỏ tai sưng đỏ sốt đau, tiếp đến là viêm loét thành mủ, thậm chí đứt rời, khuyết tổn, dị dạng. Là phong thấp đánh lộn với khí huyết gây ra.

(12) Nhìn tai chấn thương: Trên vỏ tai xuất hiện gân đỏ dạng tơ hoặc vết ban màu đỏ tươi hoặc màu tím, ấn vào không thấy tan, là triệu chứng để chấn thương tai. Triệu chứng này xuất hiện trên tai phải, biểu thị nửa phần thân bên phải có bị thương, xuất hiện trên tai trái biểu thị phẩn thân bên trái có bị thương; xuất hiện ở phần nửa trên vỏ tai, biểu thị phần lưng có bị thương, xuất hiện ở phần nửa dưới vỏ tai, biểu thị phần ngực có bị thương; trên gáy tai có điểm đen hoặc màu đỏ lan ra phía bên ngoài, biểu thị phần dưới nách trái có bị thương; dưới đáy thùy tai có điểm màu trắng hoặc màu đen biểu thị dưới nách phải có thương (hình 1-48).

3. Vật phản ứng dương tính trên tai: Tức là ở trên da tai xuất hiện sự thay đổi biến sắc, biến hình và sự thay đổi sắc trạch và hình thái của nốt mụn, vật thoát rụng, mạch máu....
1) Biến sắc:

(1) Phản ứng màu đỏ: Có màu đỏ tươi, đỏ nhạt và đỏ tối, phản ứng có dạng điểm, dạng mảng không có quy tắc. Màu đỏ tươi thấy ở chứng bệnh cấp tính, triệu chứng bệnh đau; màu hồng nhạt hoặc đỏ tươi thấy ở thời kỳ bệnh được phục hồi sức khỏe, hoặc ở các bệnh nhân có bệnh sử khá dài. Nếu đau eo lưng cấp tính, ở khu thận có thể có biểu hiện đỏ nhuận dạng mảng; nếu viêm cổ tử cung kèm theo có bạch đới (khí hư), ở khu ở tam giác có thể có phản ứng màu đỏ dạng mảng to, kèm theo có dạng mùn thoát; nếu bị chóng mặt, ở khu vựng (chóng mặt) có dạng vết lõm đỏ nhuận.

(2) Phản ứng màu trắng: Có thể thấy dạng mảnh lồi lên màu trắng không có quy tắc, sáng sủa tươi trạch, dạng mảng trắng nhợt hoặc ở giữa có dạng mảnh, chấm màu trắng, đường viền đỏ ủng, cũng có thể thấy ở dạng trong mảng màu trắng, có dạng chấm không có quy tắc, màu đỏ nhuận. Phản ứng màu trắng đa số thấy ở bệnh mạn tính, điểm trắng đường viền đỏ ửng là bệnh mạn tính phát tác cấp tính. Nếu viêm dạ dầy mạn có tính chất bề cạn, ở khu dạ dầy có thể có phản ứng dạng mảng màu trắng không quy tắc. Bệnh tim phong thấp ở khu tim có phản ứng mảng màu trắng đường viền đỏ rựng. Trướng bụng, bụng báng nước thì có phản ứng mảng màu trắng ở khu bụng trướng hoặc khu bụng báng; viêm dạ dầy mạn tính khi phát tác cấp tính, ở khu dạ dầy có phản ứng mảng màu trắng ở giữa có chầm đỏ nhuận không có quy tắc.

(3) Phản ứng màu xám: Có các màu xám nhạt, xám tốì, màu tro xám, như màu cứt ruồi. Màu xám đa số thấy ở các bệnh cũ và khối u. Nếu khối u ở vị trí huyệt tai tương quan và ở khu khôi u đặc dị 21, phản ứng màu xám tựa như cứt ruồi, ấn vào thấy mất màu.

(4) Phản ứng màu nâu đậm: Bệnh mạn tính, sau khi khỏi bệnh, ở trên huyệt tai tương ứng có biểu hiện sắc tố đậm thêm, tựa như dạng sắc tố lắng đọng. Nếu bệnh ung thư tuyến vú sau khi trị hết gốc, ở khu tuyến vú có phản ứng màu nâu đậm; bệnh viêm da do thần kinh ở huyệt tai tương quan sắc tố sẽ đậm lên, da thô sần, đường vân sâu thêm.

2) Biến hình: Trên huyệt tai tương quan xuất hiện thủy thũng lồi lên, hoặc điểm, mảnh lõm xuống, đồng thồi kèm theo các đường vân hoặc vết điểm lõm xuống... phản ứng biến dạng thường thấy ở các bệnh tính khí chất mạn tính. Dạng đường vân lõm xuống còn gọi là tai gẫy, đứt, nó có quan hệ đến bệnh động mạch vành, sẽ có trình bày tường tận ở phần sau.

(1) Dầy lên: Thường thấy dạng kết đổt, nhỏ như hạt vừng hoặc kết cứng to như hạt đậu xanh, nhô cao khỏi bể mặt da; hoặc dạng móc xích, kết liền với nhau từ 3 - 5 đốt, cao hơn mặt da; hoặc dạng mảng, vệt dài, đường vân nổi lên. Nếu dạng kết đốt hình tròn nổi lên, thường thấy ở các chứng đau đầu; nếu nổi lên dạng móc xích, thường thấy ở chứng viêm cột sổng dạng phì to; nếu nổi lên dạng đường gờ, là bệnh đau khỡp; nổi lên dạng mảng, thường gặp ở chứng trướng bụng; nổi lên ở dạng vệt dài, thường thấy viêm dây thần kinh cơ lưng vai.

(2) Lõm xuống: Thường thấy các vết lõm xuông có dạng chấm, mảng, đường vân. Nếu lõm xuống có dạng chấm là bị chứng ù tai, mắt tán quang. Nếu lõm xuông có dạng vết rộng thành miếng, thường thấy ở bệnh viêm loét dạ dầy, hành tá tràng; vết lõm dạng đường vân thường thấy ở chứng bệnh động mạch vành, ù tai, điếc rai, rụng răng....

(3) Dạng điểm: Mảng lồi lên kèm theo có vết lõm dạng điểm, mảng, đường vân, thường thấy ở chứng chiết quang.

(4) Da ở huyệt tai thô sần không phẳng, độ dầy tăng hoặc giống như nếp nhăn, thường thấy ở bệnh ngoài da.

3) Nốt mụn, gò: Thường thấy có các nốt mụn dạng chấm và mụn nước như bọt, cao hơn bề mặt da. Về phương diện màu sắc có thể phân làm mấy loại như mụn màu đỏ, mụn màu trắng, hoặc mụn màu trắng có viền đỏ, môt số ít mun có màu xám tối, tựa như mụn cơm da gà, các mụn không đều nhau. Phản ứng gò mụn thường thấy ở các bệnh có tính khí chất cấp tính, bệnh có do dị ứng, bệnh ngoài da....

(1) Nốt mụn có dạng dẹt bằng dày đặc như trứng tằm, thường thấy ở các dạng mụn ngứa kiểu kết đốt.

(2) Nốt mụn có màu trắng dạng chấm hoặc thay đổi dày đặc, thường thấy ở bệnh sỏi mật, viêm phế quản, ỉa chẩỵ....

(3) Nốt mụn thay đổi có màu nâu tối, tựa như mụn cơm da gà, thường thấy ở chứng viêm da do thần kinh.

(4) Nốt mụn dạng thay đổi như hạt tấm, thường thấy ở bệnh loạn nhịp tim, trở trệ sự truyền dẫn.

4) Mùn thoát: Mùn sùi thoát thường có dạng vỏ đường hoặc vây cá màu trắng, lau khó đi. Phản ứng mùn sùi thoát thường thấy ở cấc bệnh ngoài đa, chức năng hấp thu suy giảm, bạch đới, và rối loạn chức năng nội tiết.

(1) Thoát tiết ở khu dị ứng, khu phổi, thường thấy ở bệnh ngoài da, như viêm da do tràn mỡ.

(2) Thoát tiết trong ở tam giác, thường thấy ở bệnh viêm phụ khoa, khí hư.

(3) Thoát tiết ở khu thực đạo, bôn môn, thường thấy ở hệ thống tiêu hóa không tốt, chức năng hấp thu và trao đổi vật chất suy giảm.

(4) Thoát tiết dạng vẩy miếng ở vị trí tương ứng, thường thấy ở bệnh nấm vẩy.

(5) Thoát tiết toàn phần tai, thường thấy ở bệnh viêm da do tràn mỡ, nấm da trâu.

5) Tràn huyết quản: Phản ứng của mạch máu ở huyệt tai, thường thấy ở dạng mạch máu giãn nở. Cong gập dạng mạng lưới, dạng đường vân, dạng sao biển, hình cung, dạng nòng nọc, hoặc dạng dùi trống, sắc trạch của nó màu đỏ tươi, màu tím tôi hoặc màu xám tối. Thay đổi mạch máu thường thấy ở các bệnh như mạch máu tim, mạch máu não, các bệnh viêm cấp tính và các bệnh có xuất huyết cấp tính.

(1) Mạch máu giãn nở: Thường có biểu hiện ở dạng cánh quạt hoặc dạng đứt đoạn. Ở dạng cánh quạt thường là bệnh viêm loét đường tiêu hóa, đau lưng, chân; dạng đứt đoạn thường là đau các khớp, giãn phế quản, sắc trạch đỏ tươi đa số là bệnh cấp tính, các chứng đau; sắc trạch tím tối, phần lớn là bệnh đã khỏi hoặc đang kỳ hồi phục.

(2) Cong gập: Dạng sao biển, thường là bệnh viêm loét. Dạng vòng tròn, hình cung, đa số thấy ở bệnh phong tim; dạng nòng nọc, dùi trống, đa số thấy ở bệnh động mạch vành; dạng hoa mai, đa số là bị khối u.

(3) Dạng mạng lưới: Mạch máu thay đổi dạng mạng lưới, đa số thấy ở các chứng viêm cấp tính, như viêm họng, viêm amidan, viêm tuyến vú.

(4) Mạch máu đứt đoạn ở giữa: Mạch máu chủ bị khô, đầy, giãn nỏ, ở giữa thấy bị đứt đoạn, thường thấy ở bệnh tắc cơ tim.

6) Triệu chứng tai gấp: Còn gọi là vết nhãn thùy tai và vết nhăn từ chỗ tấm chắn tai kéo dài ra phía viền thùy tai. Xuất hiện triệu chứng vết nhăn thùy tai, có giá trị chẩn đoán nhất định đối với bệnh động mạch vành.

Năm 1973 - Frank lần đầu tiên báo cáo 20 trường hợp triệu chứng tai về bệnh động mạch vành, trong đó 19 người có từ một vài nhân tố nguy hiểm của bệnh động mạch vành. Ông nêu ra, khi bệnh mạch máu tim phát tác sớm có thể kèm theo xuất hiện nếp nhăn thùy tai. Quan sát của ông sau đó đã chứng minh, sự phát sinh nếp nhăn thùy tai của bệnh động mạch vành cao hơn rõ rệt so với nhóm đốì chiếu cùng nhóm tuổi. Trong 531 bệnh nhân bị bệnh động mạch vành có 251 trường hợp chứng minh bị tắc nghẽn cơ tim cấp tính, chiếm 47% đều có một bên hoặc cả hai bên thùy tai có nếp nhăn xiên; mà trong nhóm đối chiếu 305 trường hợp cùng tuổi, chỉ có 30% có nếp nhăn thùy tai. Nhóm Chris Tiansen đã quan sát trên 533 bệnh nhân, cũng phát hiện đường nhăn xiên thùy tai cũng tăng dần lên cùng với tuổi tác, sự tồn tại của nó có quan hệ rõ ràng vởi bệnh động mạch vành. Nhóm Lichstenin ở cuối những năm 1970 nghiên cứu tài liệu khám nghiệm tử thi 113 trường hợp ở độ tuổi từ 40 trở lên, đã quan sát bệnh xơ cứng động mạch vành và mức độ bế tắc có quan hệ với nếp nhăn ở thùy tai hay không, kết quả là người có nếp nhăn hai bên thùy tai thì chứng xơ cứng động mạch vành của họ rõ ràng nhất, người có nếp nhăn một bên hơi nhẹ, không có nếp nhăn thùy tai là nhẹ nhất, so sánh giữa nhóm không có nếp nhăn thùy tai và nhóm có nếp nhăn 2 bên thùy tai, theo thống kê mức độ xơ cứng động mạch vành của họ khác biệt rất rõ ràng. Trường đại học Chicagô ở Mỹ đã điều tra 1.000 người, trong đó có 373 người có nếp nhăn ở thùy tai, trong số họ có 73% số người bị bệnh tim. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy, về góc độ triệu chứng vân tai cũng có giá trị lâm sàng khá quan trọng. Nếu nam giới có nếp nhăn ở vỏ tai với góc khoảng 45o, 55% trong số họ sẽ chết về bệnh tim, mà tỷ lệ bị chết vì bệnh tim có nếp vân tai không nhiều như người có đường vân xiên 45o. Báo cáo của các bệnh viện như bệnh viện khu Lô Loan Thượng Hải, Viện phòng trị thứ nhất, thứ hai khu Hòa Bình thành phố Thiên Tân, Bệnh viện Nhân dân Huyện Phú Thuận, Tứ Xuyên... ở trung Quốc cũng đã xác nhận đặc chứng đã trình bày trên đây, mà tỷ lệ dương tính của triệu chứng nếp vân tai đối với bệnh động mạch vành là 73,9 - 97,7%, còn cao hơn so với các báo cáo ở nước ngoài, mà tỷ lệ dương tính của người bình thường có nếp vân tai so vơi người không bị bệnh động mạch vành là dưới 24%. Nhóm Trần Khắc Trung ở trường Đại học Y khoa Sơn Đông đã quan sát vân tai 92 người bị bệnh động mạch vành và 20 người già khỏe mạnh, tỷ lệ dương tính có vân tai trong nhóm bệnh động mạch vành là 63%, trong nhóm người già khỏe mạnh là 35%. So sánh giữa 2 nhóm bệnh động mạch vành vân tai dương tính với nhóm vân tai âm tính, độ đậm đặc toàn bộ máu, huyết tương so với độ đậm đặc, huyết áp, huyết trầm, côlestêron, glyxêrin, este đều tăng cao, p < 0,05 - 0,01.

Nguyên nhân người bị bệnh động mạch vành sinh ra nếp nhăn tai còn chưa biết chính xác, nhóm Meslen và nhóm Wells cho rằng, do tổ chức kết đế hệ thùy tai tạo thành, đã không có dây chằng cũng không có xương sụn, cho nên càng có khả năng nhậy cảm đối với chứng thiếu máu, nếu động mạch vành phát sinh bệnh biến, đều có khả năng thay đổi vi tuần hoàn toàn thân.

(7) Quan hệ đối ứng của đặc trưng vật phản ứng dương tính với tính chất bệnh là:

(a) Vết hồng nhuận hoặc xung huyết dạng chấm, mảng, dạng chấm, mảnh màu trắng đường viền đỏ ửng, hoặc nốt mẩn màu đỏ, đồng thời có tràn mỡ và quang trạch, đa số thấy ở dạng phát tác cấp tính thuộc chứng viêm cấp tính hoặc chứng viêm mạn tính.

(b) Dạng chấm, mảng màu trắng, lõm xuống hoặc lồi lên, gò mụn màu trắng, lại không có triệu chứng tràn mỡ và quang trạch, đa số thấy ở các bệnh có tính khí chất mạn tính.

(c) Dạng kết đốt lồi lên, hoặc dạng chấm, đốt màu xám tốì, hoặc có dạng như cứt ruồi, đa số thấy ở chứng khôi u.

(d) Thoát tiết dạng vỏ đường (khó lau sạch), gò mụn, vân da thô to ra, dầy thêm, có màu nâu đậm, đa số là bệnh ngoài da.

(e) Dạng đường vân hình tròn, hình bán nguyệt màu trắng, hoặc đâu, vết sẹo màu xám tôi..., đa sô thấy ở bệnh nhân phẫu thuật hoặc ngoại thương.

Tóm lại, nguyên tắc chung khi xem chẩn đoán phần tai là: Sắc trạch đỏ đa số là cấp tính, màu trắng lõm hoặc lồi là mạn tính; mùn thoát dễ lan là chứng viêm, kết dạng vẩy là bệnh da; vết sẹo phẫu thuật là đường vân màu trắng dạng vòng tròn hoặc kiểu trăng non, kết đốt lồi lên màu xám tối là có khôi u ung thư.

2. Sờ chẩn huyệt tai.

1. Phương pháp sờ kiểm tra: Bao gồm các triệu chứng như lồi lên, kết đốt, lõm xuống, dây sợi, biến dạng....

1) Lồi lên: có nhiều loại hình thái khác nhau, biểu thị các loại bệnh khác nhau.

(1) Dạng chấm lồi lên: Đa số thấy ở các chứng đau đầu, viêm khí quản, cận thị.

(2) Dạng vết mảng lồi lên: Đa số thấy ở các chứng bệnh như đau lưng, chân, lao thương cơ eo lưng, thiên đầu thống, đau sau đầu, viêm dạ dầy bề cạn mạn tính, viêm ruột thừa mạn tính, rối loạn chức nâng đường ruột, trướng bụng, viêm loét khoang miệng, viêm quanh răng.

(3) Dạng vết dài lồi lên: Đa số thấy ở các bệnh như viêm tổ chức dây chằng, lao tổn cơ eo lưng, viêm túi mật mạn tính, viêm phụ kiện, bí tiện, đau ấn đường, đau lưng vai.

2) Kết đốt: Đa số thấy ở các chứng khôi u tử cung, đau đầu, ung thư dây chằng tuyến vú.

3) Dây, sợi: Đa số thấy ở các bệnh mạn tính như khôi u tử cung, viêm dạ dầy. mạn tính, viêm loét hành tá tràng mạn tính, viêm túi mật mạn tính, gan sưng to, bệnh động mạch vành, tim đập quá nhanh dạng từng đợt, trĩ, viêm phế quản, chất xương cột sống cổ hoặc cột sống lưng tăng sinh, viêm khớp do ngoại thương...

4) Xương sụn tăng sinh: Đa số thấy ở các chứng thần kinh suy nhược, gan sưng to, chất xương cột sống cổ tăng sinh.

5) Lõm xuống: Các huyệt tai tương quan với bệnh tật có thể xuất hiện các triệu chứng vết lõm xuống không có quy luật ở dạng chấm, dây, miếng..., và các bệnh phản ứng lõm xuống khác nhau.

(1) Vết lõm dạng chấm: Đa số thấy ở các chứng như khuyêt răng, tán quang, viêm loét hành tá tràng, màng nhĩ lõm vào, ù tai, sâu răng.

(2) Vết lõm dạng miếng: Đa số thấy ở các bệnh viêm kết tràng mạn tính, viêm loét hành tá tràng, chóng mặt, khuyết răng.

(3) Vết lõm dạng đường dây: Còn gọi là nếp nhăn tai, đa số thấy ở cốc bệnh như ù tai, khuyết răng, bệnh động mạch vành.

6) Vết ấn: vết ấn có vết sâu và cạn, sự thay đổi sắc trạch và thời gian lồi phục mặt bằng của vết ấn cũng khác nhau, khi chẩn tai lâm sàng, căn cứ vào đó để phân biệt hư chứng và thực chứng.

(1) Vết ấn sâu: màu trắng, thời gian hồi phục mặt bằng chậm, đa số là hư chứng, thường thấy ở các bệnh thiếu máu, thiếu dưỡng khí, thủy thũng, ngộ độc axit, ù tai, sâu răng, thận hư, đau lưng, dị ứng.

(2) Vết ấn cạn: màu đỏ, thời gian hồi phục mặt bằng nhanh là thực chứng. Đa số thấy ở các chứng như cao huyết áp, sỏi cấp tính, viêm gan, trướng bụng, viêm dạ dầy, cảm nhiễm đường mật, viêm ruột thừa.

7) Thủy thũng:

(1) Thủy thũng dạng lõm xuống: Đa số thấy ở cấc bệnh như viêm cầu thận mạn tính, bụng báng nước, phù thũng, thủy thũng do mạch máu, thần kinh, thận hư đau lưng, kinh nguyệt quá nhiều, rôì loạn chức năng nội tiết....

(2) Cảm giác vân nước sóng động: Phần lớn sau khi sờ chẩn đoán ở huyệt tai dưới bút thăm dò xuất hiện thủy thũng xung quanh, có cảm giác như vân nước sóng động. Đa số thấy ở bệnh động mạch vành, nhịp tim không đều, xuất huyết tử cung do chức năng, bệnh tiểu đường.

2. Phương pháp sờ nắn: Chú ý xem có bị tăng sình xương sụn tai hay không, tổ chức phần mềm có bị lồi lên không, và phạm vi lồi lên hoặc tăng sinh, độ mềm cứng như thế nào. Ý nghĩa lâm sàng khi sờ nắn huyệt tai là căn cứ vào vị trí của vật phản ứng dương tính mà ta sờ được để xác định.

(1) Thùy tai: sờ nắn xem có dạng miếng lồi lên tăng dầy lên hay không, Nếu sờ thấy ở chỗ trên dưới hàm dưới chất mềm lồi lên dạng miếng, đa số là viêm quanh răng.

(2) Gò tai: Nếu ở giữa gò tai và vành tai sờ thấy xương sụn tăng sinh dạng đoạn ngắn, đa số là thần kinh suy nhược. Nếu ở giữa gờ tai và vành tai của lưng tai sờ thấy tổ chức phần mềm tăng dầy, chất mềm, đa số là lắm mộng.

(3) Thuyền tai: Nếu ở phần bắt đầu của thuyền tai sờ thấy tăng dầy lên dạng đoạn ngắn, đa số là viêm dây thần kinh cơ lưng và vai.

(4) Chân trên vành tai: sờ thấy chất cứng biến dạng tăng sinh, đa số là đau các khổp do ngoại thương xương. Lồi lên dạng miếng chất mềm, đa số là đau khốp lành tính, tổn thương tổ chức phần mềm.

(5) Phần giáp tai: Là vị trí sờ nắn bệnh tật nội tạng. Nếu ở khu gan sờ thấy có chất xốp lồi lên, đa số là gan nhiễm mỡ; nếu sờ thấy chất cứng lồi lên ở khu mật, đa số là viêm túi mật mạn tính.

(6) Phần vành tai: Vị trí sờ đoán bệnh đa số ở huyệt hậu môn, khu đặc dị khối u, dạng kết đốt khu II, dạng đường dây thay đổi và khu đặc dị khối u, khu sờ nhậy cảm đau.

3. Phương pháp ấn đau: Sau khi tìm được khu huyệt mẫn cảm nhất với sự ấn đau, có thể căn cứ vào vị trí giải phẫu chức năng sinh lý đốỉ ứng với khu huyệt mẫn cảm hoặc tiến hành phân tích chẩn đoán tạng phủ. Nếu khi ở khu gan xuất hiện điểm mẫn cảm ấn đau dương tính, biểu thị có khả năng bị bệnh gan; ở khu hành tá tràng, thần kinh giao cảm, dưới lớp vỏ nếu xuất hiện điểm ấn đau dương tính, thì có khả năng liên quan đến bệnh viêm loét đường tiêu hóa. Khi ở khu thận xuất hiện điểm ấn đau dương tính, có khả năng là bệnh thận, đau lưng hoặc ù tai; khi ở khu phổi xuất hiện điểm ấn đau dương tính, có khả năng là biểu hiện của bệnh phổi, bệnh đại tràng hoặc bệnh ngoài da.

Khi ở nhiều khu huyệt xuất hiện các điểm ấn đau dương tính, thì cần phải tiến hành so sánh, xem ở khu huyệt nào mẫn cảm ấn đau nhất, tạng phủ hoặc cơ quan đõì ứng của khu huyệt mẫn cảm nhất, có khả năng có bệnh. Nếu khi ở khu phổi có điểm ấn đau mạnh nhất mà đồng thời ở khu đại tràng cũng xuất hiện điểm ấn đau, vậy thì khả năng không phải bệnh ở đại tràng mà khả là bệnh ở phổi, phản ứng xuất hiện ở khu đại tràng là do phổi và đại tràng, tương quan biểu lý với nhau. Lại như người bị gẫy xương, ngoài vị trí tương ứng có điểm ấn đau ra, thì ở khu thận cũng đồng thời xuất hiện điểm ấn đau dương tính. Điều này căn cứ vào học thuyết thận chủ cốt để phân tích giải thích thêm, có thể không đến nỗi chẩn đoán sai là thận có bệnh.

Quan sát trong 60 trường hợp bệnh nhân viêm gan do truyền nhiễm, có 73,2% có điểm ấn đau ở ở tam giác 2 tai, số người trong thời kỳ bệnh cấp tính tỷ lệ dương tính đạt 92,2%; mà với 129 người khỏe mạnh trong nhóm đốì chiếu hoặc những người bị bệnh khác, tỷ lệ ấn đau dương tính ở ở tam giác 2 tai chỉ chiếm 11%.

Thăm dò trên 75 trường hợp bệnh nhân viêm gan, có 54 người bị ấn đau dương tính ở khu gan tai trái, có 59 người bị ấn đau dương tính ở khu gan 2 tai, bất luận là một bên hay hai bên tai, phàm là khu gan có điểm ấn đau là 61 người, chiếm 81%, mà trong 151 người bình thường, chỉ có 4 người có điểm ấn đau dương tính ở khu gan tai phải. Qua kiểm tra 36 người bị bệnh gan có kết quả là 28 người mẫn cảm khu gan tai phải, chiếm 77,77%, 25 người mẫn cảm khu gan tai trái, chiếm 69,44%. Tỷ lệ mẫn cảm của họ cao hơn so với người bình thường.

Quan sát thấy bệnh nhân viêm ruột thừa thường hình thành điểm ấn đau ở tai sau triệu chứng kích thích từ 2 - 12 - 14 giờ, sự phân bố của điểm ấn đau ngoài khu đại tràng và tiểu tràng, còn có phân bố ở thuyền tai, ở tam giác.... Điểm ấn đau cũng tùy theo bệnh tình mà thay đổi. Khi bệnh tình nặng thêm và có các triệu chứng kèm phát thì điểm ấn đau cũng tăng lên, ngược lại thì giảm bớt hoặc tiêu mất; sau khi phẫu thuật, điểm ấn đau mẫn cảm ở tai tiêu mất sau khoảng 5 - 7 ngày. Qua kiểm tra 30 bệnh nhân dự định cắt bỏ ruột thừa, toàn bộ huyệt ruột thừa trên hai tai đều có điểm ấn đau ở mức độ khác nhau, cho nên cho rằng phương pháp ấn đau trong chẩn tai hỗ trợ tốt cho việc chẩn đoán phân biệt chứng đau bụng cấp tính.

3. Phương pháp điện trắc định:

Còn gọi là phương pháp trắc định tin tức ở tai, phương pháp này vận dụng trong lâm sàng có giá trị chẩn đoán nhất định đổi với các bệnh như khối u, bệnh tim, bệnh phổi, bệnh gan mật, bệnh hệ thông tiết niệu.

Khi dùng máy thám trắc huyệt tai để thăm dò huyệt tai, tiến hành chẩn đoán sớm đổi với các loại khối u, tỷ lệ dương tính của nó từ 86% trở lên. Đồng thời tổng kết ra 1 khu 5 huyệt là điểm phản ứng dương tính của khôi u ác tính, đó là huyệt và khu đặc dị khôi u của vị trí tương ứng với nội tiết, tuyến thượng thận, lớp vỏ dưới và huyệt khối u. Qua tiến hành kiểm tra tin tức phần tai đốỉ với một lượng lớn bệnh nhân, phát hiện ra các thời kỳ của khối u ác tính. Khối u từ 1 - 4 chỉ số dương tính đều tăng cao, phản ánh trên âm hưởng và chỉ số dòng điện. Giá trị bình quân điểm lưu huyệt dương tính hạ thấp và dương tính huyệt lớp vỏ dưới tăng cao, là một trong những điểm tựa quan trọng để chẩn đoán khối u. Kiểm tra tin tức ở tai cũng có giá trị trong việc kiểm tra khối u phổ thông. Qua quá trình dùng máy chẩn đoán tin tức tiến hành kiểm tra thể nghiệm đối với 1.245 bệnh nhân, tìm thấy tin tức khôi u là 12 người, về sau qua xác chẩn của Tây y có 11 người, tỷ lệ phù hợp là 91,6%.

Trong chẩn đoán bệnh tim, nhóm ông Leans Wee ở Malayxia, tiến hành kiểm tra tính dẫn điện da khu tim ngoài tai đối với 35 người bị bệnh tim và 75 người khỏe mạnh, kết quả đại đa số bệnh nhân bị bệnh tim có điện trở da khu tim ngoài tai hạ thấp rõ ràng so với nhóm đối chiếu.

Phản ứng tin tức phần tai của các bệnh thường thấy xem ở bảng 1-1.

Bảng 1-1: Phản ứng bệnh lý của các bệnh thường thấy ở trên tai:

Bệnh tật

Vị trí

Phản ứng

Hai bên thận phát triển không tốt do bẩm sinh (loại 1 nhiều đường đặc)

Phần tai

Vị tri đáy phấn tai (đường góc mắt trên viền đáy tai) nghiêng vể phía trước, xương sụn phát triển không tốt, trở ngại thính lực...

Viêm da do tràn mỡ

Toàn phần tai

Biểu hiện dạng sùi da vỏ đường, lâu khó mất, có mổ.

Viêm da dạng vẩy cá

Toàn phần tai

Biểu hiện khô khan không quang trạch, nổi cánh lên như vẩy cá.

Trở ngại chức năng hấp thu

Toàn phần tai

Biểu hiện sùi mùn khô khan không quang trạch.

Bệnh động mạch vành

Khu tim, tiểu tràng, thùy tai

1. Nhiễm sắc dương tính (màu dạng chấm, mảnh, thành đám là dương tính.

2. Triệu chứng vết nhân tai (vân xiên thùy tai).

Đau thắt tim

Khu tim, tả thần môn, giao cảm dưới lớp vỏ

1. Sung huyết, đỏ ửng, sùi mùn, lõm xuống...

2. Điện trở thấp.

Tim đập quá nhanh

Khu tim

Điện trở thấp.

Bệnh tim phong thấp

Khu tim

Dạng mảnh màu trắng, đường viền không rõ, một số điểm có quang trạch.

Lắm mộng, mất ngủ, nhịp tim không đều

Khu tim

Có dạng vân hình tròn, giữa có quang trạch, có một số ở giữa màu trắng.

Suy nhược thần kinh

Khu tim, thần mõm điểm não

Có ấn đau.

Các loại đau đầu chóng mặt

Khu não can, não điểm, trán, dưới lớp vỏ

Có dạng điểm đỏ ửng hoặc dạng điểm màu trắng, đường viền đỏ ửng, thường có quang trạch.

Cao huyết áp

Não điểm, não can, trán, dưới lớp vỏ

Có dạng điểm đỏ ửng hoặc màu trắng đường viền đỏ ửng, nói chung có quang trạch, ngoài ra có dạng mảnh màu đỏ ở tuyến thượng thận, vân vòng tròn ở khu tim, 1/3 trên rãnh hạ áp có dạng chấm, màu trắng hoặc đường viền đỏ ửng.

Huyết áp thấp

Não can, não điểm, trán, dưới lớp vỏ

Huyệt vị phần đầu cùng phản ứng cao huyết áp, không phản ứng tuyến thượng thận, dưới rãnh hạ áp 1/3 có dạng điểm màu trắng hoặc đường viền đỏ là thấp huyết áp.

Gan to

Khu gan, khu gan tai phải, khu tỳ, khu dạ dầy

Có dạng mảng máu trắng lồi lẽn (có dạng như nhân hạt dưa), đường viền rõ ràng (tai phải là lá gan phải to, tai trái là lá gan trái to), điện trở thấp.

Viêm gan

Khu gan tai phải, khu tỳ, khu vị

Điện trở thấp.

Viêm gan cấp tính

Khu gan, khu gan tai phải, khu tỳ, khu dạ dầy

1. Có dạng mảng hoặc chấm đỏ ửng.

2. Đường viền đỏ ửng, giữa có màu trắng, nói chung có quang trạch, điện trở thấp.

Ung thư gan

Khu gan

1. Cục bộ có vết lõm hình tròn sắp xếp dạng hoa mai.

2. Có màu vàng, có thể thấy dạng kết đốt lồi lên, cục bộ dầy béo lên, cứng có điểm ấn đau.

3. Có trường hợp có dạng vân nước hình tròn.

4. Có trường hợp tăng sinh xương sụn phần tai.

Viêm gan hoàng đản

Khu gan

Lương đạo dương tính.

Lách to

Khu tỳ

Có dạng mảng màu trắng hoặc đường viền đỏ ửng, có thể lồi lên.

Sốt rét cách nhật

Khu tỳ, khu sốt rét

1. Đa số xuất hiện biến sắc, dạng chấm màu đỏ, dạng chấm hoặc dạng mảng màu trắng, dạng điểm màu trắng đường viền của nó đỏ, có một số biển dạng nổi gò mẩn, sùi thoát...

2. Khu sốt rét nhiễm sắc dương tính, có dạng chấm hoặc mảng màu đen.

Viêm túi mật

Khu tương ứng

Nhiễm sắc dương tính, có điểm ấn đau.

Viêm dạ dầy cấp tinh

Khu dạ dầy

Có dạng chấm hoặc dạng mảng đỏ ửng, có quang trạch.

Viêm dạ dầy mạn tính

Khu dạ dầy

Có dạng mảng màu trắng, đường viền biên không rõ ràng, một số da tăng dầy (đa số thấy viêm dạ dầy tính béo dầy).

Viêm dạ dầy mạn tính phát tác cấp tính

Khu dạ dầy

1. Dạng mảng hoặc chấm màu trắng, viền biên đỏ, có quang trạch.

2. Dạng chấm hoặc mảng màu đỏ ửng hoặc xuất huyết.

Sa dạ dầy

Khu dạ dầy

Viền biên của khu dạ dầy, gẩn chỗ đối nhau với vành tai, có mảnh màu trắng nổi lên, viến biên không rõ ràng.

Viêm loét dạ dầy

Khu dạ dầy

1. Có dạng chấm màu trắng, viến biên rõ ràng.

2. Màu trắng hoặc màu xám tối viền biên đỏ ửng, nói chung đều có quang trạch.

Phẫu thuật cắt phần lớn dạ dầy

Toàn bộ khu đường tiêu hóa

1. Lương đạo đương tính.

2. Nhiễm sắc dương tính.

Viêm loét hành tá tràng

Khu tá tràng

1. Có dạng chấm màu trắng, viền biên rõ ràng.

2. Có màu trắng hoặc xám tối viền biên đỏ ửng, nói chung có quang trạch.

Sau khi phẫu thuật viêm loét tá tràng

Toàn bộ khu đường tiêu hóa

1. Lương đạo dương tính

2. Nhiễm sắc dương tính.

Sau khi phẫu thuật ung thư thực quản

Đường thượng tiêu hóa trên

Lương đạo phản ứng dương tính.

Khuẩn lỵ

Đại, tiểu tràng

Có ấn đau.

Viém tràng mạn tính

Khu đại, tiểu tràng, tỳ vị

1. Có biểu hiện xung huyết dạng mảng hoặc gò mẩn nhiều mỡ.

2. Điện trở thấp.

Bí tiện

Khu đại, tiểu tràng

Có biểu hiện dạng mảnh màu trắng, hoặc sùi da đường, có quang trạch.

Viêm ruột thừa cấp tính

Khu ruột thừa

Có biểu hiện sung huyết dạng chấm hoặc gò mần.

Viêm ruột thừa mạn tính

Khu ruột thừa

Đa số biểu hiện dạng chấm lõm hoặc lồi lên, một số màu trắng hoặc xám tối.

Viêm ruột thừa mạn tính phát tác cấp tính

Khu ruột thừa

Có dạng chấm màu trắng viền biên đỏ ửng hoặc dạng mảng màu đỏ.

Bệnh huyết hấp trùng

Điểm huyết cơ, trực tràng, đại tràng

Điện trở thấp.

Hạt trĩ

Điểm hạt trĩ, đoạn dưới trực tràng

Có dạng chấm hoặc mảng màu trắng viền đỏ, có một số dạng chấm hoặc mảng màu xám tối.

Viêm thận

Khu thận, bàng quang, nội tiết, điểm viêm thận

Lương đạo dương tính.

Lao phổi thời kỳ hoạt động

Khu phổi, huyệt tim đại tràng

Có biểu hiện sung huyết dạng điểm hoặc nốt mẩn, có quang trạch, có một số có thể dùng bồng cọ xát thì xuất huyết (ở dưới là cùng bên, trên là bên đối) điện trở thấp.

Lao phổi thời kỳ canxi hóa

Khu phổi

Có 1 hoăc nhiều vết lõm dạng đầu kim.

Viêm phổi cấp tính

Khoảng 2 bên phổi

Biểu hiện màu đỗ ửng dạng chấm hoặc nốt mẩn, có khi có điểm màu trắng, viền màu đỏ, có quang trạch.

Khí thũng phổi

Khu phổi, khu tim, khu đại tràng

1. Có dạng chấm hoặc mảnh thành đám màu trắng, đường viền không rõ ràng, thời kỳ phát tái có quang trạch.

Lương đạo phản ứng dương tính.

Lao phổi do nhiễm ôxit silic

Khu phổi, điểm viêm phổi

1. Nhiễm sắc dương tính, lương đạo dương tính.

2. Khu gan, tỳ lồi lên, bị ấn đau, có dạng mảng màu trắng, màu nâu cọ hoặc từ 3 - 6 điểm màu trắng nổi lên.

Lao phổi do khí than và ôxit silíc

Khu phổi, huyệt gan, huyệt tỳ

1. Lương đạo dương tính.

2. Có dạng mảng màu trắng màu nâu cọ hoặc 3-6 điểm màu trắng nổi lên,

3. Nếp nhân thùy tai.

Viêm phế quản cáp tính

Khí quản

Biểu hiện đỏ ửng ở dạng điểm hoặc dạng mảng, một số có dạng điểm màu trắng viền biên đỏ, có quang trạch.

Viêm phế quản mạn tinh

Khu khí quản, phổi tim, đại tràng

1. Dạng điểm hoăc màng màu trắng, đường viền rõ ràng, một số có dạng nốt mẩn màu trắng, đều không có quang trạch.

2. Điện trở thấp

Viêm phế quản mạn tính, phát tác cấp tính

Khí quản

Biểu hiện dạng điểm, dạng mảng màu trắng hoặc nốt mẩn, viền đỏ, đều có quang trạch.

Thống kinh

Khu tử cung

Có dạng điểm màu trắng hoặc màu đỏ, có mỡ.

Kinh nguyệt và bạch đới quá nhiều

Khu tử cung

Có dạng điểm, nốt mẩn, sung huyết.

Kính nguyệt ít hoặc bế tắc kinh nhanh

Khu tử cung

Có dạng điểm hoặc mảng màu trắng, không quang trạch, một số có dạng sùi vỏ đường.

Viêm cổ tử cung

Khu tử cung, phụ kiện

Điện trở thấp.

Chứng nhiểm độc máu khi có thai

Khu tử cung, khu tương ứng

Có ấn dạu.

Có thai sớm

Khu tử cung

Có điểm ấn đau.

Khối u tành tính

Vị tri tương ứng

Có kết đốt lổi lên dưới da, đẩy có di động; viền biẽn rõ ràng không có ấn đau.

Khối u ác tính

Vị tri tương ứtìg

1. Có xương sụn lồi lên, đường viền không rõ, không di động.

2. Có trường hợp có dạng mảnh màu xám tối, ấn đau rõ rệt.

Sau khi phẫu thuật các loại

Vị tri tương ứng

Có dạng đường dây màu trắng hoặc vết sẹo hình nửa vòng tròn có một sổ màu xám tối.

Viêm khớp cấp tính, tổn thương xương

Vị trí tương ứng

Có dạng mảng hoặc dạng chấm đỏ ùng.

Khớp vai khó giơ tay lên

Vai, khớp vai

Điện trở thấp.

Viêm khớp lâu năm

Vị tri tương ứng

Có dạng chấm màu trắng, xung quanh màu đỏ, đều có quang trạch.

Viêm khớp mạn tính phát tác cấp tính

Vị tri tương ứng

Có dạng chấm màu trắng, xung quanh màu đỏ, đều có quang trạch.

Cột sống biến dạng hoặc phì to, gẫy xương

Vị trí tương ứng

1. Thành dạng dây thừng hoặc kết đốt nổi lên, có thể dạng dây thừng lõm xuống, ngang dọc bất nhất.

2. Điện trỏ thấp.

Vièm mũi mạn tính

Mũi ngoài, huyệt viêm mũi, khu phế nội tiết

Có bị ấn đau.

Hỏa nhãn tính bạo phát

Trên thùy tai

Có ấn đau, có kết dốt to bằng hạt thóc, màu da ở huyệt hơi khác màu da xung quanh.

Bệnh tật trong mắt

Khu mắt

Điện trở thấp.

Nghiên cứu hiện đại:

1. Nghiên cứu lâm sàng:

1. Chẩn đoán ung thư: Đặc trưng dương tính ở phần tai của người bị ung thư có biểu hiện chủ yếu là vị trí phần tai có liên quan dầy lên, và cả sự khác thường về màu da ở vị trí tương ứng. Qua so sánh đổi chiếu 344 bệnh nhân có khối u ung thư với 292 trường hợp từ 30 tuổi trở lên không có bệnh sử ung thư, quan sát về tình hình tàng sinh xương sụn ở trên vành tai, đã phát hiện người bị tăng sinh xương sụn từ 3 chỗ trở lên ở trên vành tai, ở nhóm bị ung thư là 63 người (18,31%) mà ở nhóm đối chiếu chỉ có 15 người (5,13%).
Chẩn đoán vành tai của 69 bệnh nhân đã được Tây y xác định là bị ung thư, tỷ lệ chẩn đoán phù hợp đạt 80%. Vị trí ta thấy trên vành tai của người bị ung thư không phải là vật nổi lên thì chính là điểm có ung thư (có màu bẩn như cứt ruồi hoặc màu nâu đen dạng điểm nhỏ như đầu kim, to thì bằng hạt tấm, phần lớn là hình tròn) duy chỉ có ung thư gan là có dạng vết lõm hình hoa mai ở khu gan, đồng thời cũng xuất hiện điểm ứ; người bị ung thư thực quản, môn vị có dạng hạt gạo nếp cao thấp không bằng nhau ở chỗ cuối vành tai; người bị ung thư phổi ở khu phổi phải có khá nhiều vết ung thư (điểm ung thư thành mảng). Những phát hiện này rất có giá trị đốì với việc suy đoán bệnh vị. Qua điều tra trên 49 người bị bệnh ung thư thì 39 người bị tăng sinh lồi lên ở huyệt tai, chiếm khoảng 70%. Đồng thời chú ý đến huyệt tai bị tăng sinh sau khi cắt bỏ ung thư phần gan trong một quãng thời gian vẫn hoàn toàn không thay đổi. Một nhóm nghiên cứu đã quan sát các bệnh nhân bị ung thư đường tiêu hóa, người có cục bộ huyệt tai tương ứng một bên lồi lên là ung thư dạ dầy chiếm 59%, ung thư gan là 52%, ung thư thực quản là 33%, ung thư đường ruột là 39%, người có huyệt tai tương ứng một bên bị lõm xuống theo thứ tự trình bày các loại ung thư trên đây là 42%, 39%, 20%, 22%; có sự khác biệt rõ rệt khi so sánh với nhóm khỏe mạnh.

Khi nhìn chẩn đoán vành tai của 54 người bị ung thư gan, có 32 người có biểu hiện kết đốt nổi lên ở khu gan, trong 52 người của nhóm đối chiếu chỉ có 2 người, khu gan có biểu hiện dạng hoa cải hoặc vết chấm màu ám tối là 22 người, nhóm đối chiếu thì không có. Ngoài ra ở khu đặc dị I (đoạn giữa, trên của viền vành tai) và khu đặc dị II (trên thùy tai ở huyệt amidal 3-4, thành 1 đường) của 54 người bị ung thư gan cũng đều có phản ứng dương tính ở nhiều mức độ khác nhau, mà ở nhóm so sánh chỉ có 6 người có phản ứng dương tính. So sánh với kết quả chẩn đoán của y học hiện đại, tỷ lệ phù hợp chiếm 83,33%. Qua nghiên cứu và phát hiện, xung quanh gan ở vành tai của người bị ung thư gan có hình vòng tròn lõm xuông.

Người bị ung thư gan bị di căn có biểu hiện dạng hoa mai to nhỏ đan chéo nhau, khu gan có màu vàng đất, có điểm ấn đau.

Về phương diện ung thư thực quản, kiểm tra huyệt thực quản ở vành tai của 23 bệnh nhân ung thư và 39 người khỏe mạnh, kết quả cho thấy, tỷ lệ xuất hiện vật tăng sinh trên vành tai người bị ung thư thực quản cao hơn nhóm so sánh. Tính mẫn cảm của nó đạt tới 96,90%, tính đặc dị của nó là 64,1%.

Phòng nghiên cứu bệnh viện châm tê, đã lấy các vết sắc tố lắng đọng màu nâu đen hoặc màu xám đen tương đối rõ ở ngoài vành tai, các điểm ấn đau và những nốt mẩn như hạt kê ở khu vực đặc dị hai tai hoặc một tai để làm phản ứng dương tính, kết quả có 56 người bị ung thư thực đạo, tỷ lệ vọng chẩn chính xác là 75%, 148 trường hợp không ung thư tỉ lệ vọng chẩn cơ bản chính xác 91,9%, dùng phương pháp ấn đau huyệt tai để quan sát 90 trường hợp ung thư thực quản, 71 người có điểm ấn đau ở khu thực đạo, mà trong 30 người bình thường chỉ có 2 người có điểm ấn đau ở khu thực đạo.

Triệu Thủ Nghi đã tiến hành sờ chẩn huyệt tai và quan sát bệnh nhân bị khôi u tử cung và đã phát hiện, phàm là trong tổ chức dưới da huyệt đơn có 1 vật phản ứng dạng dây thừng to khoảng 1mm và dài từ 2 - 3mm sờ vào không mất đi là dương tính, huyệt tử cung có dạng dây xoắn nói chung thường là đi từ trên xuống dưới, ít khi đi xiên hoặc đi ngang; dạng dây xoắn ở huyệt nội biết thường đều đi song song với đường ngoài tai. Trong 67 trường hợp sờ chẩn huyệt tử cung dương tính, sau khi phẫu thuật, chẩn đoán bệnh lý bệnh này là 48 người; trong 63 trường hợp sờ chẩn huyệt nội tiết dương tính, sau khi phẫu thuật chẩn đoán bệnh lý bệnh này là 45 người.

2. Chẩn đoán bệnh tim: Ngoài sự xác thực của nhiều nhà nghiên cứu và sự xuất hiện nếp nhăn ở tai, đúng là có quan hệ rõ ràng tới sự phát bệnh của bệnh động mạch vành, còn có người cho rằng sự xuất hiện dạng vòng, dạng đường, dạng hình cung thay đổi tiền khu tim của vành tai là phản ứng bệnh động mạch vành, ở Trung Quốc có người đã quan sát 122 người bị bệnh động mạch vành, số người có triệu chứng ở 2 tai dương tính là 60,7%; ở Tứ Xuyên Trung Quốc có người quan sát 42 bệnh nhân động mạch vành, triệu chứng hai tai dương tính là 72,1%; phân tích kết quả nhìn chẩn đoán vành tai bệnh nhân động mạch vành trên 122 người đã xác chẩn, 87 người có phản ứng rõ rệt về thay đổi màu sắc ở khu tim vành tai (màu đỏ, màu tối, màu xám tối); thay đổi hình dạng (hình tròn, hình bán nguyệt; dạng đoạn dây, hình cung, hình tia xạ), nốt mẩn và dạng chấm lõm xuống màu đỏ... chiếm 71,3%, phản ứng dương tính không rõ ràng là 35 người, chiếm 28,69%. Tiến hành quan sát nhiễm sắc huyệt tai của 60 bệnh nhân động mạch vành, đồng thời phân nhóm so sánh với 60 người được thử bài trừ bệnh động mạch vành, kết quả rõ ràng, khu tim và tiểu tràng đồng thời cùng bị biến màu là phản ứng đặc trưng của bệnh động mạch vành trên huyệt tai, tỷ lệ phù hợp đạt khoảng 80%, mà nhóm so sánh chỉ là 3,3%.

3. Chẩn bệnh ở phần phổi: Bệnh ở phần phổi trên vành tai cũng có những thay đổi có tính đặc trưng của nó. Quan sát thấy giữa hai khu phổi trên vành tai khi bị viêm phổi cấp tính, thời kỳ lao phổi hoạt động thì ở khu phổi trên vành tai có biểu hiện dạng nốt hoặc nổi mẩn màu đỏ; thời kỳ phổi bị lao dạng canxi hóa thì ở khu phổi có 1 hoặc nhiều nốt lõm xuống bằng đầu kim. Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra nhìn khu tai của 32 người công nhân bị lao phổi thời kỳ đầu do nhiễm silic, kết quả 91% số người vành tai xuất hiện vết ban màu đen, 72 - 75% số người xuất hiện nốt mẩn, sùi mùn mạt và kết cứng ở khu phổi, dùng phương pháp nhiễm sắc huyệt tai kết hợp với lịch sử tiếp xúc với bụi công nghiệp để chẩn đoán bệnh lao phổi và so sánh với chẩn đoán bệnh lao phổi bằng phương pháp chụp X quang, kết quả xác chẩn bằng nhiễm sắc huyệt tai đối với 40 người bị lao phổi với 40 người đã được loại trừ lao phổi đã chĩ ra tỷ lệ phù hợp đạt 95%.

Có rất nhiều báo cáo nghiên cứu về phương pháp đùng phần tai để chẩn đoán bệnh phổi, lấy gốc tai trên và khu thượng chi, đại lăng để làm điện trở chuẩn cơ bản, kiểm tra 170 người của các nhóm so sánh xác chẩn bệnh lao phổi và không có bệnh phổi, tỷ lệ dương tính phản ứng lương đạo xuất hiện ở điểm lao, huyệt đại tràng, huyệt thận trên vành vai, nhóm lao phổi là 86,4%, 83,5%, 77,5%, khác với nhóm đôì chiếu là 5,3%; 41,2%. Điểm lao ở huyệt tai hoặc điểm lao thêm huyệt đại tràng lương đạo, có thể coi đó là chứng cứ tham khảo chẩn đoán bệnh lao kết của người thành niên. Khi dùng máy thám trắc điện tai, lấy huyệt gốc tai trên điều chỉnh đến mức đèn sáng làm chuẩn, kiểm tra 1.370 trường hợp bị viêm khí quản mạn tính, khí thũng phổi và 120 học sinh khỏe mạnh về điểm lương đạo huyệt tai và phát hiện 10 người huyệt vị có dương tính phổi, tim, đại tràng..., có thể coi là tài liệu tham khảo để chẩn đoán viêm phế quản mạn tính hoặc viêm phổi. So sánh nhóm lao phổi do nhiễm bụi silíc với nhóm 470 người nam giới thành niên tiếp xúc với bụi công nghiệp bằng phương pháp kiêm tra huyệt tai, đã phát hiện tính mẫn cảm ở 4 huyệt là điểm lao phổi (điểm S), điểm phổi đại tràng và thận của nhóm lao phổi là rất cao. Thứ tự là 82,34%; 88,51%; 83,40%; 82,88%. Mà ở nhóm so sánh thì có thứ tự là 6,60%; 11,28%; 49,57%; 48,30%, hai nhóm khác nhau rất rõ rệt. Sau đó dùng biện pháp song hành để nghiệm chứng đốì với 5.884 người tiến thêm một bước nghiên cứu về 4 huyệt điểm lao phổi, kết quả thu được cũng trùng hợp. Năm 1978 đã tiến hành kiểm tra 14.449 người công nhân mỏ ở Trung Quốc, qua đối chiếu với phim chụp X quang, tỷ lệ phù hợp khoảng 80%, có thể coi là phương pháp hỗ trợ tốt cho kiểm tra, sau khi dùng phương pháp nhìn chẩn đoán, trắc định âm hưởng, trắc định điện điểm dương tính các tin tức ở phần tai, đồng thời so sánh đối chiếu với phim X quang của 501 bệnh nhân viêm phế quản, kết quả đã chẩn đoán được các bệnh nhân có sùi mùn, nốt mẩn và sung huyết rất nhiều và tâp trung ở khu khí quản, khu phổi, khu đại tràng, khu hầu họng, khu tỳ: âm hưởng và điện vị kiểm tra có biểu hiện dương tính mạnh ở khu khí quản, đại tràng và phổi, tin tức chẩn đoán phần tai là 88 người viêm phế quản cấp tính, 87 người phù hợp lâm sàng; viêm phế quản mạn tính là 413 người, 406 người phù hợp lâm sàng, tổng tỷ lệ phù hợp là 98,4%.

4. Chẩn đoán bệnh gan mật: Vể phương pháp nhìn sự thay đổi của mạng lưới mạch máu ở lưng tai, vể sự rõ ràng và màu đỏ tươi, đỏ thẫm, xanh tím để chẩn đoán viêm gan, đã quan sát 200 người, nhìn tai chẩn đoán so với đã chẩn đoán bằng sờ nắn, hóa nghiệm, siêu âm có tỵ lệ phù hợp 90% trở lên. Quan sát tình hình thay đổi huyệt tai của 68 người bị xơ cứng gan và so sánh với 68 người khỏe mạnh hoặc không có bệnh gan đã phát hiện cục bộ khu gan ở huyệt tai của 39 bệnh nhân có thay đối sắc tố màu nâu xám hoặc màu tím đỏ, và có cả dạng vết ban, đường gò nổi lên, tỷ lệ dương tính là 57,4%; tỷ ỉệ dương tính của nhóm so sánh chỉ có 14,8%, Nhìn chẩn đoán vành tai và đã xác chẩn 64 người bị bệnh gan mật, trong đó bệnh gan (viêm gan, xơ cứng gan, bệnh gan huyết hấp trùng, gan tỹ sưng to) là 31 người; bệnh mật (viêm túi mật, kết sỏi mật...) 33 trường hợp, có 57 người ở khu gan, mật vành tai đều phát hiện có dương tính (có dạng vết ban, đoạn ngắn xương sụn nổi lên, dạng nốt mẩn hoặc như hạt kê và vết ban màu trắng, nổi lên bề mặt da không cao lắm) trong đó có 29 người biểu hiện ở 2 tai, 28 người ở một bên tai. Dùng cách vén ấn vỏ tai để kiểm tra điểm mẫn cảm kết quả ở khu vực tiêu hóa (khu gan tai phải mẫn cảm là 77,77%; khu gan tai trái mẫn cảm chiếm 69,44%) tỷ lệ mẫn cảm khá cao so với người bình thường.

Về phương diện nghiên cứu thăm dò tin tức bệnh gan ở vành tai qua kiểm tra vành tai và xác chẩn 115 người bị viêm gan, 80% trở lên bệnh nhân đều đồng thời xuất hiện điểm mẫn cảm ở 5 huyệt là khu viêm gan, gan dương 1, điểm viêm gan, nội tiết và giao cảm, sau khi kiểm tra lương đạo khu gan vành tai, kết quả là 50 người bình thường chỉ có 2 người lương đạo khu gan tai, 60 bệnh nhân phù thũng thì lương đạo khu gan cũng chỉ có hai người, mà 10 người viêm gan kiểu hoàng đản thì toàn bộ lương đạo khu gan, 20 người viêm gan không bị hoàng đản cũng có 26 người lương đạo khu gan. Kiểm tra vành tai của 103 người viêm gan không bị hoàng đản, phát hiện tỷ lệ xuất hiện lương đạo, ở khu dạ dầy vành tai rất cao (khu dạ dầy trái 58,2%, khu dạ dầy phải là 63,1%), kế đến là khu gan khu tỳ tai phải, lương đạo khu gan 2 tai chỉ chiếm 19,4%. Trong đó tỷ lệ xuất hiện lương đạo ở khu dạ dầy, tỳ, gan của người bị viêm gan cấp tính cao hơn so với người bị viêm gan mạn tính, tỷ lệ dương tính của người có thay đổi chức năng gan càng cao. Qua kiếm tra 236 người bị viêm gan, lương đạo khu gan tai chiếm tới 56,3%. Mà 305 người bình thường thì lương đạo khu gan chỉ chiếm 8,19%, lương đạo ở các huyệt tai khác của người bình thường so với người bị viêm gan không có khác biệt rõ rệt.

về phương diện bệnh ở túi mật, qua kiểm tra và xác chẩn 24 bệnh nhân bị viêm túi mật, trong đó ở 3 huyệt khu gan, phúc ngoại (bụng ngoài) của 21 người có biểu hiện điểm mẫn cảm, mà khu mật có cảm giác đau như châm. Dùng phương pháp nhiễm sắc huyệt tai để kiểm tra 88 bệnh nhân bị viêm túi mật, sỏi mật và 21 bệnh nhân bị các bệnh khác, tỷ lệ phù hợp của nhóm quan sát với phẫu thuật đạt 94%, phù hợp với chẩn đoán siêu âm đạt 86%. Nhóm hợp tác nghiên cứu chẩn đoán phần tai đã dùng nhiễm sắc huyệt tai để quan sát 142 bệnh nhân bị sỏi mật, kết quả sau khi nhiễm sắc phần tai, số bệnh nhân xuất hiện vết ban nổi màu là 93%, mà 34 người khỏe mạnh ở nhóm so sánh thì số vết ban nôi màu tương đối ít, chỉ chiếm 41,18%, tỷ lệ chênh lệch giữa 2 nhóm khá rõ rệt (p < 0,05%); mà phản ứng dương tính vị trí nổi màu huyệt túi mật ở vành tai với nhìn chẩn đoán huyệt tai cơ bản là phù hợp (76,31%), tức là có 29 người điểm trắng trên da nhìn chẩn đoán được là giống nhau. Nhìn chẩn đoán vành tai của 108 bệnh nhân bị sỏi mật, phát hiện 83,33% số bệnh nhân có sự thay đổi sắc trạch và hình thái ở da khu mật huyệt tai, rõ ràng cao hơn 11,11% so với nhóm so sánh khỏe mạnh, sự thay đổi da huyệt tai thì điểm trắng là đa số, chiếm 90,74%, dạng mảng trắng tăng sinh chiếm 9,26%, số điểm trắng nhiều hay ít có liên quan đến hình thái kết sỏi ở đường mật. Tỷ lệ phù hợp nhìn chẩn và chẩn đoán nhiễm sắc huyệt tai là 76,32%; giá trị điện trở trung tâm chỗ thay đổi da huyệt tai nhỏ hơn da bình thường xung quanh, ứng dụng máy thám trắc tin tức phần tai với 100 bệnh nhân bị viêm túi mật mạn tính và sỏi mật, đồng thời so sánh với kêt quả xác chẩn bằng siêu âm, kết quả trong huyệt mật, điểm mật, điểm gan, đạ dầy thì tín hiệu ở mật và điểm mật là mạnh nhất, tỷ lệ phù hợp giữa 2 phương pháp là 96%.

5. Chẩn đoán bệnh hệ tiêu hóa: Ngoài bệnh tật ở gan mật ra, còn có không ít các nhà y học đã tiến hành nghiên cứu tin tức ở phần tai về các bệnh tật khác ở hệ thống tiêu hóa. Các nhà y học đã quan sát phản ứng vành tai của 103 người và đã xác chẩn bệnh ở hệ thông tiêu hóa, kết quả 75 người ở huyệt tương ứng vành tai xuất hiện phản ứng nốt mẩn, xuất huyết dạng chấm, mảng màu đỏ ửng..., (72,81%); 22 người xuất hiện phản ứng ở các huyệt tạng phủ tương quan (21,36%): 6 người không có phản ứng (5,82%), so sánh qua nhiễm sắc huyệt tai với ống nội soi dạ dày quan sát 36 người bị viêm dạ dầy đơn thuần, 31 người bị viêm loét dạ dầy và hành tá tràng với 91 người đã loại trừ bệnh dạ dầy và hành tá tràng, kết quả so sánh nổi màu huyệt tai của các bệnh nhân dạ dầy và hành tá tràng có ý nghĩa rất rõ ràng.

Một nhóm nghiên cứu đã quan sát 150 bệnh nhân bị dạ dầy, có 24 người biểu hiện dương tính ở khu dạ dầy huyệt tai, trong đó 22 người được xác thực là bị ung thư dạ dầy; 123 người có biểu hiện phản ứng dương tính ở khu dạ dầy huyệt tai, 122 người đã được xác thực bệnh lý là không bị ung thư dạ dầy, 3 người khả nghi có phản ứng ở khu dạ dầy huyệt tai, xác thực bệnh lý đều không bị ung thư dạ dầy. Cổ Mạnh Huy cũng đã làm theo phương pháp vọng chẩn khu dạ dầy huyệt tai tiến hành phân tích chẩn đoán bệnh lý với 481 bệnh nhân; kết quả bình thường là màu hồng nhạt, màu vàng nâu nhiều là viêm bề cạn dạ dầy dạng đơn thuần, dạng sung huyết là bị viêm loét xuất huyết; sung huyết là thời kỳ viêm loét cầu bộ hành tá tràng và có cả vết ban màu trắng xám, thời kỳ đứng yên tĩnh tại thì có vết ban màu tím tối, ban màu trắng xám; dạng dầu mỡ nhầy là viêm dạ dầy dạng co rút bề mặt và có dạng nốt mẩn như hạt kê. Viêm hành tá tràng thì có dạng dầu mỡ nhầy và sung huyết; màu vàng nâu, sung huyết, ban màu tím tổi là viêm dạ dầy do dịch vị trào ngược; sung huyết, ban màu trắng xám là viêm loét dạ dầy; ung thư dạ dầy thường có biểu hiện vết ban màu tím tối, nốt mẩn như hạt kê, khô khan, nốt mẩn dạng đỉnh màu đen.

6. Chẩn bệnh hệ thống tiết niệu: Nhóm Thạch Tỉnh Thái Hiến đã theo phương pháp kiểm tra huyệt tai của Trung Quốc để kiểm tra các phản ứng có tính đặc dị ở thận, Ống dẫn niệu, bàng quang, tuyến tiền liệt, niệu đạo, chẩm, tinh hoàn... trên huyệt tai của các bệnh nhân về hệ thống tiết niệu mà đối với người bình thường thì rất ít có phản ứng. Dùng máy trắc định kinh lạc để kiểm tra điếm lương đạo vành tai của 20 bệnh nhân viêm thận, phát hiện ra lương đạo khu thận ở 2 tai trái phải khác nhau là 95% và 90%, mà người bình thường là 4,5%. Kiểm tra điểm mẫn cảm huyệt tai của 52 bệnh nhân đã xác chẩn viêm thận, đã phát hiện ở 4 huyệt thận, bàng quang, nội tiết và điểm viêm thận có tỷ lệ xuất hiện điểm mẫn cảm tới 98,1%, nói lên giữa điểm mẫn cảm 4 huyệt và viêm thận có mối quan hệ nhất định, cho nên đã coi 4 huyệt đó là huyệt vị tham khảo chẩn đoán khi phân tích bệnh viêm thận.

7. Chẩn đoán bệnh thần kinh: Từ năm 1963 đến nay, đã có nhiều người chú ý đến mối quan hệ giữa "nhĩ giáp áp ngấn" với chứng tinh thần phân liệt, hơn 20 năm nay đã quan sát so sánh qua gần 3.000 bệnh nhân tinh thần phân liệt với 2.500 người bình thường, đã phát hiện tỷ lệ xuất hiện "nhĩ giáp áp ngấn" (tức là vết dị dạng nhỏ ở mặt lưng vành vai trống như vết bấm móng bay thành ngấn lõm xuống) trong số bệnh nhân bị tinh thần phân liệt là (± 10%) cao hơn so với người bình thường chỉ có p < 0,01, mà lại thấy nhiểu ở những bệnh nhân tinh thần phân liệt ở độ tuổi thanh xuân và mới xây dựng gia đình do tố chất bị khuyết hãm. Cho nên nhĩ giáp áp ngấn có khả năng là tiêu chí trên vành tai có ý nghĩa bị khuyết hãm phát triển có tính bẩm sinh.

8. Chẩn đoán bệnh sốt rét cách nhật: Các nhà y học đã dày công nghiên cứu chẩn đoán vành tai đối với bệnh nhân bị sốt rét cách nhật, về phương diện nhìn chẩn huyệt tai. Thông qua quan sát vi trùng sốt rét trong máu của 91 bệnh nhân bị sôt rét cách nhật, phát hiện ra ở khu vực ở điểm giữa đường biên của huyệt bôn môn với điểm khuếch trương phế quản trên kéo dài ra ngoài 0,6cm, trên huyệt tỳ có sự thay đổi dương tính như biến sắc, biến hình, nốt mẩn và sùi mùn là 66 người, chiếm 72,5%; mà 84 người không bị lây nhiễm vi trùng sốt rét thì chỉ có 4 người có phản ứng dương tính, chiếm 4,8%. So sánh 2 nhóm p < 0,01. Sau đó tiến hành nghiệm chứng phương pháp đó thì có kết quả trừng hợp. về phương diện kiểm tra huyệt tai: Dùng máy thám trắc huyệt tai kiểm tra huyệt thận, bàng quang, khu sốt rét, tỳ... của những người ở khu sốt rét lưu hành, phát hiện và so sánh với kiểm tra vi trùng sốt rét trong máu qua một lượng lớn tư liệu đã chỉ rõ tỷ lệ phù hộp giữa kiểm tra tai và kiểm tra máu dương tính đạt từ 79,2 - 90%. Về phương diện nhiễm sắc huyệt tai: Tỷ lệ nhiễm sắc dương tính của nhóm 77 người bị sốt rét cách nhật là 83,12% (P < 0,01) cao hơn hẩn so với nhóm 75 người có nhiễm sắc giả dương tính chỉ có tỷ lệ là 14,66%. Nghiên cứu trên đây cho thấy, dùng phương pháp chẩn tai để chẩn đoán bệnh sốt rét cách nhật có tính đặc dị và giá trị thực dụng nhất định.

9. Chẩn đoán bệnh huyết hấp trùng: Dùng phương pháp lương đạo kiểm tra huyệt tai của 230 bệnh nhân huyết hấp trùng và 230 bệnh nhân không bị huyết hấp trùng, kết quả số người có phản ứng dương tính điểm huyết cơ của các bệnh nhân bị huyết hấp trùng chiếm tới 97,5%; mà tỷ lệ dương tính của nhóm so sánh chỉ có 4,8%. Trải qua phân tích thêm một bước, lấy 1 hoặc nhiều điểm huyết cơ làm cơ sở thêm vào đó lấy đoạn trên trực tràng, đoạn dưới trực tràng, đại tràng, gan... chủ yếu bổ sung chẩn đoán, phân chia thành nối liền các điểm 2, 3, 4, 5 thì biểu thị điểm chẩn đoán bổ sung nói trên xuất hiện càng nhiều thì độ tin cậy chẩn đoán càng cao.

10. Chẩn đoán bệnh xơ cứng động mạch não: Lương y Ulumugi Trung Quốc đã nghiên cứu nếp nhăn thùy tai của 200 người bình thường và 125 bệnh nhân bị xơ cứng động mạch não, kết quả so sánh quan sát cho thấy: Tỷ lệ xuất hiện nếp nhăn thùy tai của người bị xơ cứng động mạch não là 91,1%, có sự khác biệt rất rõ rệt so với những người bình thường.

11.  Chẩn đoán chứng đau: Quan sát sự thay đổi mạch lạc tai của 40 trẻ em bị chứng đau khác nhau về nguyên nhân gây bệnh và khác nhau về triệu chứng, phát hiện lạc tai to đa số bắt đầu từ vành thuyền tai, khoang giáp tai, phân thành hốc tam giác, chân trên đốì với vành tai và lỗ thuyền tai mô rộng, hình của nó có dạng cành cây; sắc trạch lạc tai thành sâu hay cạn nhạt và phân bô chi lạc nhiều hay ít, cũng như mối tương quan tỷ lệ thuận với mức độ mạnh yếu của bệnh tình đau đớn. Oleson đã dùng phương pháp song manh để kiểm tra phân bố đốỉ ứng huyệt vị châm tai với điểm đau cơ cốt đã dùng điện trắc định 40 bệnh nhân, quan sát mắt thường kiểm tra sờ ấn đau, phát hiện đại đa số huyệt vị có phản ứng trên vành tai cũng giống như vị trí phát sinh đau đớn mà bệnh nhân khai báo, độ tin cậy chẩn tai đạt 75,2%. Ông cho rằng chẩn đoán tai đối với bệnh nhân bị hôn mê và trẻ em rất có tác dụng.

12. Chẩn bệnh cột sống: Quan sát mối quan hệ về sự thay đổi huyệt tai với bệnh cột sống cổ, vọng chẩn huyệt tai và sờ chẩn đoán bệnh đốt sống cổ, đồng thời dùng phương pháp song manh so sánh với phim chụp X quang, tỷ lệ phù hợp đạt 80% trở lên.

Dùng phương pháp phản chiếu ánh mặt trời để kiểm tra vành tai và khu thận của các phần tai để chẩn đoán chất tăng sinh của cột sống; lấy hình bậc thang hình thành từ đường màu vàng trắng với đường màu đỏ tối trên vành tai và khu thận làm căn cứ, dựa vào đó chẩn đoán chất lượng cột sống tăng sinh của 200 bệnh nhân, so sánh với phim chụp X quang, có 196 bệnh nhân phù hợp với chẩn đoán của phim X quang, tỷ lệ xác chẩn đạt 98%, so sánh với nhóm đối chiếu có sự khác biệt rất rõ rệt.

13. Chẩn đoán bệnh trĩ: Kiểm tra điểm lương đạo 2 tai của 20 bệnh nhân bị bệnh trĩ đang nằm viện chuẩn bị phẫu thuật, đồng thời so sánh với 16 người bình thường, đã nêu lên điểm lương đạo vành tai của bệnh nhân khoa trĩ có quy luật nhất định: Điểm lương đạo không xuất hiện cô lập ở một điểm nào đó, mà có hiện tượng thành một dạng tổ hợp, so sánh với nhóm đã loại trừ thì ngoài điểm lương đạo tỷ lệ xuất hiện cũng tương đối cao, còn có ở đoạn dưới trực tràng, niệu đạo, khu cơ quan sinh dục ngoài và khu mông, khu tọa cốt, có thể được coi là điểm lương đạo tương quan của bệnh khoa trĩ.

14. Chẩn đoán vết thương phẫu thuật: Kết quả kiểm tra điểm lương đạo đối với bệnh nhân bị viêm loét dạ dầy, hành tá tràng, thoát vị bụng, ung thư thực đạo và người có thai sớm nạo thai, nữ công nhân thắt ống dẫn trứng, trước khi phẫu thuật và sau khi phẫu thuật 3 ngày: Trừ phụ nữ có thai, nữ công nhân sẩy thai trước khi thắt ống dẫn trứng thì tỷ lệ xuất hiện điểm lương đạo ở khu thận, khu bàng quang, khu nội tiết và hốc tam giác (bao gồm tử cung và thần môn) tương đốì nhiều, vị trí phù hợp với sự thay đổi sinh lý và phân bố điểm lương đạo của những ảnh hưởng chủ yếu ở tạng khí ngoài, dạ dầy, viêm loét hành tá tràng, thoát vị bụng, ung thư thực đạo trước khi phẫu thuật trên vành tai hoàn toàn chưa thấy có quy luật. Nhưng sau khi phẫu thuật đều thấy điểm lương đạo gia tàng rõ rệt ở trên dưới gốc tai, hốc tam giác và chỗ thuyền tai, mà người phẫu thuật cắt phần lớn dạ dầy, điểm lương đạo ở khắp khu tiêu hóa; người phẫu thuật thoát vị bụng thì ở khu đại tràng, tiểu tràng và khu bàng quang, công nhân sẩy thai thắt ống dẫn trứng điểm lương đạo gia tăng rõ rệt ở khu buồng trứng; người bị ung thư thực quản thì điểm lương đạo ở khu thực đạo giảm sút, xuất hiện những điểm lương đạo này có quan hệ tương ứng với vị trí vết thương phẫu thuật, cần phải chú ý.

15. Chẩn đoán bệnh phụ khoa: Dùng phương pháp vén ấn vỏ tai để kiểm tra điểm mẫn cảm vỏ tai của 20 bệnh nhân mắc bệnh phụ khoa, phát hiện có nhiều ở khu nội phân tiết (80%), thứ đến là khu buồng trứng (55%), qua quan sát phát hiện khu tử cung vỏ tai của người bị thống kinh có dạng chấm màu trắng hoặc màu đỏ ửng, có dầu mỡ; khu tử cung của người hành kinh và khí hư quá nhiều có dạng chấm nốt mẩn sung huyết; khu tử cung của người kinh nguyệt quá ít hoặc thời gian hành kinh quá ngắn có biểu hiện dạng chấm hoặc vết màu trắng, không có quang trạch. Kết quả dùng phương pháp nhiễm sắc huyệt tai với 50 người phụ nữ có thai sớm và 50 nữ thanh niên chưa kết hôn, tỷ lệ dương tính ở huyệt tử cung và âm đạo của nhóm thai sốm là 94% và 64%, cao hơn rõ rệt so với nhóm nữ thanh niên là 16% và 20%. Kết quả này biểu thị: Không chỉ khi đang có bệnh, cho dù khi ở tử cung phát sinh bất kỳ sự thay đổi sinh lý nào, thì ở huyệt tai tương ứng với nó cũng có thể xẩy ra phản ứng, đồng thời có thể dùng phương pháp nhiễm sắc huyệt tai làm cho nó biểu hiện nhìn thấy trực tiếp.

16. Chẩn đoán chứng đa động tổng hợp trẻ em: Phòng bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em đã dùng máy chẩn đoán huyệt tai để trắc định 60 trường hợp bị chứng đa động tổng hợp trẻ em, phát hiện trị số điện dẫn huyệt tai của các cháu tăng cao, có lợi cho chẩn đoán thời kỳ đầu. Phòng nghiên cứu châm cứu kinh lạc đã dùng chẩn đoán điện dẫn huyệt cơ thể, tai, đã kiểm tra tai trái của 1.258 cháu bị chứng đa động, đã khám và chẩn đoán ra trị số điện dẫn của 8 huyệt là tuyến thượng thận, chẩm, điểm não, mật, trán, màng bao dưới, giao cảm và thận tăng cao rõ rệt. Ngoài ra, trị số điện đạo của 5 huyệt là nội tiết, gan, tim, tỳ, thần môn của các bệnh nhi đều có tăng cao từ 60% trở lên. Những huyệt tai có trị số điện dẫn tăng cao này, có thể làm căn cứ khách quan để chẩn trị bệnh này.

17. Chẩn đoán bệnh điếc tai do ngộ độc: Dùng điện dẫn huyệt vị tai và cơ thể để chẩn đoán bệnh điếc tai do ngộ độc dược vật, đã phát hiện mối liên hệ tồn tại bên trong về sự khác thường của trị số điện dẫn tương đốì ở khu huyệt vị như tai ngoài, tai trong, tuyến thượng thận, thần môn v.v với bệnh điếc tai do ngộ độc dược vật, trị số điện dẫn tương đối trên 3 huyệt là tai ngoài, tai trong và tuyến thượng thận của những bệnh nhân mắc bệnh này đều cao hơn rõ rệt so với trị số điện dẫn cơ chuẩn của nhóm so sánh. Sau khi điều trị điện dẫn huyệt vị, kiểm tra lại trị số điện dẫn tương đốì của 3 huyệt này, đều thấy hạ thấp ở các mức độ khác nhau.

18. Các bệnh khác: Akumob cho rằng, khi trên da vành tai xuất hiện các triệu chứng như cứng hóa dạng nấm, mụn nước nhỏ dạng chấm, sắc tố lắng đọng, vân mạch máu tăng nhiều, có thể hỗ trợ chẩn đoán viêm gốc thần kinh xương cùng; bệnh nhân bị chứng cột sống phát triển không tốt lâu dài da vành tai xuất hiện mùn thoát căn cứ vào màu sắc như đỏ, trắng của vết lằn ấn trên vành tai và thời gian phục hồi mặt bằng vết lõm nhanh hay chậm để quyết định hư hay thực của chứng bệnh hữu quan. Nếu vết lằn màu nhạt, thời gian hồi phục mặt bằng chậm, thì cho rằng là hư chứng, thường thấy ở các chứng như thiếu máu, thiếu dưỡng khí, thủy thũng, ngộ độc kiềm.... Ngược lại thì cho rằng thực chứng. Nhóm Arens đã dùng phương pháp chẩn tai (trắc định điện trở ấn điểm mẫn cảm...) để kiểm tra tổ chức xương sụn bệnh phong thấp đồng thời tiến hành nhĩ châm điều trị, đã thu được hiệu quả rất tốt Cruillermo đã sờ chẩn vành tai bệnh nhân, số liệu thu được phù hợp với kết quả trắc lượng thu được bằng các phương pháp kiểm tra phức tạp khác như điện tâm đồ, chụp phim động mạch não, huyết áp, hóa nghiệm máu, hóa nghiệm động nàng gan, và các phương pháp khác.

Phương pháp này đã dùng với 3.500 bệnh nhân bao gồm các loại bệnh, kết quả chẩn đoán chỉ sai 2,3%. Portrov cũng dùng phương pháp song manh chẩn đoán vành tai một số bệnh nhân, cho rằng chẩn đoán vành tai và chẩn đoán lâm sàng có tính thống nhất rất cao, tỷ lệ phù hợp đều từ 80% trở lên.

2. Nghiên cứu thực nghiệm:

Nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến tai đã có rất nhiều học giả từ những góc độ khác nhau tiến hành thăm dò và đã thu được rất nhiều thành tích, thâm nhập nghiên cứu vành tai đã cung cấp rất nhiều chứng cứ cho phòng thực nghiệm. Tình hình nghiên cứu của họ chủ yếu thể hiện mấy phương diện dưới đây:

1. Phản ứng phần tai của sự kích thích tổn thương: Trong nghiên cứu phản ứng ấn đau ở vành tai chỉ tính thực nghiệm của phòng nghiên cứu sinh lý Thượng Hải, Trung Quốc đã quan sát thấy: Sau khi phân biệt các loại kích thích do tổn thương như: (1) Phẫu thuật gẫy xương ông nhỏ; (2) Dầu bông cầu bao bọc thần kinh tọa cốt; (3) Dung dịch cloruacanxi liên tục nhiều lần phóng xạ xuống chân 15%; (4) Phẫu thuật mỏ cửa đỉnh sọ, thì dưới vành tai đều xuất hiện điểm ấn đau, mà đại đa số tập trung trong hốc tam giác và trong rãnh phía dưới gò tai. Ngoài ra còn thông qua việc phun thuốc gây tê vào trong não thất khỉ và thuốc hưng phấn thần kinh trung ương, đã quan sát được tình hình tiêu hoặc tăng của điểm ấn đau vành tai, chỉ ra vị trí trung tâm của điểm phản ứng ấn đau vành tai với năo và các phụ cận liên quan trung ương não.

2. Quan hệ giũa chẩn tai với phụ tải nước: Qua tiến hành thực nghiệm với 42 sinh viên đại học nam và nữ về phụ tải lượng nước lớn (mỗi kg thể trọng uổng đủ 25cc nước, kêt quả quan sát điểm ấn đau khu thận trước sau vành tai: Trước khi uống nước khu thận không có điểm mẫn cảm ấn đau. Sau khi uống nước số người xuất hiện điểm ấn đau rõ ràng ở khu thận là 31 người, chiếm 74%; 8 người trước và sau khi uống nước ở khu thận đều có điểm mẫn cảm ấn đau, chiếm 19%; 3 người trước và sau khi uống nước chưa thấy xuất hiện điểm mẫn cảm ấn đau, chiếm 7%. Thực nghiệm này cho thấy gia tăng phụ tải nước trong cơ thể có tính tương quan nhất định với điểm mẫn cảm ấn đau ở khu thận vành tai.

3. Quan hệ giữa chẩn tai với gẫy xương; Trong quan sát sự thay đổi hình thái học của các nhà nghiên cứu Đông ỵ dược tại phòng thực nghiệm thỏ có 13 con bị gẫy xương trong vòng 1 - 7 ngày ở da sau lưng tai, chủ yếu là chỗ tĩnh mạch chéo nhau phía dưới bên ngoài vành tai xuất hiện điểm sung huyết màu đỏ hình tròn hoặc hình elíp đường kính từ 2 - 4mm, cục bộ kèm theo có sự thay đổi nhiệt độ da và điện trở da, sau 2 ngày đến 2 tuần thì mất dần. Từ mảnh cắt bệnh lý cho thấy, điểm phản ứng dương tính của dạng sung huyết này, ở cục bộ ngoài sự giãn nở mạch máu ra, tính thông suốt mạch máu cũng có thay đổi, thậm chí có cả hồng cầu và bạch cầu thấm vào dưới da.

4. Quan hệ chẩn tai với bệnh tim: Nhóm hình thái tổ nghiên cứu nguyên lý châm tê phần cơ đã công bố kết quả; Trong điều kiện vô trùng, trước khi phẫu thuật thắt động mạch vành bên trái của thỏ đì xuống chân tạo thành tắc trở cơ tim. Trước khi thực nghiệm phẫu thuật thỏ điện tâm đồ bình thường, sau khi phẫu thuật điện tâm đồ có hình sóng tắc nghẽn cơ tim cấp tính. Không qua điều trị, khoảng 2 tháng điện tâm đồ dần dần hồi phục. Trong thời gian tắc nghẽn cơ tim 1/3 da dưới mặt mặt lõm vành tai thỏ xuất hiện nhiều điểm điện trở thấp, so với trước khi phẫu thuật, sự khác biệt rất rõ rệt. Thực nghiệm này chứng minh, có mối quan hệ giữa huyệt tai với tim.

5. Quan hệ chẩn tai với bệnh dạ dầy: Theo kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu châm tê phần cơ sở trong điều kiện vô trùng, tiêm axit axêtic vào tầng dưới niêm mạc dạ dầy thỏ nhà, tạo ra viêm loét dạ dầy, sau 1 tháng không qua điều trị, niêm mạc hồi phục bình thường. Trong thời gian nhóm thực nghiệm viêm loét dạ dầy thỏ, 1/3 da dưới mặt lõm vành tai xuất hiện nhiều điểm điện trở thấp, trong cùng thời kỳ khỏi bệnh viêm loét dạ dầy, các điểm điện trở thấp cũng dần dần biến mất. So sánh với thỏ dùng nước muối sinh lý thay cho axit axêtic tiêm vào tầng dưới niêm mạc dạ dầy không gây ra viêm loét dạ dầy, thì da ở cùng khu vành tai chỉ xuất hiện điểm điện trở thấp linh tinh. Thực nghiệm cho thấy, khi phần dạ dầy có bệnh, sẽ có phản ứng ở vành tai. Họ lại tiến thêm một bước nữa cắt bỏ toàn bộ thần kinh ở da tai phải thỏ nhà, lại kiểm tra điện trở vành tai, phát hiện trong thời gian viêm loét dạ dầy, tai phải vẫn xuất hiện điểm điện trở thâp, chỉ có điều là ít hơn tai trái, đại thể tai phải có 1/3, tai trái chiếm 2/3 tình trạng dao động trị số điện trở thấp, tai trái phải giống nhau. Qua thực nghiệm viêm loét dạ đầy cho chuột, dùng tinh bột iốt để kiểm tra tình hình ra mồ hôi ở da vành tai, cho rằng sự giạ tăng điểm điện trở thấp chủ yếu là do tuyến mồ hôi tăng cường hoạt động gây ra, họ còn thăm dò sự ảnh hưởng và khả năng trở ngại huyết lưu của thần kinh giao cảm. Tóm lại, mối liên hệ giữa dạ dầy và tai khá phức tạp, ngoài nhân tố thần kinh, còn có nhân tố khác.

6. Quan hệ chẩn tai với màng bụng: Tiêm vào trong khoang bụng thỏ nhà với tỷ lệ 1kg thể trọng là 0,5ml dầu thông gây ra viêm màng bụng, hàng ngày ghi lại điểm điện trở thấp ở vành tai, phát hiện trong thời gian bị viêm màng bụng, ở khu huyết quản mặt lõm vành tai, xuất hiện nhiều điểm điện trở thấp. Sau 6 ngày, cùng với lượng thức ăn của thỏ và sự hồi phục bình thường của thể trọng, điểm điện trở thấp ở khu mạch máu cũng dần dần giảm bớt đến mất hết. Mà ở khu mạch máu thỏ nhà so sánh, tuy vẫn có xuất hiện điểm điện trở thấp linh tinh, nhưng không có hiện tượng tập trung lượng lớn. So sánh số bình quân điện lưu điện trở thấp 2 nhóm thực nghiệm và nhóm đối chiếu thì nhóm thực nghiệm là 32,30%, nhóm đốì chiếu là 24,80%. Qua xử lý thống kê học (P < 0,001). Tỷ số so sánh điện đạo khu mạch máu vành tai thỏ cùng nhóm, tỷ số điện lưu của nhóm thực nghiệm trong thời kỳ bị viêm màng bụng trước khi xử lý đều cao hơn thời kỳ phục hồi, p < 0,001. Thực nghiệm cho thấy, sự xuất hiện điểm điện trở thấp ở mạch máu vành tai thỏ là bệnh viêm màng bụng do phản ứng dầu thông gây nên, trong điểm điện trở thấp và giữa các nội tạng trong khoang bụng có một mối liên hệ ở dạng chức năng.

Quan hệ giữa chẩn tai với bệnh ruột thừa: Dùng phương pháp tiêm vào đại tràng của thỏ một lượng vi khuẩn hình que, tạo thành viêm ruột thừa cấp tính có tính thực nghiệm, và dùng phương pháp nhiễm sắc huyệt tai trước và sau khi tạo ra viêm 10 ngày để so sánh tỷ lệ dương tính nhiễm sắc của nó, đồng thời so sánh kết quả kiểm tra giải phẫu bệnh lý cục bộ ruột thừa. Kết quả cho thấy: Sau khi khỏi bệnh viêm ruột thừa, trước và sau khi tạo nhiễm sác huyệt tai sự khác biệt không rõ rệt lắm (P > 0,05); khi chưa khỏi bệnh thì sự khác biệt rất rõ ràng (P < 0,01). Khi cắt phần huyệt tai nổi màu trong trạng thái đông lạnh, phát hiện thấy tầng sừng hóa ở vị trí nhiễm sắc trên da của nó thay đổi rất mỏng hoặc mất hết. Tầng sinh lông và tầng gai sần tăng dầy lên, trong da của nó có thẩm thấu một lượng lớn tế bào limpha. Mà ở phần nhiễm sắc huyệt tai đều tồn tại chất hoạt tính ô xi hóa, mà nhóm đối chiếu và nhóm thực nghiệm không nhiễm sắc thì không có chất ô xi hóa, điều đó nói lên tính tương quan nhiễm sắc huyệt tai với nội tạng là luôn tồn tại.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 2: Chương 6.

Quan tâm  
4

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Lenitral có tác dụng điều trị huyết áp cao trong khi phẫu thuật, kiểm soát suy tim sung huyết do đau tim, điều trị đau ngực ở một số bệnh nhân và giảm huyết áp trong khi phẫu thuật.
Viêm Não Và Viêm Màng Não Có Phải Là Một Bệnh?
Viêm não và viêm màng não có triệu chứng ban đầu khá giống với các bệnh khác, bệnh được chẩn đoán xác định nhờ các xét nghiệm. Và bạn nên nhớ rằng viêm não và viêm màng não là hai bệnh khác nhau chứ không phải là một...
Xét Nghiệm Chloride Trong Máu
Xét Nghiệm Chloride Trong Máu là một xét nghiệm đo Clor trong huyết thanh (huyết thanh là một phần của máu không chứa fibrinogen).
Vitamin D Có Thực Sự Thần Hiệu Như Người Ta Vẫn Tưởng?
Vitamin D có thực sự tốt như người ta vẫn tưởng? hay chỉ là những lời đồn thổi vô căn cứ nhằm quảng bá cho một thương hiệu thực phẩm chức năng nào đó? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ.
Công Nghệ Nano, Sự Kết Hợp Tuyệt Vời Giữa Y Học Cổ Truyền Và Y Học Hiện Đại
Công nghệ Nano đang làm mưa làm gió trên thị trường thuốc tại việt nam nói riêng và thế giới nói chung. Vậy đó là gì mà đặc biệt quá vậy? Có thật sự công hiệu trong điều trị bệnh hay không? Mời cả nhà theo...
Fibrin
Fibrin là sản phẩm sau cùng của tiến trình đông máu, sản sinh ra do tác động của enzyme thrombin trên chất tạo ra huyết tương là tiền thân hòa tan được của fibrin.
Rượu Kế
Rượu Kế hay còn gọi là Tửu Kế, Cồn Kế, là dụng cụ được dùng để xác định độ rượu, độ chìm của Rượu Kế trong dung dịch càng nhiều thì rượu càng nặng.
Trosyd - Thuốc Điều Trị Nấm Bàn Chân Và Nấm Da
Trosyd điều trị tại chỗ bệnh nấm bàn chân và bệnh nấm da gây ra bởi T. rubrum, T. mentagrophytes, E. floccosum, nấm Candida ở da do C. albicans, bệnh nấm da do M. furfur (P. orbiculare).
pH Nước Tiểu Là Gì?
pH là đại lượng đặc trưng cho độ toan-kiềm (acid-base) của một chất dịch như pH máu hoặc pH nước tiểu. Để hiểu thêm về độ pH nước tiểu là gì thì mời bạn tham khảo bài viết dưới đây nhé!
Bí Ẩn Xác Ướp Không Đầu Đã Được Giải Mã
Trong một ngôi mộ cổ ở Ai Cập, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một cái đầu và một thân hình mất tứ chi. Trong hơn 100 năm qua, người ta đã tranh luận rất nhiều về xác ướp không đầu này nhưng vẫn chưa ngã ngũ ra là cái đầu ấy...