Chủ nhật, 19/08/2018 10:02 AM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Mắt

Thứ ba, 13/02/2018 10:00 AM

Mắt là cơ quan thị giác của con người, là 1 trong 5 giác quan của cơ thể. Trong lâm sàng dựa trên phương pháp quan sát sắc trạch của các bộ phận như nhãn thần, nhãn tinh và các triệu chứng thay đổi như đau mắt, ngứa mắt, mờ mắt... để chẩn đoán bệnh tật, gọi là mục chẩn pháp (phương pháp chẩn bệnh trên phần mắt). Mục chẩn, đầu tiên thấy ở trong "Nội kinh", sách này không những đã trình bày tỷ mỉ tường tận lý luận cơ bản về mới quan hệ giữa mắt với tạng phủ, kinh lạc, tinh, thần, khí, huyết, trong lâm sàng, mà còn căn cứ vào mọi thay đổi ngũ sắc của mắt, trạng thái xích mạch (mạch máu đỏ) trong mắt, đồng tử và tinh của mắt (như đồng tử giãn rộng và thu hẹp, mục tinh nhìn lên và nội hàm...) để chẩn đoán bệnh tật. Trong "Linh khu. Luận tật chẩn xích" có nói rằng: "Người mắt màu đỏ, bệnh ở tim, trắng ở phổi, xanh ở gan, vàng ở tỳ, đen ở thận". Chứng minh rằng căn cứ vào sự thay đổi ngũ sắc của tinh mắt, có thể phán đoán được bệnh vị trong tạng phủ. Cho nên "Nội kinh" rất coi trọng phương pháp chẩn mắt, đã nói rõ "Thượng công biết tướng ngũ sắc ở mắt" trong "Linh khu. Tiểu châm giải". Trương Trọng Cảnh đời nhà Hán trong thực tiễn điều trị lâu ngày, cũng đã tích lũy được kinh nghiệm rất phong phú về mục chẩn, trong tác phẩm "Thương hàn tạp bệnh luận" của ông đã nói đến rất nhiều vấn đề có liên quan đến mục chẩn, thường lấy các triệu chứng của mắt làm căn cứ quan trọng cho thương hàn, chẩn đoán các bệnh và biện chứng bệnh, đồng thời liên hệ đến các chứng bệnh về mắt như đỏ mắt, hoa mắt, chóng mặt, tốỉ mắt, xuất huyết mắt, nhìn thẳng không những có thể phân biệt được bệnh tật của mắt mà còn có thể quan sát được mọi thay đổi của lục phủ ngũ tạng, mà đối với công tác chẩn đoán một số bệnh tật, còn có ý nghĩa "nhìn nhỏ biết lớn". Cho nên các nhà y học hậu thế vô cùng coi trọng mục chẩn, trong lĩnh vực nhãn khoa, tốc độ phát triển mục chẩn cũng rất nhanh.

Việc quan sát nhãn thần, nhãn tinh và những thay đổi của các bộ phận trên mắt để định bệnh là một
 phương pháp chẩn đoán lâm sàng rất hay và phổ biến.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Mắt là hình ảnh thu nhỏ của lục phủ ngũ tạng, do bởi mới quan hệ mật thiết giữa mắt với lục phủ ngũ tạng, cho nên, một khi trong lục phủ ngũ tạng phát sinh những thay đổi bệnh lý đều có phản ứng ra ở mắt. Trong "Linh khu. Ngũ long tân dịch biệt" có nói: "Ngũ tạng lục phủ, mắt cho biết triệu chứng của nó". Trong đó quan hệ giữa mắt và gan là mật thiết nhất, như trong "Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận" có nói: "Can chủ mục". Trong "Tố vấn, Kim khuyết chân ngôn luận" có nói "Can... khai khiếu ở mắt". "Linh khu. Mạch độ" nói rằng: "Can khí thông ở mắt, can hòa thì mắt có thể phân biệt được ngũ sắc". Và trong "Tố vấn. Ngũ tạng sinh thành" nói rằng: "Can thụ huyết mới có thể nhìn"..., đều nói lên sự liên quan giữa mắt với gan. Ngoài mới quan hệ giữa mắt và gan ra, mắt còn có quan hệ với tim. Trong "Nội kính" không chỉ nêu lên gan khai khiếu ở mắt, mà còn nói rằng tim cũng khai khiếu ở mắt. Như trong "Tố vấn. Giải tinh vi luận" nói rằng: "Tim là chuyên tinh của ngũ tạng, mắt là khiếu của nó vậy". "Chỉ với mục tinh tất cả tụ ở mắt vậy". "Tố vấn. Ngũ tạng sinh thành" nói rằng; "Các huyết, đều thuộc về tim", "tim là nơi hợp mạch", "Các mạch đều thuộc về mắt" sở dĩ mắt có thể nhìn được, là do sự nuôi dưỡng của tâm huyết, còn được sự chỉ phối của tâm thần, cho nên, trong "Linh khu. Đại hoặc luận" nói rằng: "Mắt là sự điều khiển của tim, tim là ngôi nhà của thần vậy". Tất cả đều nói lên mốì quan hệ mật thiết giữa mắt và tim.

Ngoài ra, mắt và tỳ, phế, thận cũng có mới tương quan đồng dạng. Tỳ là gốc của hậu thiên, "Lan thất bí tàng" nói rằng; "Tinh khí của ngũ tạng lục phủ, đều được tỳ nuôi dưỡng, xuyên thăng lên "mắt". Tỳ kiện vận tốt, thì mắt được nhu dưỡng tinh khí, mắt bắt đầu có thần. Nếu tỳ thất kiện vận, kiệt nguồn hậu thiên, mắt mất nguồn nuôi dưỡng thì nhìn không rõ, cho nên "Lan thất bí tàng" nói rằng: "Tỳ hư tất tinh khí ngũ tạng đều mất nơi nương tựa, không thể mang nguồn sáng cho mắt được".

Phổi chủ khí, phế khí sung vượng, tinh khí tạng phủ dồn lên ở mắt làm cho tinh của mắt sáng, nếu phế khí hư hao, tinh khí không thể dồn lên được tất làm cho mắt lu mờ nhìn cảnh vật không rõ, cho nên "Linh khu. Quyết khí" nói rằng: "Người khí thoát, mắt không sáng".

Thận chủ về tàng tinh, thận tinh sinh ra tủy, hệ mắt thông về não, não là bể tủy. Cho nên thận tinh đầy đủ thì bể não mới đầy, mắt mới được nuôi dưỡng mà có ánh sáng sắc bén được. Thận tinh hư hao, tất mắt mất nguồn nuôi dưỡng nên nhìn cảnh vật mờ ảo tối tăm, cho nên trong "Linh khu. Hải luận" nói rằng: "Bể tủy thiếu hụt... mắt không nhìn thấy, hơn nữa thận tàng mệnh hỏa, mệnh hỏa sung túc, thì thần quang trong mắt mới có thể phát sáng hơn cả bình thường". "Thẩm thị giao hàn" nói rằng: "Thần quang, là trong mắt tự nhiên có thể nhìn thấy tinh hoa vậy, nguồn thần quang của người ở mệnh môn".

Mắt cũng có quan hệ mật thiết với lục phủ như mật, dạ dầy, tiểu tràng, đại tràng, tam tiêu, bàng quang; lục phủ là cơ quan chuyển vụ xuất nhập của cơ thể, có thể mang vật chất tinh hoa do hệ tiêu hóa hấp thụ được chuyển đưa về mắt, làm cho mắt được nhu dưỡng. Hơn nữa về phương diện sinh lý, bệnh lý giữa tạng và phủ đều có liên quan với nhau đến từng hơi thở, bệnh của tạng có thể đến phủ và bệnh của phủ cũng có thể đến tạng. Vì vậy khi mắt có triệu chứng khác thường làm sao có thể không truy cứu đến lục phủ.

Do có mối quan hệ mật thiết giữa mắt với ngũ tạng lục phủ, "Linh khu. Đại hoặc luận" nói rằng: "Tinh khí của ngũ tạng lục phủ, đều dồn lên ở mắt mà làm tinh", "Mắt là tinh của ngũ tạng lục phủ vậy, là nơi thường trú của doanh vệ hồn phách vậy, là nơi sinh ra thần khí vậy". Trong "Linh khu. Ngũ long tân dịch biệt" cũng nói: "Tân dịch của ngũ tạng lục phủ, thấm lên hết ở mắt". Cho nên, quan sát chẩn đoán mắt, có thể tìm hiểu được mức độ thịnh suy của chức năng tạng phủ.

Mắt phân thành ngũ luân, quy thuộc ngũ tạng: "Linh khu. Đại hoặc luận" nói: "Tinh khí của ngũ tạng lục phủ, đều dồn lên ở mắt mà làm tinh, tổ của tinh là mắt, tinh của cốt là đồng tử, tinh của gân là hắc nhãn tinh của huyết là lạc, tinh tổ khí của nó là bạch nhãn, tinh của cơ bắp là ràng buộc, gò ép tinh của gân cốt khí huyết gộp làm một hệ với mạch, trên thuộc về não, sau xuất ở giữa gáy". Hậu thế căn cứ vào đó mà phân chia mắt ra làm ngũ luân, tức là mí mắt là nhục luân, thuộc tỳ; hai khóe mắt là huyết luân thuộc tim; bạch tinh là khí luân, thuộc phổi; hắc tinh là phong luân, thuộc gan; đồng thần là thủy luân, thuộc thận (xem hình 1-15).

Có thể thấy, mắt là tấm gương bên ngoài của tạng phủ, mắt có thể phản ánh rõ nhất mọi hư thực của tạng phủ. Trong thực tiễn, căn cứ vào mối quan hệ ngũ luân phối thuộc với ngũ tạng, thông qua "Lấy mục để xét tạng", tức là quan sát mọi thay đổi của ngũ luân trên phần mắt, có thê phán đoán những thay đổi về sinh lý, bệnh lý của các cơ quan tạng khí tương ứng trong toàn thân, tìm hiểu sớm nhất các tin tức bệnh tật của toàn thân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đúng như trong "Thẩm thị giao hàm" đã nói: "Mắt của người có luân, các luân ứng vào tạng, tạng có bệnh, tất hiện ở luân... gan có bệnh tất phát ở phong luân, tim có bệnh tất phát ở huyết luân, thận có bệnh tất phát ở thủy luân, tỳ có bệnh tất phát ở nhục luân".

Mắt được phân thành bát khuếch, phân thuộc với tạng phủ. Các tác phẩm nhãn khoa xưa nay đối với định vị bát khuếch đều có chỗ khác nhau, như hình 1-16 và hình 1-17, hiện nay cho rằng chủ yếu phân thuộc với lục phủ và tâm bào, mệnh môn. Trong đó thủy khuếch là đồng nhân, phối thuộc bàng quang, lại còn gọi là tâm dịch khuếch; phong khuếch là hắc tinh, phối thuộc mật, lại có tên là dưỡng hóa khuếch; thiên khuếch là bạch tinh, phối thuộc đại tràng, còn có tên là truyền đạo khuếch; địa khuếch là 2 mí mắt trên dưới, phối thuộc dạ dầy, còn có tên là thủy tốc khuếch; hỏa khuếch là khóe trong mắt, phối thuộc tiểu tràng, còn có tên là bao dương khuếch; lôi khuếch là khóe trong, phối thuộc mệnh môn, còn gọi là quan tuyền khuếch; trạch khuếch là khóe ngoài mắt, phối thuộc tam tiêu, còn có tên là thanh tịnh khuy ếch; sơn khuếch là khóe ngoài mắt, phối thuộc bao lạc, còn có tên gọi là hội âm khuếch như (hình 1-18).

Cho nên bát khuếch cũng là ngoại ứng của tạng phủ ở mắt, kiểm tra bát khuếch, tức là có thể chẩn đoán được bệnh của tạng phủ tương ứng với nó.

1. Mối liên hệ giữa mắt với kinh lạc là rộng rãi nhất, còn hơn cả so với ngũ quan cửu khiếu khác. Trong "Linh khu. Tà khí tạng phủ bệnh hình" có nói: "12 kinh mạch, 365 lạc, khí huyết của nó đều lên ở mặt mà đi vào các khổng khiếu, tinh dương khí của nó đều lên mắt mà làm tinh". Trong "Linh khu. Khẩu vấn" nói rằng: "Mắt là nơi hội tụ của tông mạch". Đều nói lên môi quan hệ trực tiếp giữa mắt với kinh lạc, đồng thời từ đó mà nối liền với tạng phủ. 12 kinh mạch lớn đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với mắt, trong đó các kinh mạch như vị kinh, bàng quang kinh và đảm kinh khởi nguồn ở phần mắt. Các kinh mạch dừng lại ở mắt có đại tràng kinh, tam tiêu kinh và tiểu tràng kinh, có đường kinh mạch ở phần mắt có tâm kinh và can kinh, các kinh mạch tập trung ở mắt hoặc gần mắt có đại tràng kinh, tâm kinh và tam tiêu kinh và các mạch của kỳ kinh bát mạch như đốc mạch, nhâm mạch, âm khiêu mạch, dương khiêu mạch và dương duy mạch. Còn có rất nhiều kinh mạch khác như kinh cân, và lạc mạch, kinh biệt đều có quan hệ với mắt. Tóm lại, trong 12 kinh mạch thì có 8 kinh mạch, trong kỳ kinh bát mạch thì có 5 kinh mạch, đường tuần hành của nó đều có quan hệ mật thiết với mắt, đặc biệt trong đó là 2 kinh tâm, can có quan hệ trực tiếp với hệ mắt (thần kinh thị giác). Có thể thấy rằng mốì quan hệ vô cùng mật thiết giữa mắt với kinh lạc. Cho nên, kiểm tra phần mắt, có thể đoán biết được tình hình các kinh lạc đã trình bày trên đây và các tạng phủ tương ứng với nó. Một lượng lớn thực tiễn lâm sàng đã chứng minh, tạng phủ mất điều hòa, khí huyết bất lợi, trước hết làm cho kinh lạc ở đoạn xa bị liên lụy, bệnh sơ khởi nhập lạc trước tiên, mục lạc thuộc tôn lạc, tôn lạc là vật dẫn tin tức bệnh tật sớm nhất. Tạng phủ có bệnh, không nhất định hiển lộ trên toàn thân, nhưng lại phản ánh ở nhãn lạc sớm nhất, cho nên ở phần mắt ta có thể thu được tin tức sớm nhất từ thời kỳ đầu của bệnh tật.

[Phương pháp kiểm tra]

Kiểm tra mắt cần phải tiến hành dưới ánh sáng đầy đủ hoặc có đèn pin để soi, bệnh nhân ngồi quay mặt ra cửa, bác sĩ ngồi quay lưng ra cửa, mặt hướng về bệnh nhân. Khi cần thiết phải dùng kính phóng đại, kiểm tra mắt trực tiếp hoặc gián tiếp, kiểm tra bằng nhãn áp kế, thị dã kế (tầm nhìn) và khe hở đèn kính hiển vị.... Kiểm tra thứ tự từ ngoài mắt vào trong mắt, thị lực, mí mắt, hai khóe mắt, bạch tinh, hắc tinh, hoàng nhân, đồng thần, tinh cầu, thần cao, mục hệ, thị y..., đồng thời vấn chẩn về tình hình có bị các triệu chứng như đau mắt, ngứa mắt, dử mắt, nước mắt hay không, trực tiếp sờ vào mi mắt, khoang mắt, có bị khối sưng kết cứng và ấn đau hay không, ấn ngón tay vào để biết độ mềm cứng của nhãn cầu để tìm hiểu về tình hình nhãn áp, ấn vào huyệt tình minh ở khóe trong mắt để quan sát có dịch mủ hoặc niêm dịch từ lệ khiếu tràn ra hay không.... Tóm lại, khi kiểm tra mắt thì tứ chẩn vọng, văn, vấn, thiết đều không thể thiếu, nhưng quan trọng nhất là vọng chẩn và vấn chẩn.

Người bình thường hai mắt hàm chứa tinh màu, thần quang sáng rõ, nhìn cảnh vật rõ ràng, mí mắt màu vàng nhuận trạch, khép mở như ý, trên bò mí có lông mi mọc đều, hàng lối ngay ngắn, các huyết lạc trong mí mắt màu đỏ nhạt, sáng bóng phẳng đều. Ngoại hình nhãn cầu như châu như ngọc, chuyển động linh hoạt, không lồi ra, lõm vào hoặc lệch lác. Huyết mạch ở 2 khóe mắt hồng hoạt, khiếu lệ và tuyến lệ thông suốt, không có nước mắt đục dính tràn ra ngoài và không có mạch máu bò qua bạch tinh. Bề ngoài bạch tinh sáng ước trong suốt, có một số huyết lạc rải rác; tầng trong màu trắng cứng dai. Hắc tinh trong suốt mà có màu xanh đen. Đồng thần hai mắt to tròn bằng nhau, nhìn sáng thì nhỏ, nhìn trong tối thì to, co giãn như ý, khí sắc trong sáng óng ánh thấu triệt, có thể nhìn rõ vạn vật, tinh cầu và thần cao trong suốt, màu lệ mắt hồng nhạt, đường biên rõ ràng, vỏ ngoài mắt không xuất huyết và thấm ra, không thủy thũng, huyết mạch trên nó lưu thông bình thường, điều hòa lên xuống tỷ lệ với nhau, độ cứng mềm của nhãn cầu vừa phải, các phần của nhãn tinh không bị đau và ấn đau....

[Vận dụng lâm sàng]

1. Thay đổi thần mắt

1. Mắt đen trắng phân minh, ánh sống màu sắc long lanh, sáng sủa nhuận trạch, màu sắc chan chứa tinh sáng, thần quang sáng rực, có nước mắt tươi nhuận, không khô không ráp, nhìn vật rõ ràng chính xác, là mắt có thần, dù có bị bệnh cũng dễ trị. Ngược lại, nếu thấy bạch tinh đục tốì, hắc tinh sắc trệ, mất màu sắc tinh sáng, phù quang bạo lộ, không có dử mắt không có nước mắt, nhìn vật mơ hồ sai loạn, là mắt vô thần, đa số là âm huyết hư hao hoặc tinh khí suy bại, bệnh thuộc dạng khó trị.

2. Hai mắt lõm sâu thiếu ánh sáng, là triệu chứng tạng khí bại kiệt; thần thái cuốn bay, mắt nhìn bức người là triệu chứng báo trước chứng cuồng điên. Thần sắc ảm đạm, ánh mắt lờ đờ là điều dự báo chứng điên; ánh mắt u uất, tất là báo trước chứng uất.

3. Quan sát quang trạch của đối mắt có thể phán định được giới tính của thai nhi. Có người quan sát và phát hiện, quang trạch đối mắt của người phụ nữ có thai có thuộc tính âm dương, tụ tập là dương, phôi thai là thai trai; người có quang trạch mắt bình thường là âm, phôi thai là gái. Biểu hiện quang trạch dương tinh là: Vô luận là mắt màu nâu cọ hay màu đen nâu, nơi giao giới hắc tinh với đồng thần hầu như rất vẩn đục, trên đường trung tâm đồng thần với hắc tinh có 1 điểm sáng nhỏ thấu ra hoặc hầu như không có ánh sáng, làm cho người ta có một dạng cảm giác thần sắc dồn tụ. Còn biểu hiện âm tính là: Nơi giao giới đồng thần với hắc tinh, màu sắc hiện lên rất sáng rõ, trên đường trung tâm của đồng thần và hắc tinh quang trạch rất sáng sủa hiền dịu, làm cho người ta có cảm giác bình thường không bị gò ép, Quan sát tất cả 101 người, chỉ có sai lệch 16 người.

2. Bệnh ở bao mí (màng mí)

1. Người bị màng mí hư phù thũng, chủ phong, chủ hư; màng mí sưng đỏ, chủ phong nhiệt; vành mắt màu xanh, chủ can hàn, phục ẩm; màng mí tối đen, cơ da dát sừng là trong có máu khô; trong mí màu trắng, chủ huyết hư, tạng hàn; trong mí vàng trắng sắc trệ, chủ tích thực; trong mí có hạt trắng như hạt gạo, chủ tích trùng.

2. Màng hư như bóng: Chỉ màng mí sưng trướng như quả bóng, ấn thấy hư mềm, màu da sáng bóng, không đỏ không đau không ngứa, là tỳ hư thất vận, thấp tà đình tụ; hoặc thận dương bất chấn, thủy thấp tràn lên.

3. Thực nhiệt sinh sang (mụn lở): Là chỉ màng mí sinh mụn lở, đỏ thẫm sưng đau, sờ vào thấy nóng bỏng, ấn đau rất rõ, thậm chí rữa thịt thành mủ, phần lớn là nhiệt độc hừng hực gây nên.

4. Đơn độc mí mắt: Là chỉ nốt sưng tấy đỏ thẫm cục bộ trên mí mắt, như bôi son đỏ, sờ thấy chất cứng, bề mặt sáng bóng mà căng, do phong nhiệt hỏa độc ngoại tập, uất ở cơ da mà thành; hoặc cơ da mí mắt bị ngoại thương, tà độc theo đó mà xâm nhập gây nên.

5. Mắt lên lẹo (lên chắp): Còn gọi là thổ dương, cam hoặc thâu châm. Là nốt kết cứng sưng đỏ tính cục bộ ở đường viền mí mắt hoặc trong mí mắt, kế đến là thành mủ, ấn đau rất rõ, đa số do tà độc ngoại tập, hoặc tỳ vị nhiệt độc vây hãm, ứ trệ ở màng mí mà thành, bệnh này tái phát trở lại, đa số là do tỳ vị suy yếu gây nên.

6. Màng mí sinh đàm hạch: Là chỉ màng mí sưng tấy tích cục bộ, không đỏ, không đau, sờ thấy có dạng kết hạch cứng, đa số do đàm thấp uất trệ ở màng mí, huyết khí bất phân, lẫn lộn và kết lại; hoặc do có mụn chắp trong mí, lâu ngày không phá loét, kết cứng không tiêu, chuyển hóa mà thành.

7. Ứ huyết mí mắt: Là chỉ phần mắt sau khi bị tổn thương, mí mắt bị thâm tím sưng tấy, là do sau khi bị thương, mạch rách huyết tràn, ứ huyết nội đình gây ra.

8. Vết thương phong xích: Là chỉ loại bệnh da mí mắt đỏ thẫm, xuất hiện mụn nước, mụn mủ rữa nát thấm nước ra, đa số là do phong thấp nhiệt tà khách gây ra hoặc do tỳ vị thấp nhiệt tích uẩn, công kích lên mắt, uất ở màng mí thành; hoặc do dùng loại dược vật nào đó gây ra dị ứng.

9. Mụn dây mí mắt: Là chỉ loại bệnh trên màng mí sinh ra dạng như mụn nước, đau đớn vô cùng, nền đáy mụn đỏ thẫm, màu da giữa các mụn bình thường, phạm vi của nó không vượt quá đường trung tâm mặt, đa số do tỳ vị thấp nhiệt nội uẩn mà thành, hoặc do gan mật thấp nhiệt thượng thừa gây nên.

10. Loét đỏ viền mi: Là chỉ loại bệnh viêm loét đỏ thẫm ở đường viền mi mắt, cùng phát tác đau ngứa, đa số do tỳ vị thấp nhiệt uẩn tích bên trong, ngoài do phong tà xâm nhập, dẫn đến tam tà phong, thấp nhiệt bó kết ở mí mắt mà thành. Nếu vết loét đỏ chỉ ở giới hạn ở khóe mắt, đa số do tâm hỏa nội thịnh phong hỏa thượng viêm, đốt bỏng khóe mi gây ra. Nếu phát sinh ở trẻ em mới sinh hoặc thời kỳ trẻ nhỏ, gọi là thai phong xích lạn. Nếu do cảm thụ phong tà mà gây ra loét đỏ, gọi là nghênh phong xích lạn.

11. Bao thũng như đào: Là chỉ loại bệnh ở màng mi sưng to cao lên như hạt đào chín, khó mở mắt, màu đa đỏ thẫm. Đa số do phong nhiệt tà độc ở giữa màng da mí mắt, tụ tập thành sừng; hoặc tỳ phế ủng nhiệt, thượng phạm vào mắt, ở chỗ màng mí gây ra.

12. Mụn hạt tiêu: Là một loại bệnh mọc mụn thành chùm trên bề mặt trong mí dạng như hạt tiêu màu đỏ mà cứng. Đa số do phong nhiệt tà độc ngoại xâm, tỳ vị thấp nhiệt nội uẩn, nội ngoại tà hợp, uất ở màng mí, khí huyết ứ trệ mà thành.

13. Mụn kê: Là loại mụn mọc thành chùm trên bề mặt trong màng mí, có dạng như hạt kê, màu vàng mà mềm: đa số do tỳ hư thấp tà thượng phiếm, thấp tà đình trệ ở màng mí mà thành; hoặc thấp nhiệt hun chủng, uất ở huyết lạc màng mí, khí huyết ủng trệ gây nên.

14. Kết sỏi trong mí: Là một loại bệnh phát sinh ở trong mí có dạng hạt nhỏ màu vàng trắng chất cứng như đá, đa số do mụn tiêu, mạch tơ đỏ... lâu ngày không khỏi thành bệnh mạn tính, tân dịch bị nóng, đàm thấp ngưng trệ mà thành.

15. Chứng ngứa lạ về mùa xuân hạ: Là loại bệnh cứ về mùa xuân và mùa hè là 2 mắt ngứa đến khó chịu, trong mí mắt có những hạt màu đỏ rải rác như đá cuội, là do mất điều hòa tạng phủ, phong tà nội xâm, nhiễu lên thanh khiếu; hoặc do thấp nhiệt thượng thừa, lại kèm phong tà, dẫn đến tam tà phong thấp, nhiệt uẩn kết, uất trệ mạch lạc mà thành.

16. Sa mí trên: Là chỉ loại bệnh mí trên bị sa xuống che lấp cả đồng thần, không thể giương lên được, đa số do bẩm sinh thiếu hụt; hoặc tỳ khí hư nhược, thanh khí hãm xuống; hoặc vân cơ hư không, phong tà trở lạc gây ra.

17. Mi lật: Là chỉ màng mi lộn vào, lông mi lật vào trong quét vào đồng tử, đa số do mụn hạt tiêu lâu ngày không khỏi, có nhiều vết sẹo trong mí, làm cho tấm mí dầy cứng, trong co ngoài lỏng, mép mí lật vào trong mà thành.

18. Mi lật dính mí: Là chỉ mí trong lật ra ngoài và dính vào da mí của nó, mà màng mí trong bị lật lộ ra ngoài. Đa số do đơn mắt, bị thương, bị bỏng... khi khỏi kết sẹo, vết sẹo co lại mà thành, hoặc phong tà nhập lạc gây ra.

19. Thịt mí dính vành: Là chỉ bề trong màng mí dính vào bề ngoài của bạch tinh. Nếu tình trạng dính nặng mà làm cho con ngươi không chuyển động được, thì gọi là luyện tinh. Đa số bị mụn hạt tiêu, tỳ vị tích nhiệt thượng thừa, phong tà ngoại xâm, làm cho màng trong của mí dính liền với bề ngoài bạch tinh. Hoặc do chất axít kiềm gây bỏng thương tổ chức trong mắt, xử lý không đúng, dẫn đến bề mặt bị thương càng bám chặt mà thành.

20. Mí căng cấp hẹp: Là do chỉ khi mô mắt, khe mí mắt không mở rộng được như khi bình thường. Đa số do mụn tiêu, chứng loét đỏ bờ mi không trị, để kéo dài không khỏi, nhiệt uất ở huyết, gây ra bờ mi của phần khóe mắt bị dính liền gây ra; hoặc do sau khi bị thương, bị bỏng, sẹo của 2 mi trên dưới dính liền với nhau gây nên. Cũng có thể do tỳ vị khí hư, thanh dương không lên, gân mạch mi mắt co căng mà thành.

21. Nháy giật màng vành mắt: Là mí mắt tự nhiên nháy giật không tự chủ được. Đa số do khí huyết bất hòa. Can huyết bất túc, huyết hư sinh phong; hoặc tâm tỳ hao tổn, khí huyết bất túc, gân mạch thất dưỡng, gân co giật cơ mí gây ra.

22. Nháy mắt: Là chỉ mí mắt trên dưới nháy chớp liên tục, vì thấy nhiều ở trẻ em, cho nên gọi là bệnh nháy mắt trẻ em. Đa số do phế âm bất túc, tân dịch bị hao, hoặc đo không điều tiết ăn uống, tỳ vị bị tổn thương, làm cho mắt mất nhu dưỡng gây ra, thường thấy ở thời kỳ đầu của chứng can tích thượng mục; cũng có người do huyết hư sinh phong gây ra. Các bác sĩ Anh qua nghiên cứu đã phát hiện, trắc định tần số nháy mắt đối với mức độ tiến triển bệnh tình của bệnh tinh thần, có thể cung cấp một số manh mối. Như tần số nháy mắt của người bị chứng uất ức (mỗi phút 26 lần) so với người bình thường (bình quân mỗi phút 15 lần) là tăng cao rõ rệt, có độ chênh lệch rất rõ ràng. Sau khi được điều trị, tần số nháy mắt của người bị chứng uất ức có thể hạ xuống tới mức bình thường.

23. Nhắm mắt không mở: Là chỉ hai mắt nhắm lại, không muốn mở ra. Đa số do ngoại cảm phong nhiệt, tà trị ở màng mí, dẫn đến gân lỏng không thu, mất điều khiển mở ra; hoặc do thấp nhiệt uất ách, thượng phạm vào mắt, bế trở kinh lạc mi mắt gây ra; hoặc tỳ khí bất túc, dương khí hạ hãm, không có lực nâng mí mắt lên; hoặc gan thận bất túc, tinh khí hư suy, mắt mất nhu dưỡng gây ra.

24. Tê dại da mắt: Là phần da mí mắt bị suy giảm tri giác, thậm chí hoàn toàn mất hết cảm giác, đa số do phong tà nội nhập hoặc do can phong nội động, xâm nhiễu kinh lạc đầu mặt. Hoặc khí huyết hư hao, kinh mạch thất dưỡng, da mí tê dại gây nên.

25. Nấm độc mí mắt: Là loại bệnh xuất hiện loại dạng như mụn nhỏ ở đường viền mí mắt, hoặc một loại sinh vật dạng nấm đầu to cứng nhỏ, không đau, không ngứa, trị lâu không khỏi, đa số do nhân tố tỳ vị uẩn tích nhiệt, thượng công lên mắt, hoặc đàm thấp nội uẩn, u buồn uất hận quá độ, dẫn đến khí trệ huyết ứ gây ra.

26. Khối u mắt: Là một loại bệnh ở mí mắt phát sinh 1 khối sưng, chất cứng, màu trắng xám, không ngứa, không đau và to dần lên. Đa số là đo đàm trọc ứ huyết ngưng trệ
gây ra.

27. Sưng ổ mắt (hốc mắt): Phàm là sơ khởi bệnh thủy thũng, thường thấy nhiều dưới mắt hơi sưng; nếu dưới hốc mắt hơi sưng, dạng như mới ngủ dậy bị sưng, kèm theo mặt bị phù thũng là phong thủy; mí mắt sưng đỏ mà bệnh lên nhanh, đa số là tỳ nhiệt; mi dưới sưng sệ xuống, đa số ở tuổi già tỳ thận hư nhược; mí mắt sưng, 10 ngón tay cũng hơi sưng, là bị ho lâu; dưới mắt sưng như con tằm nằm, mặt và mắt tươi sáng, mạch phục tiêu khát đa số là chứng thủy thũng thực.

28. Sự mở khép của mắt: Người nhắm mắt là âm khí thịnh, người trừng mắt là dương khí thịnh. Người ngủ không nhắm mắt, hoặc tuy nhắm mắt nhưng không ngủ được, là vệ khí lưu ở dương, không nhập vào âm mà gây nên; mắt không mở được hoặc không nhìn được, là vệ khí lưu ở âm, không hành được về dương gây nên. Mắt không khép, miệng cứng dơ, là cân cấp của túc dương minh; mắt không mở, miệng méo lệch, là gân chùng của túc dương minh. Mắt nhắm tai điếc là thượng hư hạ thực, bệnh ở túc thiếu dương, quyết âm; người nhắm mắt, nhưng muốn ngủ, mạch vi tế, là bệnh thiếu âm; nhắm mắt thì mồ hôi ra, nhưng muốn ngủ, mạch phù đại, là bệnh tam dương hợp; mắt không khép, mục khí bất doanh, là bệnh ở âm khiếu. Người bệnh nhiệt muốn nhắm mắt, thân nặng, cốt đau, tai điếc là bệnh ở thận. Người nhìn mà nhắm mắt, không mở mắt ra, là triệu chứng thường hay chảy máu cam. Mắt nhắm, ngậm nước, mũi khô, là dương tà kháng thịnh, dục giải, tất chảy máu cam. Thương hàn 8 - 9 ngày không giải, người nặng tất chảy máu cam, chảy máu cam là giải, hạ hậu mục bế, là âm huyết tổn thương. Trúng phong mà nhắm mắt, nếu khô, khó trị. Người nhắm mắt mà khát, tâm hư thực, mạch đương căng thực mà sác, xem lại thấy trầm nhu mà vi là chết. Người bình thường bỗng nhiên mắt sệ nhìn xuống, là khí suy thần khứ, là triệu chứng sẽ báo trước thọ không được lâu.

29. Nốt ruồi đen mí mắt hoặc đen mí mắt: Là chỉ triệu chứng da xung quanh màng mí đen xì mà không có các bệnh mắt khác, đa số do ngũ lao hư cực gầy yếu, ứ huyết nội đình, khô lên đến mắt; hoặc thiếu ngủ lắm mộng, gan thận âm hao gây nên. Nếu trẻ em da mi dưới có vết ban màu tốỉ, biểu thị tỳ vị hư tổn. Trong đó vết ban tối hình elíp, biểu thị vị khí hư tổn; vết ban tối hình đuôi cá biểu thị tỳ hư; vết ban màu tối hình bán nguyệt biểu thị tỳ vị đều hư.

Gần đây có người qua nghiên cứu đã phát hiện, màng mí bị đen có quan hệ mật thiết với bệnh kinh nguyệt và khí hư. Qua quan sát trên 153 người, tỷ lệ phù hợp với điều này là 68,6% lại tiếp tục theo dõi quan sát đối với 11 người bị bệnh kinh nguyệt và khí hư với có mí mắt đen đã được điều trị khỏi từ 3 tháng trở lên, thì có 14 trường hợp khi điều trị khỏi bệnh kinh nguyệt và khí hư, mi mắt đen cũng khỏi theo và mất hẳn, chiếm tỷ lệ 66,7%. Còn có người cho rằng, thông qua quan sát mí mắt có thể dự đoán biết được chứng khó đẻ. Tức là phụ nữ mới có thai, trong lòng lo sợ, dưới hai mắt có màu đen, đa số là khó đẻ.

30. Có người báo cáo kinh nghiệm, nhìn mắt phụ nữ phân biệt đưọc người bị chứng đối hạ (khí hư), qua quan sát 52 người bị bệnh khí hư, ở chỗ liền nhau của đường viền lông mi dưới tới màng mi dưới của nó có tồn tại dải màu đen sáng dạng đường dây, căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh khí hư. Còn có người cho rằng, 2 mí mắt trên dưới của phụ nữ có màu đen nâu (đen pha đỏ), là biểu hiện xung, nhâm bị hư tổn, người có triệu chứng này, đa số là kính nguyệt quá nhiều và khí hư ra không ngừng.

3. Bệnh 2 khóe mắt

1. Rò tinh: Là chỉ một loại bệnh mắt mạn tính, thường xuyên chảy nước mắt, khi ta ấn vào con ngươi hoặc súc rửa tuyến lệ, có thể thấy nước mắt và dịch mủ lẫn lộn tràn ra từ khiếu lệ, còn gọi là chứng rò khóc mắt. Đa số do mụn tiêu lâu ngày, tà độc kéo dài, tắc trở khiếu đạo, lại thêm tâm nhiệt thượng thừa, nhiệt độc uẩn tích, chước thương tân dịch khí huyết, tồn giữ các chất mục rữa hóa mủ mà thành.

2. Lậu tinh sang (lở rò tinh): Là chỉ loại bệnh mắt ở chỗ huyệt tình minh phần khóe trong mắt, bỗng nhiên xuất hiện sưng đỏ nóng đau, sờ vào thấy có khối kết cứng như hạt đỗ hoặc như hạt táo, loét rữa sinh mủ, Đa số do phong nhiệt tà độc ngoại tập, tâm hỏa hừng hực, trong ngoài đánh lộn nhau, kết tụ ở khóe trong mắt mà thành.

3. Rò khóe lớn: Do miệng vết thương ở phần khóe lớn bị viêm loét, lâu ngày không thu miệng, để lại lỗ rò và thường chảy nước mủ. Còn gọi là rò khóe hoặc rò tinh. Đa số do tâm hỏa nung lên mà gây ra; hoặc đàm thấp trở lạc, khí huyết bất hành, loét mà thành rò; hoặc khí huyết bất túc, độc tà ngưng tụ lại gây nên.

4. Xích mạch truyền tinh: Là chỉ xích mạch khỏi ở phần khóe mắt, xuyên ngang bạch tinh, nặng thì xâm phạm đến hắc tinh. Nếu phát ở khoé lớn, gọi là xích mạch truyền tinh khóe lớn, nếu phát ở khóe nhỏ, gọi là xích mạch truyền tinh khóe nhỏ. Nếu xích mạch thô to, là tâm kinh thực hỏa gây nên; nếu xích mạch nhỏ, gây nên khó chịu, là tâm kinh hư hỏa gây nên.

5. Nhài quạt (mộng thịt) bò qua bạch tinh: Là chỉ màng thịt hình tam giác trên bạch tinh ở khóe mắt, từ góc ngang khóe mắt trên bạch tinh và xâm lấn dần vào hắc tinh. Đa số do bên ngoài thì bị gió cát và ánh nắng kích thích lâu ngày, bên trong thì do tâm phế phong nhiệt ủng thịnh hoặc tỳ vị thấp nhiệt hun lên, dẫn đến huyết mạch ứ trệ mà thành, hoặc do thận âm hư hao, thủy không không chế được hỏa, tâm hỏa thượng viêm gây ra.

6. Trẻ em đỏ sẫm khóe mắt, nước mắt rưng rưng, cần phòng bệnh sởi. Thương hàn khóe mắt đỏ, thân nóng lưỡi thẫm, là tâm bào (màng tim) hỏa thịnh, cần phòng co giật, hôn mê.

7. Nhỏ nước gừng vào khóe mắt phân biệt đau bụng hàn nhiệt: Theo báo cáo, phàm gặp đau bụng, muốn biết là chứng hàn hay nhiệt, có thể dùng một ít nước gừng giã nhỏ vào khóe mắt người bệnh, bất giác phản ứng cay mà cảm thấy dễ chịu, là đau bụng hàn tính; ngược lại là bị đau bụng nhiệt tính.

8. Ấn ngón tay vào khóe mắt trong phân biệt mức độ nặng nhẹ bệnh chó dại: Có người giới thiệu rằng, muốn phán đoán sự sống chết của bệnh dại, dùng lực 2 ngón tay trỏ ấn vào khóe trong mắt của người bệnh, nếu thấy bên trái chảy nước mắt là khó trị, nếu không có nước mắt là có thể trị khỏi.

4. Bệnh bạch tinh:

1. Bạch tinh đỏ thẫm: Là chỉ bạch tinh đỏ thẫm, càng gần đường viền biên càng rõ rệt, màu sắc đỏ tươi, các huyết lạc của nó đều nằm ở tầng cạn, đẩy nó có thể di động. Đa số là ngoại cảm phong nhiệt hoặc phế hỏa thượng viêm gây ra.

2. Vành bao đỏ thẫm: Là chỉ vòng bao phong luân có màu đỏ, màu sắc tím tối, huyết lạc của nó ở tầng sâu, đẩy nó không thể di động được. Đa số là can hỏa thượng viêm kèm theo ứ trệ gây ra.

3. Bạch tinh vẩn đỏ: Là chỉ bạch tinh đỏ thẫm đồng thời cùng tồn tại với vành bao đỏ thẫm, đa số là phế can nhiệt thịnh, kèm theo ứ trệ gây ra.

4. Mạch đỏ như sâu bò: Là chỉ các mạch đỏ bò lan tung hoành trên bạch tinh, to nhỏ không bằng nhau, thưa dầy rối loạn, phương vị bất định, nặng thì bò lan ngoằn ngoèo vòng quanh. Đa số do bệnh phong nhiệt mắt không điều trị, dư tà chưa hết, hoặc kiệt thị thương âm, hư hỏa thượng viêm; hoặc do sự kích thích của gió cát, nhiệt uất huyết mạch gây ra.

5. Bạch tinh tràn huyết, còn gọi là sắc tựa son: Là chỉ có những vết máu trên tầng cạn bạch tinh, viền biên rõ ràng, sơ khởi màu đỏ tươi, tiếp đến chuyển màu tím tốĩ, cuối cùng chuyển sang màu vàng tối và tiêu mất. Đa số là do tuổi già âm tinh bất túc, mạch lạc, giờn yếu, lạc phá huyết tràn gây ra. Hoặc do nhiệt uất phế kinh, phế khí không thông, ho từng trận không nghỉ, chấn phá mạch lạc gây ra, hoặc do va chạm ngoại thương, phẫu thuật phần mắt, tiêm chích dưới cầu kết mạc, mạch lạc bị tổn thương, huyết tràn ngoài lạc.

6. Bạch tinh có màu lam trắng: Đa số thấy ở trẻ em và phụ nữ có thai, thường là huyết hư gây nên; bạch tinh màu trắng nhợt là phế khí hư. Bạch tinh màu xanh là bệnh gan; bạch tinh màu đen là thận suy kiệt và là triệu chứng đại hung; bạch tinh xuất hiện chấm xanh, là vị tràng tích trệ, phủ khí không thông; bạch tinh rải rác chấm đỏ nhỏ, là đoạn cuối vi tế mạch lạc khuy ếch trương, đa số thấy ở các bệnh nhân bị tiêu khát. Người bạch tinh màu vàng, là bệnh mật; nếu vàng như màu da cam sáng, ỉà dương hoàng, đa số là gan mật thấp nhiệt hun lên; đục như khói hun, là âm hoàng, đa số do hàn tiếp thượng phiếm; người béo mắt vàng, nhiệt ở dương minh; thương hàn mồ hôi đầy mình, thân và mắt đều vàng, là hàn thấp ở trong bất giải; xích mạch phù, con ngươi có tán vàng, máu cam chưa dứt. Người bạch tinh màu vàng tiểu tiện bất lợi, có màu vàng nhạt là tỳ hư tả lỵ, hoặc tỳ có tích trệ hoặc tích tụ; bạch tinh màu vàng sẫm, là phế tỳ bị tà, là chứng cam.

7. Mắt đỏ thiên hành: Là chỉ phần tầng cạn của bạch tinh bị thũng màu đỏ thẫm, có ít dử mắt hoặc không có dử mắt, nước mắt chảy ra từng giọt, là bệnh bỗng nhiên phát sinh. Đa số do dịch độc thời hành xâm phạm vào mắt gây nên, hoặc do cảm nhiễm với nước mắt người bệnh gây nên. Bệnh này đễ bị truyền nhiệm sang người khác, có thể gây nên dịch rộng rãi.

8. Mắt nổi nhài quạt đỏ thiên hành: Là chỉ trên tầng cạn (bề mặt ngoài) của bạch tinh bỗng nhiên sưng đỏ đau, trên hắc tinh bỗng sinh điểm sao nhài quạt che chướng. Đa số do bệnh dịch thời hành ngoại nhập đột nhiên xâm phạm phế vệ, phế kim thừa khắc can mộc, hoặc vốn có ngũ tạng tích nhiệt, nội ngoại công nhau, thượng công lên mắt mà gây ra.

9. Bạo phong khách nhiệt: Là chỉ tầng cạn bạch tinh sưng đỏ đau, kèm theo sưng đỏ mí mắt, dử mắt nước mắt đều nhiều. Đa số do khách cảm phong nhiệt tà độc, phong nhiệt, công lên đến mắt gây ra; hoặc do cảm nhiễm nước mắt dử mắt của người bệnh gây ra.

10. Màng đỏ bạch tinh: Trên bạch tinh có vật dạng màng, mạch đỏ dày đặc, phát triển về phía hắc tinh khá nhanh, đa số là phế can hảo thịnh, nhiệt uất mạch lạc gây ra.

11. Màng trắng xâm tinh: Là chỉ loại bệnh trên bạch tinh có vật dạng màng, các mạch đỏ nhỏ bé thưa ít, phát triển chậm, về phía hắc tinh, đa số là phế âm bất túc, hư hỏa thượng thừa gây ra.

12. Dạng bong bóng cá: Là chỉ trên tầng cạn bạch tinh bị ủng thũng, màu trắng hoặc màu đỏ nhạt, hình giống bong bóng cá, người nặng thì bạch tinh đều sưng tấy lồi lên, nhô ra ngoài mí. Đa số là người khí hư, do phong hàn ngoại thúc, phế mất tuyên giáng, tà vây phế lạc mà sinh ra; hoặc một số bệnh khác tích toàn thân như thủy thũng, nhọt tràng nhạc...

13. Hình như con cua: Là chỉ bạch tinh sưng tấy nhô lên, thậm chí nhô ra cao hơn mí mắt, hình của nó như con cua, thường liên lụy đến hắc tinh. Thường do ăn uống quá nhiều các vị cay nóng, vị đậm, tỷ vị uẩn nhiệt, nhiệt cực thành ứ, lâu ngày thành độc, ứ trệ bạch tinh gây nên.

14. Tầng cạn bạch tinh hai mắt bị thủy thũng: Trong suốt phát sáng, kèm theo mí mắt thủy thũng, đa số là tỳ thận hư nhược, thủy thấp thượng phiếm gây nên; hoặc thủy thũng chỉ giới hạn ở phần khóe mắt, đặc biệt là khóe ngoài, đa số là do bị lên lẹo ở phần khóe mắt gây nên.

15. Khí vây như dòm: Là chỉ màng trong mí mắt trên bề mặt bạch tinh, thường có vật bọt trắng đặc dính, dạng như bọt đờm. Đa số là do tỳ phế thấp nhiệt, đàm hỏa thượng vũng (vây) gây nên.

16. Kim cam: Chỉ bạch tinh xuất hiện bóng nhỏ màu trắng xám, chu vi ôm lấy mạch đỏ, đẩy nó có thể di động. Đa số do phế hỏa thượng thừa; hoặc phế âm bất túc, hư hỏa thượng viêm, uất kết không tán, khí uất huyết trệ mà thành.

17. Hỏa cam: Là chỉ tầng trong bạch tinh xuất hiện kết đốt màu tím đỏ, có hình tròn hoặc hình elíp, sơ khởi hơi nhỏ, to dần lên, đẩy không thể di động được, sờ có cảm giác đau rõ rệt. Đa số là do phế kinh thực hỏa thượng viêm, nhiệt uất trệ kết mà thành; hoặc phụ nữ đến kỳ hành kinh, can hỏa thiên thịnh, nhiệt uất ở huyết, huyết nhiệt ủng trệ gây nên; hoặc do một số bệnh toàn thân như bệnh lao, chứng hệt, giang mai kết độc... gây nên.

18. Khô con ngươi: Là tầng cạn bạch tinh bị khô táo, tối tăm không sáng, dễ thành nếp nhàn, thậm chí khô như da, hắc tinh khô táo vẩn đục. Đa số do mụn tiêu lâu ngày, chước thương mạch lạc, kiệt nguồn tân dịch; hoặc do axít, kiềm làm cháy tổn thương, tổ chức bị hư tổn, không sinh tân dịch; hoặc là cam tích.

19. Thiên lậu: Là bạch tinh xuất hiện kết đốt, có màu tím đỏ nhô lên, tiếp đến là phá loét thành rò, chảy ra nước đục dính màu trắng hoặc mủ, thậm chí có tổ chức trong mắt bị thoát ra. Đa số do đàm thấp kết tụ, uất trệ bạch tinh, nhiệt cực viêm loét thành rò.

20. Chứng mắt ống ngọc: Là chỉ trên con ngươi sinh ra những bóng nước nhỏ màu trắng nửa trong suốt lồi lên, không đỏ không đau, dạng giống như ống ngọc hoặc chuỗi ngọc sáng bóng. Do phong nhiệt đàm ẩm, uẩn trở lạc mắt, khí huyết thất hòa, tân dịch trệ kết gây nên.

21. Chướng mỡ vàng: Là chỉ trong bạch tinh ở phía ngoài gần hắc tinh, có vết ban màu vàng nhạt hơi nổi lên, có dạng như dầu mỡ. Đa số do gió bụi xâm nhập lâu ngày, thường lộ ra chỗ bạch tinh, biến sinh mà thành; hoặc do thấp, nhiệt phạm phế, kết tụ ở bạch tinh gây ra. Chứng này thường thấy ở các người tuổi già, không liên lụy đến hắc tinh.

22. Bạch tinh xanh lam: Là bạch tinh có màu xanh lam có giới hạn cục bộ, có biểu hiện lồi ra, cao thấp không bằng nhau, đa số do phế can nhiệt độc, hoặc thấp nhiệt uẩn chưng, độc nhiệt chưng bức, khôn hãm ở bạch tinh, dẫn đến khí trệ huyết ứ, dần dần biến màu xanh lam, hoặc do giang mai, lao... gây nên. Nếu bạch tinh xanh lam một vết, không đỏ không đau, là sắc tố lắng đọng, là do hình thành bẩm sinh.

Gần đây có người quan sát và phát hiện, củng mạc xanh lam chẩn đoán là thể chứng mẫn cảm của chứng thiếu máu do thiếu sắt. Trong thời kỳ đầu bệnh thiếu máu, có rất nhiều sự thay đổi không rõ ràng trên niêm mạc da, bệnh nhân đã có hiện tượng củng mạc phát màu lam. Theo kết quả điều tra năm 1988 ở thành phố Thanh Đảo Trung Quốc cho thấy, đối với những người bị thiếu máu do thiếu sắt củng mạc có màu lam và có tính mẫn cảm cao độ. Trong 161 em nhi đồng được điều tra, phát hiện có 41 em có củng mạc màu lam, phòng thực nghiệm kiểm tra đã chứng thực, trong đó 40 em có kết quả 3 mục về huyết học đã sai lệch khỏi phạm vi giá trị bình thường này, chiếm 97,6%.

23. Vết ban lam bạch tinh: Là chỉ trên bề mặt phần trên, dưới, trong, ngoài của bạch tinh có biểu hiện một loại vết ban màu lam có kích thước to nhỏ như đầu kim hoặc hạt đậu xanh, không theo quy luật, không lồi ra (Hình 1-19). Căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh giun đũa.

24. Mắt ban giun: Là chỉ trên bạch tinh ở đoạn đỉnh và bên cạnh mạch máu nhỏ, có vết ban màu lam, màu xanh đen, màu tím nâu hình tròn, to nhỏ khoảng bằng đầu kim (hình 1-20). Căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh giun đũa. Nhìn chung mà nói, vết ban to, là biểu thị ký sinh trùng đã thành giun; vết ban nhỏ, biểu thị ký sinh trùng đang là ấu trùng; số vết ban nhiều, là trùng nhiều, số ban ít, là trùng ít. Có người đưa tin qua dùng kính soi kiểm tra trong 203 trường hợp chẩn đoán là cảm nhiễm bệnh giun đũa, có 186 trường hợp xuất hiện mắt ban giun và củng mạc có vết ban màu lam, ty lẹ phù hợp là 91,63%. Qua quan sát đối chiếu của trên 105 em nhi đồng trong bạch tinh có ban chấm có mầu và 25 em có ban chấm không màu, sau khi dùng thuốc giun Đông tây y tẩy hết các chứng, dùng kính soi kiểm tra trứng giun, lấy ++ trở lên làm tiêu chuẩn chẩn đoán, kết quả chẩn đoán của nhóm quan sát tỷ lệ dương tính là 97,8%, mà chẩn đoán của nhóm đối chiếu thì tỷ lệ dương tính chỉ là 4%.

25. Ban mây màu tím: Là chỉ đoạn trên và bên cạnh mao mạch xuất hiện nhiều dạng vết ban màu tím nhạt hoặc dạng như bông mây (H1-21). Căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh giun móc. Vết ban to, là mức độ cảm nhiễm nặng, vết ban nhỏ là mức độ cảm nhiễm nhẹ.

26. Ban chấm màu đen: Là khu bạch tinh ở 2 bên trái phải và phần trên của hắc tinh, xuất hiện các ban chấm màu đen gần như hình tròn có đường kính khoảng từ 1-3mm (Hình 1-22). Căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh giun kim. Phát hiện trên 26 bệnh nhân chẩn đoán là bệnh giun kim, sau khi dùng thuốc tẩy giun, các vết đen biến mất hoặc thu nhỏ, mà trên 5 trường hợp chẩn đoán bệnh giun kim nhưng chưa dùng thuốc tẩy giun, các vết đen không thay đổi.

27. Ban sốt rét: là chỉ ở đoạn cuối hoặc chỗ cong của mao mạch trên bạch tinh, xuất hiện các vết sắc tố hình tròn, hình elíp, hình tam giác..., có màu đen, màu xanh tím, màu nâu, màu tím đỏ, màu tím nhạt, màu bạc xám..., đường kính từ 1 - 4mm. (Hình 1-23). Căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh sổt rét. Khi chứng sốt rét phát tác, các vết ban có màu đen hoặc màu xanh tím, hơi nhô cao hơn bề mặt, đường biên rõ ràng, đoạn cuối mạch máu có biểu hiện phình trướng; sau khi khỏi sốt rét, có thể khối phục trạng thái bình thường hoặc thành dấu tích của vết ban.

28. Bạch tinh bệnh gan: Là chỉ phía dưới phần trong của bạch tinh, (ở quãng 7 - 8 giờ) mao mạch trên phần đó có hiện tượng sung huyết, giãn nở, màu xanh nhạt (hình 1-24). Căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh viêm gan. Nhóm qua quan sát đối chiếu 144 bệnh nhân viêm gan do truyền nhiễm và 47 người khỏe mạnh, phát hiện trên toàn bộ bạch tinh của người bị viêm gan có mạch đỏ xuất hiện, mà các mạch đỏ trong mắt có xu thế tiên trưởng theo mức độ tình hình tiên trưởng của chứng viêm gan.

29. Bạch tinh bệnh dạ dầy: Là chỉ dưới đồng tử 2 mắt ở điểm 6 giờ, các mao mạch trên bạch tinh có biểu hiện sung huvết, giãn nở màu đỏ đen (hình 1-25), quan sát điểm này có thể chẩn đoán bệnh dạ dầy và đường ruột, như axít dạ đầy quá nhiều, viêm tràng vị.... Qua phân tích lâm sàng trên 122 bệnh nhân bị bạch tinh chứng dạ dầy dương tính, triệu chứng này có tỷ lệ phù hợp với triệu chứng thể chứng lâm sàng (như viêm vi trùng cấp, mạn tính, viêm loét hành tá tràng, ung thư dạ dầy...) đạt 90,2% (110 bệnh nhân).

30. Mạch đỏ xuyên đồng tử: Là chỉ ở phần bạch tinh có hiện tượng sung huyết mạch máu xuyên vào đồng tử, là một triệu chứng của bệnh tràng nhạc, 1 đường mạch đỏ độc lập là bệnh nhẹ. Có 2 - 3 đường mạch đỏ xuyên vào là bệnh nặng, mạch đỏ không xuyên vào đồng tử là nhẹ nhất (hình 1-26).

31. Bạch tinh bệnh ung thư: Là chỉ ở nửa dưới trên tầng cạn phần nửa bạch tinh của nhãn cầu có biểu lộ tĩnh mạch hình chữ "-" là dương tính, có thể chẩn đoán chứng ung thư, tỷ lệ dương tính chứng ung thư gan là 47%, tỷ lệ dương tính ung thư thực quản là 35%, tỷ lệ dương tính ung thư ruột là 30%, tỷ lệ dương tính ung thư dạ dầy là 28%. Hoặc trên tầng cạn bạch tinh phần nửa trên con ngươi có hướng đi khác thường của mạch máu, người bình thường biểu hiện hướng đi hình chữ A, nếu xuất hiện hướng đi ngang của mạch máu, làm cho hướng đi của mạch máu thành hình chữ V là thuộc dương tính, có thể chẩn đoán chứng ung thư. Tỷ lệ dương tính ung thư ruột của nó là 69%, tỷ lệ dương tính ung thư dạ dầy là 58%, tỷ lệ dương tính ung thư thực quản là 57%, tỷ lệ dương tính ung thư gan là 45%.

32. Bạch tinh bệnh trĩ: Là ở điểm 5 đến 6 giờ trên bạch tinh (giữa quẻ càn và khảm) có mạch máu giãn nở, cong gập, sung huyết đi từ dưới lên trên (hình 1-27). Màu sắc đỏ tươi, đỏ nhạt, hoặc trong đỏ có vàng, trong đỏ có đen.... Căn cứ vào đó có thể chẩn đoán bệnh trĩ; bệnh trĩ biểu hiện ở mắt trái, là hạ trĩ ở phía bên trái hậu môn; biểu hiện ở mắt phải, là hạt trĩ ở bên phải hậu môn. Triệu chứng trĩ hiện lên một đường, mà đoạn cuối không có phân nhánh, biểu thị chỉ có 1 hạt trĩ, ở đoạn cuối có phân nhánh hoặc cùng 1 vị trí có hai đường biểu hiện chứng trĩ, biểu thị có 2 hạt trĩ; nhiều đường biểu thị chứng trĩ phân nhiều nhánh, biểu thị số hạt trĩ nhiều. Số đường biểu hiện trĩ nhỏ bé, không cong nở, không rõ ràng lắm, là hạt trĩ nhỏ; đường triệu chứng trĩ thô to, mà còn cong trương mà có lực, là hạt trĩ to. Phần gốc của đường biểu thị trĩ đặc biệt bành trướng, hoặc nhiều đường cùng song song với nhau, là hạt trĩ có hiện tượng sa thoát. Có người căn cứ vào đó để chẩn đoán trĩ nội, lấy kính soi hậu môn làm tiêu chuẩn chẩn đoán, kiểm tra 1.270 bệnh nhân, có 1.079 bệnh nhân phù hợp với định tính đó, chiếm 85% số người được kiểm tra. Qua kiểm tra 50 bệnh nhân đã biết bị bệnh trĩ nội và 100 người chưa biết có bị trĩ nội hay không, đã phát hiện 50 người bị trĩ nội có triệu chứng củng mạc bệnh trĩ dương tính; trong 100 người chưa biết, qua phúc tra ngoại khoa hậu môn, xác định có 88 người bị trĩ nội. Qua kiểm tra trên 112 người bị trĩ nội, đã xác định 99 người phù hợp với định tính, chiếm 88,4%, 89 người phù hợp với định vị, chiếm 79,5%.

33. Điểm báo thương trên bạch tinh: Là bệnh nhân sau khi bị thương, trên bạch tinh thấy có huyết lạc phù lên màu xanh tím, ở đoạn cuối huyết lạc có điểm ứ huyết, còn gọi là chứng mắt báo thương, điểm ứ màu hơi đen, như đầu kim, là biểu thị bị thương trong cơ thể. Nhưng nếu điểm ứ không ở đoạn cuối huyết lạc mà ở phần giữa của nó, hoặc tách rời huyết lạc, thì không có giá trị chẩn đoán đốỉ với các tổn thương.

Lấy đường bằng ngang làm chuẩn, nếu điểm báo thương ở phần trên đường ngang, chủ yếu phản ánh ở phần eo, lưng và thượng chỉ (hình 1-28). Trong đó, điểm ứ huyết của phần eo có thiên hướng về phía trong hoặc gần đồng nhân (hình 1-29); điểm ứ huyết báo thương phần vai và cột sống đa số nằm ở phần giữa (hình 1-30). Điểm ứ huyết báo thương của thượng chỉ ở đoạn phân nhánh ngắn của huyết lạc, đa số có thiên hướng ra phía ngoài và cách xa đồng nhân (Hình 1-31); huyết lạc phân nhánh dài mà còn vượt qua đường bằng ngang đồng nhân là của thượng hạ chỉ (hình 1-32); nếu 2 hạ chỉ đều có thương, thì huyết lạc có trạng thái đứt giữa nhảy vọt (hình 1-33).

(2) Điểm báo thương xuất hiện ở dưới đường ngang trung bình của mắt, chủ yếu phản ánh có thương ở phần ngực và hạ chỉ. Thương ở phía trên đầu vú, điểm báo thương ở phần giữa; thương ở trên vú về phía trong, cạnh xương rùa (tức xương ngực) thì điểm ứ huyết thiên về bên trong; nếu thương ở phía ngoài bên dưới vú và ở ổ xương chậu (xương khóa), thì điểm ứ huyết thiên về phía bên ngoài (hình 1-34); nếu thương ở đoạn trên hai bên xương rùa, thì huyết lạc phân nhánh hình chữ Y, điểm ứ huyết ở đoạn cuối của phân nhánh (hình 1-35).

(3) Nếu điểm báo thương xuất hiện trên mắt trái, biểu thị bên trái cơ thể có thương; nếu xuất hiện ở mắt phải, biểu thị bên phải cơ thể có thương.

(4) Điểm báo thương xuất hiện ở bên ngoài của mắt, phân biệt theo thứ tự trên dưới các điểm ứ huyết biểu thị đường sau nách, đường giữa nách và đường trước nách bị thương (hình 1-36); điểm báo thương xuất hiện ở phía trong mắt, là biểu thị nơi bị thương ở phía đốì sườn ngực (hình 1-37).

(5) Huyết lạc ở dưới điểm báo thương có biểu hiện khuyếch trương, cong gấp như xoáy ốc rõ rệt, là biểu thị mắc đau đớn tương đối nặng (hình 1-38); nếu huyết lạc to nhỏ không bằng nhau, thì tuy không có điểm ứ, cũng biểu thị có thương (hình 1-39).

(6) Điểm báo thương màu nhạt như mây, hoặc đen mà kèm trắng, tản mà không tập trung, là thương ở phần khí, khá nhẹ; màu đen mà lắng đọng, ngưng kết như hạt vừng nhỏ, là thương ở phần huyết, khá nặng; màu đen mà xung quanh có sắc nhạt như mây, dạng như có quầng không theo quy luật, là khí huyết lưỡng thương, rất nặng.

Một nhóm nghiên cứu nhìn mắt chẩn đoán các trường hợp bị thương đã căn cứ đặc điểm của điểm báo thương trình bày trên đây để quan sát phân tích trên 1.000 bệnh nhân; trong 1.000 ngươi có 691 người xuất hiện điểm báo thương, trong đó 665 người xuất hiện điểm báo thương phù hợp với chẩn đoán bị thương, tỷ lệ phù hợp chẩn đoán là 87,5%. Trong 541 người có lịch sử bị thương và có điểm báo thương, thì 407 người có vị trí xuất hiện điểm báo thương hoàn toàn phù hợp với vị trí bị thương của họ, chiếm 75%; có 304 ngươi xuất hiện số điểm báo thương tương đương với sô vị trí bị thương, chiếm 56%.

Cũng có người căn cứ theo phương pháp trình bày trên đây đã tổng điều tra 486 người, từ triệu chứng mắt chẩn đoán có thương 62 người, thực tế bị tổn thương cấp và mạn tính lồ 68 người, tỷ lệ phù hợp đạt 91,1%.

34. Theo kinh nghiệm của lương y Diệp Hữu Phúc ở Trung quốc, màu sắc của bạch tinh hai mắt có biểu hiện màu vàng, chủ vị trí bệnh phần ngực ở trong 2 bên đường giữa xương khóa, phía trên đường liền của vú; nếu màu đỏ, chủ vị trí bệnh phần ngực bụng trong hai bên đường giữa xương khóa, đường liền vú trở xuống, đường ngang trung tâm rốn trở lên; nếu màu đen, là vị trí bệnh ở phần bụng dưới, hai bên đường giữa xương khóa trở vào, đường ngang trung tâm rốn trở xuống; nếu màu xanh lam, chủ vị trí bệnh ở 2 bên bụng dưới, phía ngoài đường giữa hai bên xương khóa, đường ngang trung tâm rốn trở xuống. Mao mạch ở bạch tinh mắt trái chủ về bệnh ở bên trái, mao mạch bạch tinh mắt phải, chủ về bệnh ở bên phải; phía trong đồng tử, chủ về bệnh ở bên trong cơ thể, phía ngoài đồng tử chủ về bệnh ở bên ngoài cơ thể. Nếu lấy đường ngang trung tâm đồng tử làm phân giới 3 phần thượng, trung, hạ (hình 1-40), thì mối quan hệ tương ứng của vị trí xuất hiện tơ huyết với bệnh tật trong cơ thể là: Phần trên phía trong đồng tử chủ về bệnh phần ngực phía trong đường giữa xương khóa, đường ngang trung tâm vú trở lên; phần giữa chủ về bệnh ở phần ngực bụng phía trong đường giữa xương khóa, đường ngang trung tầm vú trở xuống; ở phần dưới chủ về bệnh ở phần bụng dưới, phía trong đường giữa xương khóa, đường ngang tâm rốn trở xuống. 3 phần thượng, trung, hạ ở phía ngoài đồng tử cũng phân chia giống như phía trong, chỉ khác là ở phía ngoài các bộ phận này mà thôi.

Có người đã theo phương pháp này đã điều tra người mù 2 mắt, tỷ lệ phù hợp triệu chứng là: Điều tra 51 người, tỷ lệ phù hợp hoàn toàn là 37,3%, tỷ lệ phù hợp cơ bản là 54,9%, tổng tỷ lệ phù hợp là 92,1%; tỷ lệ phù hợp bệnh vị: Điều tra 47 người, tỷ lệ phù hợp hoàn toàn là 38,3%, tỷ lệ phù hợp cơ bản là 40,4%, tổng tỷ lệ phù hợp là 78,7%.

35. Nhãn cầu kinh khu chẩn pháp: Là phương pháp của giáo sư Bành Tĩnh Sơn ở Học viện Trung y Liêu Ninh, Trung Quốc, phân chia nhãn cầu thành 8 kinh khu (hình 1-41), các tạng phủ đại diện cho các kinh khu, trái phải giống nhau. Khu 1 đại diện cho phế và đại tràng; khu 2 đại diện cho thận và bàng quang; khu 3 đại diện cho thượng tiêu; khu 4 đại diện cho can và đởm; khu 5 đại diện cho trung tiêu; khu 6 đại diện cho tâm và tiểu tràng; khu 7 đại diện cho tỳ vị; khú 8 đại diện cho hạ tiêu. Quan sát mọi thay đổi về hình trạng và màu sắc của mạch máu trên các khu kết mạc có thể chẩn đoán được bệnh trên.

(1) Nếu ở gốc mạch máu thô to, đa số là sự lưu thông của máu bị ứ trệ; mạch máu cong trương, thậm chí trương nổi lên, đa số thuộc chứng huyết ứ; mạch máu kéo dài, đồng thời từ một kinh khu nào đó kéo dài sang đến kinh khu bên cạnh, là triệu chứng phát bệnh ở một kinh khu truyền đến một kinh khu khác; mạch máu phân nhánh giống như cành cây, thường phát sinh ở phần từ đường ngang đồng nhân trở xuống, đa số thuộc chứng máu lưu thông bị ứ trệ; mạch máu trên cầu kết mạc tựa như nổi cao lên một đường, đa số thuộc bệnh trĩ lậu hoặc bệnh hậu môn; mạch máu khu tiểu tràng mắt phải nổi cộm lên, đa số là viêm loét cục bộ hành tá tràng; ứ huyết ngưng tập thành mảnh, dễ xuất hiện ở khu gan, mật và hạ tiêu, đa số là chứng uất; đoạn cuối mạch, máu kéo dài giống như chuỗi hạt sương treo, đa số thấy ở bệnh nhân bị tích trùng hoặc bị ứ huyết.

(2) Màu mạch máu đỏ tím, đa số là nhiệt thịnh; màu nhạt mờ, đa số thuộc chứng hư (khí huyết bất túc) hoặc hàn chứng. Trong màu đỏ kèm đen, là bệnh truyền nhiệt mới; nếu nhiệt bốc hừng hực huyết trệ, màu sẽ chuyên từ tím sang đen, màu đỏ tươi, đa số là chứng thực nhiệt mới cảm nhiễm; màu xám tối, là ổ bệnh cũ lâu ngày; màu đỏ thâm, là thế bệnh tăng nặng thêm; màu vàng nhạt là bệnh sắp khỏi; trong màu đỏ kèm vàng, là thế bệnh giảm nhẹ.

(3) Nếu mạch máu của kinh khu nào đó kéo dấi đến kinh khu khác, mà màu sắc mạch máu của kinh khu nguyên phát thâm đậm, là tà truyền sang kinh khác, bệnh của kinh nguyên phát vẫn nặng; ngược lại, là không truyền sang kinh khác, bệnh của kinh nguyên phát đã thuyên giảm dần.

5. Bệnh ở hắc tinh

1. Nhài quạt động: Phàm là hắc tinh vẩn đục, bề mặt bẩn đục, viền biên không rõ ràng, đáy không sạch, màu chất huỳnh quang dương tính, có xu thế phát triển hoặc tốc độ phát triển nhanh, đều thuộc phạm vi loại này. Đa số do can kinh bị phong nhiệt, hoặc can đâm hỏa thịnh, hoặc thấp nhiệt hun chưng gây nên.

2. Nhài quạt tĩnh: Còn gọi là túc ế. Phàm là hắc tinh vẩn đục, bề mặt sáng bóng, viền biên rõ ràng, đáy sạch sẽ, màu chất huỳnh quang âm tính, sự thay đổi bệnh lý tương đối Ổn định, đều thuộc phạm vi loại này. Trong đó, nhài quạt nhỏ mịn, phải dùng đèn tụ quang mới có thể quan sát thấy, thì gọi là băng hà ế ế (nhài quạt) hơi dầy, dưới ánh sáng tự nhiên có thể nhìn thấy, gọi là vân ế (nhài quạt mây); nhài quạt khá dầy, nhìn qua là thsấ, gọi là hậu ế; nếu nhài quạt dính vào hoàng nhân thì gọi là bán chỉ ế (vết nhài quạt mỡ). Đều là chướng ngại vết sẹo của bệnh hắc tinh sau khi bệnh khỏi kết thành, thường kèm theo bệnh sử tan dịch bị chước (nóng), khí huyết mất điều hòa.

3. Ngần tinh độc kiến: Là chỉ loại bệnh mắt sinh nhài quạt ở hắc tinh, hình như ngôi sao, màu như bạc, tự nó sinh ra. Đa số do phong nhiệt phạm mắt; hoặc tố thể thận âm bất túc, hư hỏa thượng viêm, tái phát (phục thụ) tà phong nhiệt, uất trệ ở phong luân mà thành.

4. Tụ tinh chướng: Là chỉ hắc tinh bỗng sinh ra nhiều nhài quạt hình sao nhỏ, rải rác như mây mù, hoặc sắp xếp như cành cây, hoặc như bản đồ, hoặc có hướng phát triển về tầng sâu dồn tụ lại dạng như đĩa tròn, bạch tinh đỏ sẫm, sợ ánh sáng chảy nước mắt. Đa số do sức đề khống cơ thể bị hạ thấp, tà của phong nhiệt hoặc phong hàn xâm nhập; hoặc can hỏa xí thịnh (hừng hực), thượng công vào mắt; hoặc thấp nhiệt đàm hỏa, hun đốt hắc tinh; hoặc bệnh nhiệt thương âm, hư hỏa thượng viêm gây nên.

5. Tụ khu chướng: Là chướng ngại nhài quạt ở hắc tinh, khi tụ khi tán, hình dạng bất nhất, trong mắt ráp đau, tái phát nhiều lần. Đa số do thấp nhiệt đàm hỏa gây ra, hoặc do can thận âm hư lại kèm theo tà thấp nhiệt gây nên.

6. Chứng trắng ráp: Trên bề mặt hắc tinh xuất hiện nhài quạt hình sao nhỏ, trong mắt khô ráp khó chịu. Đa số do phế thận âm hư, âm tân bất túc, mắt mất nhu dưỡng, hoặc kèm theo có phong tà gây ra.

7. Nhài quạt ngưng mỡ: Chỉ nhài quạt sinh ra trên hắc tinh, dạng như mỡ ngưng kết, béo phù mềm, phát triển khá nhanh, dịch vàng xung lên. Nếu nhài quạt có màu xanh nhạt, hắc tinh viêm loét nhanh, lượng dịch vàng nhiều, che lấp đồng tử, bạch tinh vẩn đỏ vây thũng. Đa số do hắc tinh bị thương, phong nhiệt tà độc xám thương thừa nhập, dẫn đến nhiệt độc hừng hực mà thành; hoặc do chướng ngại tụ tinh... lâu ngày không khỏi, lại thêm tà độc xâm nhập, chuyển hóa thành bệnh này.

8. Nhài quạt hoa trắng hãm: Là nhài quạt sinh ra trên hắc tinh gây chướng ngại, 4 bên cao lên, ở giữa thấp lõm, hình giống cánh hoa. Đa số do ngoại cảm phong nhiệt độc tà, trong do phế can tích nhiệt, trong ngoài đánh nhau, ủng thực thượng xung, chước thương hắc tinh, khí huyết ủng trệ mà thành.

9. Thấp ế: Là trên hắc tinh sinh ra chướng ngại nhài quạt hình tròn hoặc hình elíp, màu vàng tối, bề mặt như bã đậu chất đống lên, phát triển dần ra 4 bên, dử mắt nước mắt dính nhầy, bạch tinh vẩn đỏ. Đa số do thấp tà ngoại xâm, hoặc thấp uất hóa nhiệt, thấp nhiệt (thấp nặng về nhiệt) thượng hun, chưng đốt hắc tinh mà thành.

10. Hoàng dịch thượng xung: Là chỉ loại dịch mủ màu vàng xuất hiện ở sau hắc tinh trước hoàng nhân, ít thì như vòng bán nguyệt trắng ở gốc móng tay, nhiều thì che phủ cả đồng thần. Đa số do tỳ vị tích nhiệt, lại thêm phong nhiệt tà độc, nội ngoại hợp tà, độc thịnh nhiệt cao, gây ra tam tiêu hỏa độc đốt lên, chưng đốt đồng nhân, đốt thương thần thủy, dịch mủ tụ ở trong mà thành.

11. Hắc ế như châu: Là trên hắc tinh nổi tràn lan nhài quạt, đen mà tròn, to nhỏ cao thấp không đều nhau, dạng như ngọc đen. Đa số do ngoại thụ phong nhiệt tà độc, nội kèm theo gan mật tích nhiệt, nội ngoại hợp tà, công lên hắc tinh mà thành.

12. Hỗn tinh chướng: Là chỉ tầng sâu hắc tinh xuất hiện vẩn đục màu xám trắng, đồng thời mạch đỏ từ 4 bên hắc tinh xâm nhập vào trong, sắp xếp như ràng lược. Đa số do can kinh phong nhiệt hoặc gan mật nhiệt độc uẩn chưng ở mắt, chưng đốt tân dịch, khí huyết bất hòa, ứ huyết ngưng trệ mà thành.

13. Phong luân xích đậu: Là chỉ trên hắc tinh xuất hiện nhài quạt chướng dạng hạt, mà còn có mạch đỏ dắt díu theo, màu đỏ như hạt đậu nhỏ. Đa số do can kinh tích nhiệt, hỏa uất phong luân, khí huyết mất điều hòa, ứ trệ trong lạc mà gây ra; người bị tái phát, thường có liên quan đến thể chất hư nhược, khí huyết hao hụt.

14. Mộc can: Là ở tầng cạn hắc tinh xuất hiện nhài quạt dạng hạt, màu xám trắng, nhô cao hơn bể mặt cố biểu hiện hình tròn hoặc hình elíp, to nhỏ không đều nhau. Đa số do can hỏa thượng viêm, hoặc can hư kèm nhiệt, hoặc âm hư hỏa vượng gây nên.

15. Mắt bộc lộ đỏ sinh nhài quạt: Là hắc tinh bạo lộ lâu ngày, dẫn đến bạch tinh bị vẩn đỏ, hắc tinh sinh nhài quạt. Đa số do phong liên lụy đến mí, bức mí lật dính màng làm cho mắt không thể khép lại được; hoặc do bạch tinh nhô cao, con ngươi lồi ra ngoài khoang mắt... làm cho mí mắt che không kín hắc tinh; tiếp xúc với lục khí ở bên ngoài, thương tân hao dịch, hắc tinh mất nơi nhu dưỡng gây ra.

16. Màng đỏ sa xuống: Là mạch đỏ dầy đặc tựa như màng, từ phía trên bạch tinh sa xuống hắc tinh. Đa số bị các nhân Tố như mụn tiêu, phế can nhiệt thịnh, hỏa nhiệt thượng viêm, nhiệt uất mạch lạc, khí huyết ủng trệ mà thành.

17. Nhài quạt huyết bao tinh: Là chỉ mạch đỏ từ 4 phía che dần lấp hắc tinh, bao bọc lấp toàn bộ hắc tinh mà thành nhài quạt. Đa số do ban đầu là màng đỏ sa xuống, lại thêm 3 kinh tâm, can, tỳ, uẩn nhiệt, nhiệt uất trong máu, nhiệt vây huyết ứ gây nên.

18. Giải tinh: Hắc tinh bị phá loét, hoàng nhân nứt ra từ miệng loét, dạng như mắt cua. Đa số do can đởm hỏa thịnh, ăn mòn hắc tinh, gây ra phá loét, hoàng nhân rách ra mà thành.

19. Chính lậu: Là xuất hiện lỗ rò nhỏ ở chính giữa hắc tinh hoặc hơi lệch một chút. Đa số do bệnh nhài quạt mỡ ngưng..., bệnh tình tiến triển, can thận phong nhiệt phục hãm, loét rò phong luân mà thành; cũng có thể do vật sắc nhỏ nhọn chọc rách hắc tinh chưa hồi phục mà thành.

20. Cam mắt: Thường là trẻ em do bị bệnh cam tổn thương đến mắt, thấy hắc tinh bị vẩn đục, nặng thì viêm loét, con ngươi trở nên mềm. Là chứng nặng cam tích lên mắt, đa số do tỳ hư can vượng gây nên.

21. Nổi gai xoáy ốc: Là ở cục bộ trên hắc tinh bị nhô lên nhọn như trôn ốc, màu xanh đen, có vết ban nhài quạt màu trắng vây quanh, hoàng nhân khảm vào giữa nó, đa số do bị nhài quạt mỡ, lại thêm can khí quá thịnh, khí cơ uấn tắc, mất điều hòa khí huyết gây ra.

22. Nổi triền lư tràn lan: Là hắc tinh nhô cao tràn lên, dạng như nắp đậy, đa số do dị thường bẩm sinh lại thêm can khí độc thịnh, uất kết kinh lạc, can mất sơ tiết, thực khí thượng ủng gây ra.

23. Nhài quạt đinh rễ sâu: Là hắc tinh sinh nhài quạt xuyên phá, hoàng nhân nhô ra ngoài theo miệng loét, dính chặt với hắc tinh, hình của nó như đinh. Đa số là nhài quạt mỡ ngưng và nhài quạt cánh hoa lõm để lại di chứng.

24. Nhài quạt rèm rủ: Là nhài quạt chướng màu trắng từ trên đường viền hắc tinh rủ xuống, dày mỏng không đều nhau. Đa số do can kinh nhiệt độc ủng thịnh, thượng công hắc tinh mà thành.

25. Va chạm sinh nhài quạt: Dị vật va vào mắt, tổn thương hắc tinh, để lại nhài quạt chướng màu trắng xám, là do ngoại thương gây nên.

26. Chướng trắng ngửa: Là trên đường viền hắc tinh sinh vẩn đục màu trắng xám. Đa số là người thể hư nhược, can khí bất túc, phế kim thặng khắc can mộc gây nên. Gần đây nghiên cứu của nước ngoài phát hiện, 4 bên xung quanh hắc tinh xuất hiện vẩn đục màu trắng xám, là triệu chứng côlestêrôn trong máu tăng cao, xơ cứng động mạch não và bệnh tim đại đa số xuất hiện triệu chứng này.

27. Hình trạng hắc tinh to nhỏ khắc thường, to hơn bình thường hoặc nhỏ hơn bình thường. Đa số là sự dị thường bẩm sinh.

6. Bệnh ở đồng thần

1. Các bệnh đồng thần như đồng thần giãn rộng, co hẹp đồng thần, hoặc biến hình, biến sắc, hoặc nhìn bề ngoài như bình thường nhưng bị trở ngại thị lực..., đều thuộc bệnh mắt nội chướng, thường do hao tổn trong tạng phủ, chân nguyên hao thương, tinh khí không thể phụng dưỡng lên mắt mà gây ra, đa số thuộc hư chứng. Nhưng cũng thường do nhiệt độc hỏa thịnh, đàm thấp não trệ, bế tắc khiếu đạo; hoặc can phong thượng xung thanh khiếu; hoặc ngoại thương phá tổn... gây nên.

2. Đồng thần nhỏ hẹp: Là đồng thần co nhỏ, thậm chí nhỏ như lỗ kim, mất chức nàng co giãn, kèm theo thấy thần thủy vẩn đục, đỏ đau, thị lực giảm mạnh. Đa số do tà phong nhiệt ngoại tập, hoặc thấp nhiệt nội uẩn, nội ngoại hợp tà, thượng công vào mắt; hoặc do tà phong thấp nhiệt, chảy loạn kinh lạc, thượng nhiễu mục khiếu gây ra.

3. Đồng thần khô khuyết: Là hoàng nhân dính liền vào tinh châu, làm mất đi hình tròn hoàn chỉnh của nó mà thành ra dạng hoa mai hoặc răng cưa. Đa số do bị chứng đồng thần co nhỏ, tà thực nhiệt tồn lưu lâu không giải, hao tổn tân dịch, tà lưu tổn thương âm, hư thực tạp lẫn; hoặc lao tâm khổ trí, tửu sắc quá độ, can thận âm hao, hư hỏa thượng viêm gây ra.

4. Lục phong nội chướng: Là đồng thần giãn rộng, có màu xanh nhạt, mắt sưng như muốn lồi ra ngoài, mắt cứng như gỗ, thị lực giảm nhanh, đầu đau nôn mửa. Đa số do tình chí không thoải mái, uất ức lâu ngày hóa hỏa, can mật phong hỏa thượng nhiễu; hoặc tỳ vị hư hàn, can khí thăng tỳ, khí đục thượng phiếm, làm cho con ngươi không thông, bế tắc huyền phủ, khí huyết bất hòa, thần thủy ứ trệ mà thành.

5. Hắc phong nội chướng: Đồng thần giãn rộng, mắt sưng đau có lúc nôn mửa, thị lực giảm nhanh, bệnh thế tương đối chậm, phần nhiều do nhân tố đầu phong đàm hỏa, lại thêm tình dục tổn thương thận, thận tinh hư hao, hoặc thận âm không bàng can âm, can âm bất túc, can dương quá cao, khí huyết thất hòa, thần thủy ứ trệ mà thành.

6. Đồng thần giãn rộng: Là chỉ đồng thần mở rộng không thể co tụ được, khi nhìn mặt trời cũng không thể thu nhỏ được. Đa số do thất tình nội thương, tinh khí không gom được; hoặc ăn quá nhiều đồ ăn cay nóng, uống rượu hút thuốc, tích nhiệt sinh hỏa, hao thương khí âm; hoặc do đàm hỏa thượng công gây nên. Bệnh lâu ngày thấu đồng thần giãn rộng, là triệu chứng thận kiệt sắp vống. Bệnh bạo thấy đồng thần giãn rộng, đa số là triệu chứng trúng phong nguy hiểm, đồng thần giãn rộng mà không thu là sắp chết.

7. Thông đồng: Là chỉ đồng nhân giãn to cực độ, tựa như không có đồng nhân, đồng thần với hoàng nhân lẫn lộn khó phân. Là do đột nhiên bị kinh sợ, khí cơ nghịch loạn; hoặc can kinh phong nhiệt thượng ủng, hoàng nhân không thành cửa chắn; hoặc do ngoại thương huyết ứ trở lạc gây ra.

8. Đồng thần khiếm cạnh: Tức là đồng thần xiên lệch, hoặc như hạt hạnh nhân hạt đào, hoặc có dạng hình bán nguyệt hoặc tam giác. Đa số do gan thận, khô nước hỏa viêm, mắt mất nhu dưỡng gây nên.

9. Chứng trùng đồng thần: Là trong khu đồng thần của một bên mắt có 2 hoặc 2 đồng nhân trở lên, to nhỏ, hình thái khác nhau, nhìn lên thì nhỏ, nhìn xuống thì to, co giãn bình thường. Đa số do trong thời kỷ thai nhi phát triển không bình thường, sinh ra đã có, cũng có trường hợp do phẫu thuật gây nên.

10. Đồng thần 2 mắt to nhỏ không đều nhau: Một bên co nhỏ hoặc giãn rộng, là khí cơ nghịch loạn, âm dương mất điều hòa nghiêm trọng. Nếu 2 bên đều co hẹp, là triệu chứng của hiện tượng bế trúng phong; 2 bên đều giãn rộng, lại là triệu chứng thoát trúng phong. Đồng thần từ nhỏ biến dạng to ra, là triệu chứng bệnh tình từ bế chuyển sang thoát, phàm là đồng tử giãn rộng, là bệnh nguy hiểm, đa số có biến chứng trong nháy mắt; nếu cùng lúc đồng thần phát sinh thay đổi, còn kèm theo ánh mắt tối tăm, nhãn cầu đờ đẫn, nhìn vật tán loạn không rõ, là triệu chứng thất thần, dự báo diễn biến và phát triển bệnh rất xấu; hơn nữa, trong lâm sàng thấy đồng thần co nhỏ là dự báo các bệnh giang mai, tiểu đường, lao, bệnh phong hủi. Đồng thần co nhỏ như đầu kim là triệu chứng trúng độc; đồng thần không tròn, 2 bên to nhỏ không đều lại là tín hiệu khối u trong não; bệnh tật trong đầu não nếu đồng thần phản xạ chậm với ánh sáng là triệu chứng nguy kịch; đồng thần trái phải rung động là bị suy nhược thần kinh; đồng thần co giãn quá nhanh là thần kinh quá mẫn cảm.

11. Huyết quán đồng thần: Là huyết ứ tích ở phía dưới đồng thần hoặc che lấp toàn bộ đồng thần, hoặc trong đồng thần thấy có mờ mờ màu đỏ sậm hoặc đỏ tốì. Đa số do va chạm ngoại thương, hoặc do chích nhể nội chướng..., gây tổn thương đến huyết lạc hoàng nhân, máu chảy ngoài lạc, tích ở đồng thần; hoặc do can đởm rực hỏa, bức huyết vọng hoành, huyết lạc bị phá tổn, tưới vào đồng thần.

12. Thanh phong nội chướng: Là trong đồng thần có vẩn đục nhẹ, có màu xanh nhạt, như mây nhạt bao phủ núi xanh, thị lực ngày càng suy giảm, tầm nhìn ngày càng bị thu hẹp, con ngươi cứng dần. Đa số do uất ức phẫn nộ, can khí uất trệ, hóa hỏa sinh phong; hoặc mắt căng thẳng đến kiệt thị, can thận âm hao, khí cơ không thông gây nên.

13. Ở phong nội chướng: Là khí săc trong đống thần tốì tăm, như mây đen nặng nể trong màn mưa, thị lực ngày càng mờ mịt, cuối cùng không nhìn thấy được ánh sáng. Đa số do thất tình bị nội thương, ham muốn thái quá, âm tinh nội tổn, âm không chế ngự được dương, can phong thượng nhiễu gây ra.

14. Hoàng phong nội chướng: Là đồng thần giãn rộng khó thu, khí sác vẩn đục không trong, mà có màu vàng nhạt thần quang muốn tuyệt. Đa số do bị lục phong nội chướng không trị, gan mật phong hỏa thượng nhiễu, hao tổn đồng thần, chưng đốt thần cao mà thành.

15. Nhài quạt tròn: Là trong đồng thần, con ngươi vẩn đục như màu trắng bạc, hình tròn. Nếu thời kỳ đầu của bệnh, vẩn đục chỉ bằng hoa táo, răng cưa, thì gọi là nội chướng hoa táo. Bệnh này đạ số thấy ở người già, đa số do cơ thể suy lão, gan thận bất túc, tinh huyết hư hao, mắt mất nhu dưỡng; hoặc tỳ vị hư nhược, mất bình thường vận hóa, thanh khí không thể dâng lên, các tinh chất không thể nuôi dưỡng đủ cho mắt gây ra.

16. Hoàng tâm nội chướng: Là chỉ hạt tinh châu trong đồng thần bị vẩn đục màu nâu vàng. Nguyên nhân bệnh cơ bản giống như ế phong nội chướng, nhưng đa số do khí huyết bất túc, thanh khí không dâng lên được, mắt mất nhu dưỡng.

17. Thai bị nội chướng: Là khi sinh ra đã bị tinh châu vẩn đục. Đa số là bị cả 2 mắt, có thể sau khi sinh mấy tháng mới phát hiện được. Cũng có trường hợp 10 năm sau mới phát hiện được. Do di truyền cha mẹ; hoặc do thiếu hụt bẩm sinh, tỳ thận lưỡng hư; hoặc do thời kỳ có thai ăn uống không đầy đủ điều hòa, an dưỡng nghỉ ngơi không điều độ, hoặc đùng sai một số loại dược vật, hoặc do nguyên nhân bệnh tật ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi mà thành.

18. Kinh chấn nội chướng: Là con ngươi sau khi bị thương, tổn hại đến tinh châu; xuất hiện vẩn đục màu trắng xám hoặc màu sữa trắng, gây trở ngại đến thị lực. Đa số do những vật cùn gây tổn thương phần mắt, mất điều hòa khí huyết, mạch lạc bị uất ách, khí thuần thanh trong mắt thất vận, tinh châu thất dưỡng, dẫn đến khí trệ cao ngưng, dần dần thành nội chướng; hoặc do vật sắc gây tổn thương, tinh châu bị phá rách, cao mỡ tràn ra ngoài, ngưng kết nhanh mà thành nội chướng.

19. Đồng thần bị trắng (vẩn đục tinh trạng thể): Là triệu chứng bệnh tiểu đường, tay chân co giật; đồng thần bị vàng là triệu chứng u tế bào mẹ võng mạc thị giác (u ác tính), loét thủy tinh thể. Đồng thần bị đỏ, là tín hiệu mắt bị ngoại thương, xuất huyết đáy mắt; đồng thần bị xanh, là nhãn áp quá cao (mắt thong manh).

7. Các chứng bệnh trong mắt:

1. Thủy tinh thể:

(1) Trong mắt có bệnh viêm hoặc có bệnh sử, trong thủy tinh thể bị vẩn đục dạng như bụi, đa số là thấp nhiệt uẩn chưng.

(2) Trong mắt có bệnh do xuất huyết hoặc bệnh sử, hoặc có lịch sử ngoại thương, trong thủy tinh thể xuất hiện vẩn đục dạng mảnh hoặc dạng dây, đa số là khí trệ huyết ứ.

(3)  Đáy mắt có thay đổi dạng thoái hóa, trong thủy tinh thể xuất hiện vẩn đục dạng bông hoặc dạng nòng nọc, đa sô là can thận bất túc hoặc khí huyết hư nhược.

2. Núm thị giác:

(1) Núm vú mắt bị sung huyết đầy lồi lên, màu đỏ tươi, viền biên không rõ ràng, đa số là can đỏm thực hỏa; hoặc can khí uất kết, uất lâu hóa hỏa; hoặc kèm theo khí trệ huyết ứ mà thành.

(2) Đầu núm nhìn có màu trắng nhạt hoặc trắng nhợt, vết lõm sinh lý mở rộng sâu thêm, đa số là can thận bất túc; hoặc tỳ khí hư nhược, khí huyết bất túc gây nên. Nhưng cũng có trường hợp trong hư kèm thực.

(3) Huyết quản đầu núm nhìn gập quỵ xuống về phía cạnh mũi, hoặc có nhịp đập động mạch, đa số là âm hư dương kháng, can phong thượng nhiễu; hoặc đàm thấp nội trở gây ra.

3.  Mạch máu võng mạc nhìn:

(1) Mạch máu thô to, kèm theo có vật thấm ra hoặc xuất huyết, đa số là máu có nhiệt.

(2) Mạch máu co giật, động mạch bị nhỏ lại, phản quang tăng mạnh; hoặc chỗ giao nhau của động mạch, tĩnh mạch có dấu ép; hoặc phần vết ban ràng có mạch máu nhỏ dạng xoáy ốc, đa số là can thận âm hư, âm không tiềm dương, can dương quá cao gây nên.

(3)  Tắc trở mạch máu: Phát sinh ở động mạch, biểu thị rõ là động mạch bị nhỏ lại như sợi tơ đồng, cách đầu núm nhìn không xa thì tiêu mất, đa số là tình chí bất toại, can khí nghịch thượng, dẫn đến huyền phủ không thông, bế tắc mạch lạc; phát sinh ở tĩnh mạch, biểu thị ỉà tĩnh mạch bị căng trương cong gấp, nặng có thể có dạng khúc đoạn, đa số là âm hư dương kháng, mạch lạc ứ trở; hoặc can hỏa thượng viêm, hỏa nung mạch đạo gây nên.

(4)  Mạch máu bị nhỏ lại, kèm theo đáy mắt có thay đổi suy thoái, đa số là khí huyết bất túc, mắt mất nhu dưỡng gây ra.

4. Xuất huyết võng mạc nhìn:

(1) Xuất huyết võng mạc nhìn: Màu đỏ tươi, biểu hiện dạng như ngọn lửa, bệnh tình tương đốì nhẹ. Có dạng mảng, dạng đoàn, ở tầng sâu, bệnh tình khá nặng; nếu xuất huyết lượng nhiều, đầy thủy tinh thể, không thể nhìn tới đáy mắt, bệnh tình càng nặng. Đều là huyết tràn ngoài mạch gây nên. Nguyên nhân cua nó có khá nhiều, như là tâm can hỏa nhiệt, chưng bức mạch đạo, máu chảy lung tung; hoặc can thận âm hư, âm không tiềm dương, can dương quá cao, can mất tàng huyết; hoặc khí huyết ứ trệ, huyết ứ chưa đi, huyết mới vọng hành; hoặc ngoại thương mạch đạo v.v, gây ra.

(2) Nếu xuất huyết cũ, màu sắc đỏ tốì, đa số là khí cơ bất lợi, huyết ngưng không lưu thông, khí huyết ứ trệ.

(3) Nếu mạch máu bị cơ hóa, tổ chức bị tăng sinh, cũng là khí trệ huyết ứ, hoặc đàm thấp uất tích, ngưng tích không tán mà gây ra.

(4) Nếu xuất huyết tái phát, cũ mới lẫn tạp, hoặc sinh mạch máu mới, đa số là âm hư hỏa vượng, hư hỏa thượng viêm; hoặc tỳ khí hư nhược, thống huyết mất quyền; hoặc trong hư kèm ứ, trong hư kèm tà, chính hư tà lưu gây ra.

(5) Nếu xuất huyết chỉ giới hạn ở phần ban vàng, thường thấy ở các bệnh nhân cận thị trung độ trở lên và phần ban vàng bị biến tính dạng đĩa, đa số do mắt nhìn lâu căng thẳng, hao tổn can âm, can mất tàng huyết; hoặc tỳ khí hư nhược, thông huyết mất quyền gây ra.

5.  Võng mạc nhìn có vật thấm ra:

(1) Võng mạc nhìn có chất thấm ra tươi, đa số là can đỏm thấp nhiệt hoặc nhiệt uất trong máu gây ra.

(2) Nếu võng mạc có biểu hiện thủy thũng tràn lan, đa số là mất điều hòa tỹ thận, thủy khí thượng phiếm gây ra. Thường thấy ở các bệnh nhân bị viêm thận.

(3) Võng mạc xuất hiện sự thay đổi khô héo, đa số là can thận bất túc, khí huyết hư nhược.

6. Bộ phận ban vàng:

(1) Phần ban vàng có thủy thũng thấm ra, đa số là can khí phạm tỳ, tỳ mất vận hóa, thủy thấp đình tụ; nếu thủy thũng tiêu thoái, lưu lại chất thâm ra, đa số là mắt điều hòa khí huyết, khí huyết ứ trệ.

(2) Nếu chất thấm ra tươi lẫn tạp với chất thấm ra cũ, đa số là âm hư hỏa vượng gây ra.

(3) Chất thấm ra cũ, hoặc có sắc tố lắng đọng, hoặc ban vàng biến tính dạng túi, đa số là can thận bất túc gây nên.

8. Thay đổi nhăn vị:

1. Con ngươi lồi cao: Là con ngươi một bên mắt sưng tấỵ nhô cao, chuyển động khó khăn, tầng cạn bạch tinh bị ủng thũng. Đa số do phong nhiệt hỏa độc, tạng phủ tích nhiệt, thượng công lẽn mắt, hoặc do đầu mặt bị mụn sưng, đơn độc... gần với ổ bệnh, tà độc lan rộng đến trong khoang mắt gây nên. Con ngươi bị lồi ra dạng tiến triển, đa số là trong khoang có khối u gây nên.

2. Hắc mạc ngưng tinh: Là con ngươi 2 mắt lồi ra, như mắt hung thần ở trong miếu đường, đỏ thẫm như mắt chỉm, tia nhìn ngưng tụ, khó chuyển động. Đa số do mất cân bằng tình chí, can khí uất kết, uất lâu hóa hỏa, hỏa nhiệt thượng viêm, mục lạc sáp trệ; hoặc do uất lâu thương âm, tâm âm hao tổn, can âm bị tổn thương, dẫn đến âm hư dương kháng gây ra.

3. Con ngươi lồi ra khoang: Là con ngươi đột nhiên lồi ra, nhẹ thì ngậm ở trong mí, nặng thì lồi ra ngoài khoang, khi nổi giận gào thét càng bị nặng hơn, khi ngửng mặt lên hoặc nằm ngửa thì có giảm nhẹ. Đa số do nổi giận đùng đùng, gào thét to tiếng, cúi đầu hít hỏ... làm cho khí huyết cùng chạy lên trên, mạch lạc uất trệ gây ra.

4. Bị thương tinh lồi ra: Là con ngươi bị lồi ra, mí mắt sưng tấy xanh tím, có lịch sử bị ngoại thương, đa số do bị gẫy xương khoang mắt, tổn thương đến tổ chức phần mềm trong khoang; hoặc tiêm chích ở huyệt vị xung quanh mắt và tiêm sau nhãn cầu, làm tổn thương sai lệch vào huyệt lạc, huyết tràn ngoài lạc, đình ở trong khoang gây ra.

5. Tổn thương cao hãm con ngươi: Là chỉ con ngươi bị co hãm về phía sau. Đa số đo sắc dục quá độ, thận tinh quá hao; hoặc thích ăn các đồ ăn cay khô, hao tân chước dịch; hoặc gây tổn thương sai đến kinh lạc khoang mắt, xuất huyết quá nhiều, ứ huyết nội đình, máu bị cơ hóa, làm cho con ngươi bị co hãm về phía sau gây ra.

6. Rách xuyên con ngươi, hoặc chứng đồng thần co nhỏ không trị khỏi dẫn đến con ngươi bị co héo lõm xuống, là nhài quạt hãm tinh; con ngươi bé nhỏ từ thời thơ ấu, biểu hiện lõm xuống, là dị thường bẩm sinh, nếu sau khi bị thổ tả mà con ngươi lõm xuống, là hiện tượng tân dịch đại thoát.

7. Phong khiên phiến thị: Là con ngươi bỗng nhiên bị thiên lệch về một bên, đồng thời khi vận động về phía bên bị bệnh gặp khó khăn, thậm chí bị hạn chế nghiêm trọng, nhìn 1 thành 2, lợm giọng nôn mửa. Đa số do khí huyết bất túc, tấu lý (khoảng cách giữa cơ và da) không chắc chắn, phong tà thừa hư ập vào dẫn đến gân mạch chùng hoãn; hoặc do mất điều hòa tỳ vị, tân dịch không phân bố, tụ thấp sinh đàm, phong đàm trở lạc gây ra; cũng có trường hợp do bệnh có tính chiếm vị trí trong đầu gây ra. Bệnh này nếu đồng thần bị thiên lệch nghiêm trọng, gọi là đồng thần phản bối (quay lưng); nếu chỉ nhìn xiên xuông phía dưới, gọi là trụy tinh.

8. Hai mắt thông tinh: Là cả 2 mắt đều lệch vào phía trong có tính thay thế cho nhau, là bệnh mắt bị từ thuở nhỏ. Đa số do con ngươi phát triển không tốt, hình thành viễn thị hoặc do ép nhìn vật gần lâu ngày, dẫn đến con ngươi bị xiên lệch; hoặc do bệnh nhiệt khi còn nhỏ, tà phong nhiệt công lên não, tổn thương gân não, gân mạch ngưng định gây ra.

9. Mắt ngước lên: Là con ngươi 1 mắt hoặc cả 2 mắt luôn nhìn ngược lên, không thể nhìn xuống được. Nếu bị một mắt, đa số do chính khí nội hư, tấu lý không bền vững, ngoại tà thừa nhập, hoặc do ngoại thương gây ra; nếu cả 2 mắt ngược lên, đa số do hỏa nhiệt kháng thịnh, thượng nhiễu tâm thần, hoặc dòm dãi ủng thịnh mà thành.

10. Méo miệng lác mẩt: Là chỉ miệng và mắt cùng méo lệch sang một bên. Đa số do chính khí bất túc, kinh lạc hư không, tai biến kinh lạc, đường kinh bất lợi; hoặc do đàm thấp nội uẩn, phục cảm phong tà, phong đàm trở lạc; hoặc di chứng sau khi bị tai biến (trúng phong); khí hư huyết trệ, mạch lạc ứ trố; hoặc ngoại thương đầu mặt, tổn thương kinh lạc... gây ra.

11. Xoay vòng dây tời: Tức là con ngươi 2 mắt không tự chủ được cứ chuyển động trái phải hoặc lên xuống như dây tời liên tục, rung động có tiết tấu nhịp độ hoặc xoay chuyển không ổn định. Đa số do tấu lý không vững bền, phong tà ngoại nhập; hoặc can huyết bất túc, âm không chế được dương, can phong nội động; hoặc do thiếu hụt bẩm sinh, con ngươi phát triển kém hoàn chỉnh, trở ngại thị lực cao độ gây nên.

9. Chướng ngại thị lực:

1. Cận thị: Còn gọi là thích gần sợ xa. Tức là nhìn vật xa lò mờ mà nhìn gần thì rõ ràng, không có gì khó chịu ở phần mắt. Đa số do mắt làm việc càng thẳng gây nên. Là tâm dương suy nhược, thần quang không phát ra xa được; hoặc can thận lưõng hư, tinh huyết thiếu hụt; dẫn đến thần quang suy vi, tia sáng không thể phóng xa. Cũng có nguyên nhân thiêu hụt bẩm sinh, di truyền bẩm sinh gây ra.

2.  Viễn thị: Còn gọi là có thể nhìn xa sợ gần. Tức là nhìn vật xa rõ hơn nhìn gần, khi bị nghiêm trọng thì nhìn xa cũng không rõ. Đa số do thiếu hụt bẩm sinh, sinh ra đã vậy, âm dương lưỡng suy, dương không sinh âm, âm hư không thể thu gom, tia sáng tán loạn; hoặc do thận âm bất túc, âm tinh hư tổn, không thể gom tụ tia sáng gây nên.

3. Lão thị: Còn gọi là lão hoa nhãn. Là chỉ những người từ 40 tuổi trở lên nhìn xa còn rõ, nhìn gần mờ dần. Đa số do tuổi cao thể hư, thận tinh suy dần, âm tinh bất túc, tia sáng có dư, tia sáng trong mắt phát vượt ra ngoài, mà không thể thu gom nhìn gần mà gây ra.

4. Bạo manh: Là nhìn bề ngoằi mắt thì tốt, nhưng nhìn sự vật thì sa sút nhanh gấp. Lâm chứng căn cứ vào biểu hiện đáy mắt khác nhau mà phân ra như sau:

(1) Bạo manh do viêm hệ mắt: Là chỉ hệ mắt sinh viêm, sung huyết thủy thũng, thị lực giảm nhanh, thậm chí mất ánh sáng. Đa số là can đỏm thực hỏa, thượng viêm ở mắt gây nên.

(2) Bạo manh do tổn thương hệ mắt: Là bị ngoại thương ở phần đầu não và phần mắt, tổn thương đến hệ mắt, gây ra thị lực giảm mạnh, nặng có thể mù. Đa số do ngoại thương khí huyết ứ trệ gây ra.

(3) Bạo manh do thoát rụng phần vỏ mắt (thị ỵ): Là chỉ phần vỏ áo mắt bị thoát rụng gây ra thị lực giảm nhanh, nặng có thể mù. Người mới bị có tia sáng lóe lên trước mắt, nhìn vật biến hình, tiếp đến là có cảm giác mảng đen che lấp trước mắt. Đa số do mất điều hòa tỷ thận, tỳ mất kiện vận, thận dương bất chấn, thủy thấp đình tụ, thượng phiếm vào mắt mà gây nên; nguyên nhân gây ra bệnh này thường là ngoại thương độ nhẹ.

(4) Bạo manh do trở trệ lạc mắt: Là chỉ mạch lạc của thị y (vỏ mắt) bị trở trệ, làm cho thị lực đột nhiên giảm mạnh, nặng có thể mất ánh sáng. Đa số do sự cố tình chí, can khí nghịch lên, khí trệ huyết ứ, huyền phủ không thông, tắc trở mạch lạc gây ra.

(5) Chảy máu mắt: Là do xuất huyết đáy mắt, dẫn đến thị lực giảm nhanh, nặng có thể mất ánh sáng, đa số do can hỏa nóng rực, bức huyết vọng hành; hoặc phế thận âm hư, hư hỏa thượng viêm, hỏa uất mạch lạc, huyết không theo kinh; hoặc can khí bất toại, uất hỏa hóa nhiệt, mất chức năng tàng huyết; hoặc âm hư dương thịnh, nhiễu lân mục khiếu, mạch lạc ứ trở, huyết tràn ngoài mạch... gây nên.

5. Bệnh thanh manh (glôcôm): Nhìn bề ngoài mắt thì tốt, thị lực giảm chậm, không có gì khó chịu rõ rệt, kiểm tra đa số thấy hệ mắt khô héo và biến trắng. Đa số do khí huyết bất túc, can thận hao tổn, tinh không đầy đủ, mất dưỡng hệ mắt, huyền phủ uất trệ gây ra; cũng có nguyên nhân chấn thương ở đầu, trong đầu não có khối u, ngộ độc dược vật gây nên.

6. Mắt nhìn mờ mịt: Nhìn ngoài mắt không có gì khác nhưng thị lực giảm sút, nhìn vật lờ mờ không rõ. Kiểm tra đáy mắt, có thể thấy bị sung huyết nhẹ độ, mạcu lạo co biểu hiện hơi đầy, trên bề mặt vỏ mắt có chất thấm ra màu vàng trắng hoặc có sắc Tố lắng đọng không có quy luật. Đa số do thấp nhiệt đàm trọc nội uẩn, thượng phạm thanh khiếu, hoặc tình chí không thư thái, khí trệ huyết uất, huyết phủ bất lợi; hoặc can thận bất túc, tinh huyết hư hao; hoặc khí huyết hư hao mắt mất nguồn dưỡng gây nên.

7. Khô ráp hoa mắt: Là chỉ trong mắt khô ráp, nhìn vật không rõ, đa số do can thận âm hư, hoặc can huyết bất túc, mắt mất nhu dưỡng gây nên.

8. Tinh sáng đêm tối: Là bên ngoài mắt không có gì khác, nhìn vật chỗ tối hoặc ban đêm khá rõ, ban ngày nhìn không rõ. Đa số tinh can thận hư hao, mắt mất nhu dưỡng, hoặc thân thủy bất túc, thần quang lộn xộn gây ra.

9. Mù đêm (quáng gà): Là chỉ vào thời điểm chập tối hoặc ở chỗ tốì nhìn vật không rõ. Trong lâm chứng còn phân loại như sau:

(1) Mắt quáng gà do can hư: Thường thấy ở thời kỳ đầu trẻ em bị cam tích lên mắt, triệu chứng thấy 2 mắt khô ráp khó chịu trước ánh sáng, chớp mắt nhiều, hoặc nhắm mắt khó mở, về đêm nhìn vật không rõ, nếu không điều trị kịp thời cố thể dẫn dêh bạch tinh khô táo, thường xuất hiện trong ngoài 2 bên các vết ban khô táo hình tam giác màu xám, hắc tinh thiếu dịch, thậm chí viêm loét phá tổn, hình thành tinh cua. Đa số do tạng phủ trẻ em mềm yếu, tỳ thường thiếu hụt, lại thêm ăn uống không điều tiết, hoặc khảnh ăn; hoặc nuôi dưỡng không chu đáo; hoặc kiêng khem không nguyên tắc; dẫn đến tổn thương tỳ vị, các chất dinh dưỡng không được vận hóa, can huyết bất túc, mắt mất nhu dưỡng gây nên.

(2) Quáng gà cao phong: Còn gọi là cao phong nội chướng, chỉ mù về đêm, thị lực đần dần bị sa sút, tầm nhìn ngày càng thu hẹp. Kiểm tra đáy mắt thấy có vàng nến ở hệ mắt, mạch lạc bị thu nhỏ, trên phần vỏ mắt có sắc tố lắng đọng không theo quy luật. Đa số do thiếu hụt bẩm sinh, mệnh môn hỏa suy; hoặc can thận hư tổn, tinh huyết bất túc; hoặc tỳ vị hư nhược, thanh khí không lên..., dẫn đến mắt mất như dưỡng, khí huyết thất hòa, mạch đạo ứ trệ gây ra.

10. Thị giác khác thường

1. Bóng đen trước mắt: Trước mắt xuất hiện bóng đen dạng điểm hoặc dạng dây bay lượn bất định gọi là tinh mây mù di động. Khỏi bệnh nhanh, bất ngờ, đa số là thấp nhiệt hun lên hoặc xuất huyết trong mắt gây ra; nếu phát sinh chậm, đa số là can thận bất túc hoặc khí huyết hư hao gây ra. Nếu trước mắt xuất hiện bóng đen dạng chấm cố định không di động, đa số là thời kỳ đầu của nhài quạt tròn nội chướng. Thường do can thận hư hao gây nên.

2. Nhìn vật biến hình: Là nhìn thẳng hóa cong, nhìn chính diện hóa xiên lệch, nhìn to thành nhỏ, nhìn dài hóa ngắn, nhìn ngắn hóa dài.... Đa số do can uất huyết trệ, khí huyết mất điều hòa; hoặc tỳ mất kiện vận, thấp tà đình tụ; hoặc can thận âm hao, hư hỏa thượng viêm gây nên.

3. Nhìn 1 thành 2: Là nhìn 1 vật thành ra 2 vật. Đa số do phong tà nhập lạc, cơ mắt tê dại gây nên hoặc do can thận hư nhược, khí huyết bất túc gây ra.

4. Nhìn cố định thấy di động: Là nhìn một vật thể cố định lại thấy vật đó di động. Đa số do can thận âm hư, can huyết hao hụt gây ra.

5. Nhìn vật đảo ngược: Tức là nhìn vật thể thành dạng xoay tròn đảo ngược. Đa số do khí huyết lưỡng hư, mắt mất nuôi dưỡng gây nên.

6. Nhìn có màu sắc: Nhìn bề ngoài mắt không có gì khác lạ, nhưng khi nhìn vật thể không mầu lại thành có mầu sắc, đa số do can thận bất túc, tinh huyết hư hao, mắt mất nhu dưỡng mà thành.

7. Nhìn vật dị sác: Bể ngoài mắt không có gì khác, khi nhìn vào vật thì khả năng phân biệt màu sắc kém, hoặc không thể nhận ra một số màu sắc. Nhìn vào màu đỏ lại cảm thấy là màu trắng, gọi là trông đỏ như trắng. Đa sô do di truyền bẩm sinh gây ra, là gan thận âm hư, tinh huyết không thể thượng thừa mà thành.

8. Hồng thị (cầu vồng): Là nhìn vào ánh sáng đèn có vầng màu xanh đỏ. Nếu kèm theo mắt sưng đau đầu là một trong triệu chứng ngũ phong nội chướng. Nếu dử mắt như hồ dính, đa số là phong nhiệt phạm mắt gây ra.

9. Tọa khởi sinh hoa: Tức là ngồi lâu hoặc nằm lâu đột nhiên đứng dậy cảm thấy chóng mặt hoa mắt. Đa số do khí huyết bất túc hoặc gan thận âm hư gây ra; cũng thường thấy ở người bình thường.

10. Huỳnh tinh đầy mắt (đom đóm): Là các chấm sáng như sao tán loạn trước mắt, như hàng đàn đom đóm bay lượn trước mắt. Đa số do tâm thận bất giao, hoặc gan thận âm hao, hư hỏa thượng viêm; hoặc tỳ mất kiện vận, đàm thấp uẩn tích, hóa hỏa dâng lên, hun chưng thanh khiếu gây nên.

11. Thần quang tự hiện: Là chỉ ngoài mắt không có gì khác, tự cảm thấy như ánh sáng điện tự lóe sáng trước mắt, nặng thì giống như tia lửa, có khi bỗng nhiên rất nhanh nhìn thấy vật thể, che lấp trưóc mắt; nặng thì trước mắt thành một màn sáng trắng, khi hoảng hốt có thể nhìn thấy cử động. Kiểm tra đáy mắt có thể thấy phần vỏ mắt có chất thoát rụng màu xám trắng đầy lên, huyết lạc bò leo ở trên. Đa số do âm tinh hư tổn, huyền phủ uất trệ; hoặc mất điều hòa tỳ thận, thủy thấp đình tụ, tràn lan ở mắt gây nên.

11. Đau mắt:
1. Tính chất đau: Đột nhiên phát sinh, thế đau gấp nặng, duy trì liên tục, ưa lạnh chống ấn, lạnh thì giảm đau, càng ấn càng đau nặng, là nhiệt chứng thực chứng; nếu mắt đau, phát sinh từ từ, thế đau chậm, lúc đau lúc không, ưa nóng ưa ấn, nóng thì giảm đau, ấn cảm thấy dễ chịu, là hàn chứng hư chứng.

2. Thời gian đau: Nếu đau con ngươi mắt về ban ngày là thuộc dương, đau về đêm là thuộc âm; đau mắt sáng sớm là thuộc dương, đau sau giờ ngọ là thuộc âm.

3. Mức độ đau: Đầu và mắt đau kịch liệt, đầu đau như búa bổ, mắt đau như dùi đâm, là đầu phong đàm hỏa, khí huyết ứ trở, thần thủy ứ trệ, bế tắc huyền phủ gây ra. Đầu mắt sưng đau, sưng tấy kèm đau, là khí cơ uất trệ; đầu mắt đau như chích, như chườm lá ngải, như châm như chích, là phong nhiệt hỏa độc ủng thịnh, khí huyết ứ trệ; đầu mắt đau như co ép, đau lan sang chỗ khác, nếu đau như co ép, như điện giật, là phong tà thoán lạc; nếu trong mắt đau nóng như đốt, là nhiệt uất trong máu; trong mắt đau ráp, loại trừ có dị vật ở bề mặt con ngươi, đa số là âm hư tân dịch bất túc; đau ngầm ở phần mắt, thế đau nhẹ mà chậm, là khí huyết bất túc, huyết không nuôi mắt; khi chuyển động con ngươi rất đau, là tà khách hệ mắt.

4. Vị trí đau: Đau mắt liền lên đỉnh đầu đến sau gáy, là thái dương kinh bị tà; đau mắt liền đến 2 bên thái dương, là thiếu dương kinh bị tà; đau mắt liền đến trước trán, mũi, răng, là thuộc kinh đương minh bị tà; đau ở phần sâu trong khoang mắt, liền đến đỉnh đầu, thuộc kinh quyết âm bị tà.

5. Đau xương lông mày: Là chỉ bệnh mắt khi kiểm tra ngoài mắt không có gì khác, tự cảm thấy đau ở phần xương lòng mày, ấn vào chỗ dấu cắt trên khoang mắt càng đau nặng hơn, hoặc đau đến trong khoang mắt, phát tác từng cơn, khi nặng khi nhẹ, nhất là đau về đêm. Đa số do phong tà xâm nhập, thanh dương bị nhiễu, mạch lạc trở trệ gây ra.

6. Phong lôi đầu: Là do tật mắt gây ra đau mắt như dùi đâm, đầu đau như bổ, nặng thì trước mắt tối đen. Đa số do đầu hỏa nội thịnh, thượng thừa thanh khiếu; hoặc phong tà ngoại khách, theo hệ mắt nhập vào não gây nên.

7. Đau đỏ như tà: Là mắt đỏ đau và đau đầu, hàn nhiệt giao tác, khi đau khi không. Đa số do có hư nhiệt bên trong, phục cảm ngoại tà gây nên.

8. Hành kinh đau mắt: Là phụ nữ đến kỳ hành kinh, mắt đau ráp, đau đầu, sưng ráp khó mở mắt, sợ ấnh sáng chảy nước mắt, hoặc hắc tinh sinh nhài quạt. Đa số do can kinh tố uẩn nhiệt tà, uất mà hóa hỏa, can hỏa nghịch lên thanh khiếu; hoặc kỳ kinh nguyệt mất máu quá nhiều, can kinh hư tổn, mắt mất nhu dưỡng mà gây nên.

12. Ngứa mắt:

1. Ngoài có triệu chứng, gây ngứa phần mắt: Mắt ngứa khó chịu, ngứa như sâu bò, nặng về xuân hè, thu đông thì hoãn giải, là do tam tà phong thấp nhiệt uẩn kết, uất trệ mạch lạc gây nên; mắt ngứa mà da lở loét ướt, đỏ thẫm đau, là tỳ vị thấp nhiệt có kèm phong tà; mắt ngứa mk khô ráp, da thô sần là huyết hư sinh phong; sau khi dùng thuốc ở cục bộ mắt gây ra ngứa, da sinh mẩn mụn, là bị dị ững thuốc; bệnh mắt ngoại chướng, triệu chứng ngày càng giảm nhẹ, kèm theo ngứa nhẹ, là chính khí hồi phục, bệnh sắp khỏi.

2. Ngứa phần mắt, không có triệu chứng bên ngoài: Mắt không đỏ, không sưng, không đau, chỉ cảm thấy ngứa ở phần mắt, là phong ở phần da và tấu lý, hoặc huyết hư sinh phong gây nên.

13. Sợ ánh sáng, sợ nắng:

1. Sợ nắng, sợ ánh sáng có triệu chứng bên ngoài: Rất sợ ánh nắng và ánh sáng. Mắt đỏ sẫm đau, đa số là can kinh phong nhiệt, hoặc can đởm hỏa thịnh gây ra. Hơi sợ ánh sáng, mắt hơi đỏ, đa số là âm hư hỏa vượng gây nên; sợ ánh sáng mà mắt đỏ sẫm đau, kèm theo bạch tinh khô, hắc tinh vẩn đục, đa số là tỳ hư can vượng gây ra.

2. Sợ nắng sợ ánh sáng không có triệu chứng bên ngoài: Sợ nắng sợ ánh sáng không đỏ không đau, lại cũng không có mạch đỏ hoặc màng nhài quạt, chỉ là mí mắt luôn muốn khép sệ xuống, là dương khí tất túc gây nên.

14. Dử mắt

1. Dử mắt: Nhìn dử mắt vàng, thậm chí dính bọc mí mắt, là phong nhiệt ngoại nhập hoặc tâm phế hỏa thịnh; nhiều dử mắt xanh, là tà độc ủng thịnh; dử nhiều màu trắng chất loãng, là thấp nhiệt kết hợp với nhau, thấp nặng hơn nhiệt; dử mắt ít khô kết, là tâm kinh có nhiệt; dử trắng lượng ít dạng như tơ dỉnh; là có thấp tà.

2. Nước mắt:

(1) Nước mắt lạnh: Là mẩt không đỏ không sưng, bình thường chảy nước mắt, nước mắt không có cảm giác nóng, khi bị gió lùa càng nặng hơn, Đa số do can thận hư nhược hoặc khí huyết tất túc, không thể khống chế nước mắt, hoặc do mụn tiêu kéo dài không khỏi, xâm vào tuyến lệ, gây ra trác trở tuyến lệ mà thành.

(2) Nước mắt nóng: Là khi nước mắt chảy ra có cảm giác nóng, thậm chí nóng như canh. Đó là một trong các bệnh mắt ngoại chướng, đa số do can kinh bị phong nhiệt, hoặc can đởm thực hỏa gây nên.

(3) Huyết lệ: Là nước mắt nóng chảy nhiều lần, kèm theo có máu. Đa số do ngoại cảm phong nhiệt hoặc tâm phế nhiệt thịnh gây ra.

(4) Nước mắt chảy ra không theo giờ giấc quy luật, ấn vào phần khóe lớn có thể thấy dịch dính hoặc mủ từ khiếu lệ tràn ra, là tâm kinh uẩn nhiệt gây nên.

[Nghiên cứu hiện đại]

1. Nghiên cứu lý luận

Rất nhiều nhà y học đã tìm tòi quy nạp một số nội dung có liên quan đến mục chẩn trong các y tịch cổ đại quan trọng. Như mối quan hệ giữa mắt với ngũ tạng lục phủ, mà nhất là môi quan hệ mật thiết với can, tim, thận trên cơ sở nghiên cứu lý luận có liên quan đến mục chẩn trong "Nội kinh"; về phương diện sinh lý thì mắt với tinh thần và khí huyết cũng không thể tách rời. "Nội kinh" đã thông qua quan sát những thay đổi "ngữ sắc bạch tinh trong mắt, hình thái của mạch đỏ trong mắt, đồng tử và con ngươi (đồng tử co hẹp hoặc giãn rộng, rốì loạn thị giác, nhìn sự thay đổi lõm vào trên con ngươi), những thay đổi hình thái sắc trạch của hốc mắt dưới mắt và giữa 2 lông mày, có thể phản ánh những nguyên nhân bệnh và bệnh cơ, phán đoán diễn biến và phát triển, suy đoán bệnh vị và chỉ đạo biện chứng lâm sàng. Vọng chẩn mắt, bao gồm vọng chẩn ngoại hình và hình thái của mắt (mắt lệch, mắt nhìn thẳng, mắt sưng, mắt mù, mắt không khép được, nháy mắt), xem vật thải ra từ trong mắt (mắt xuất huyết, chảy nước mắt), xem màu sắc ở các vị trí của mắt; hai là vấn chẩn về mắt (tìm hiểu tình hình thị giác, như chóng mặt, hoa mắt...). Chứng minh ý nghĩa của mục chẩn không chỉ kiểm tra bệnh biến cục bộ của mắt, mà còn là mắt xích quan trọng để kiểm tra bệnh tật toàn thân.

Tào Hồng Hân ở Trung Quốc đã tìm tòi tham khảo đốì với mục chẩn trẻ em trong "Tiểu nhi dược chứng chân quyết". Ông đã quy nạp nội dung mục chẩn của Tiền At là nhìn thần mắt, sắc mặt (các mầu của bạch tinh, hắc tinh và mí mắt), nhìn hình thái của mắt (phù thũng mí mắt, nhìn thẳng, nhìn xiên lệch, nháy mắt, ngủ lộ tinh, màng trắng che bạch tinh...); là ý nghĩa mục chẩn trong khi trình bày nguyên nhân bệnh và bệnh cơ, nắm vững diễn biến, phát triển của bệnh tật để phân biệt bệnh chứng thực hư khó phân biệt.

Trong phương diện nghiên cứu chẩn đoán đồng thần, có người đã tìm tòi nguyên lý về hàm nghĩa, kết cấu và thông minh nhìn vật của đồng thần. Cho rằng đồng thần là một khái niệm tạng tượng, là đại diện tập trung của toàn bộ hệ thống chức năng thị giác; không chỉ là một danh từ giải phẫu học đơn thuần. Đã nêu lên 4 điểm là chân tinh, chân huyết, thần thủy, thần cao trong "Chứng trị chuẩn thằng", là loại vật chất tinh vi của tinh huyết tân dịch thuộc âm, hình thức tồn tại cụ thể trong mắt, tạo thành thực thể, thần quang, chân khí và chân tinh thần, thần thủy của đồng thần, có tác dụng tạo thành âm dương của đồng thần. Hình thành ngoài sự tương giao cân bằng âm dương thủy hỏa của hoạt động thị giác đồng thần, còn thông liền và có quan hệ mật thiết, người xưa coi bệnh tật của đồng thần tất cả quy về thận, rõ ràng là có tính hạn chế, đã coi nhẹ ý nghĩa của quan niệm chỉnh thể về mốì quan hệ giữa mắt với tạng phủ và kinh lạc toàn thân. Đã chỉ ra ràng bị bệnh tật ở đồng thần không chỉ có thể đo mất điều hòa chức năng của thận, mà cũng có thể do có nhân tố về các phương diện như tâm, can, tỳ, khí huyết... gây nên.

Nhóm Bàng Tứ Tuyên ở Trung Quốc đã trình bày mới quan hệ giữa mắt với tinh huyết tân dịch, khí, thần, đồng thời kết hợp biểu hiện lâm sàng đã tìm tòi quy nạp chứng cứ biện chứng với bệnh chủ.

Đối với bệnh chính ngũ luân như nhục, khí, phong, huyết, thủy luân, cũng đã quy nạp thực tế lâm sàng rất sâu sát và phù hợp.

Biện chứng ngũ luân bát khuếch nhãn khoa, là nội dung quan trọng trong chẩn đoán nhãn khoa của Đông y, mặc dù hiện nay ý nghĩa lâm sàng của học thuyết ngũ luân bất khuếch còn có nhiều điều tranh luận, nhưng đa số cho rằng, giá trị lâm sàng của học thuyết bát khuyếch không lớn, mà học thuyết ngũ luân có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng đối với biện chứng lâm sàng nhãn khoa. Dưới sự chỉ đạo của lý luận "Tạng có bệnh, tất hiện ở luân".

Về phương diện nghiên cứu lý luận "Ngoại chướng đa thực", "Nội chướng đa hư", chúng tối đã tiến hành quan sát hiện chứng mắt ngoại chướng của 917 bệnh nhân, có 814 bệnh nhân thuộc thực chứng, chiếm 88,77%; có 8 bệnh nhân thuộc hư chứng, chiếm 0,87%; có 95 người chứng hư thực lẫn tạp, chiếm 10,36%. Chứng minh rằng bệnh mắt ngoại chướng đúng là nhiều thực chứng. Mà kết quả biện chứng bệnh mắt nội chướng của 1.725 bệnh nhân, thuộc thực chứng là 555 bệnh nhân, chiếm 32,17%; thuộc hư chứng là 417 bệnh nhân, chiếm 24,17%; 753 bệnh nhân chứng hư thực lẫn tạp, chiếm 43,65%. Chứng minh bệnh mắt nội chưổng không nhiều hư chứng, mà chủ yếu là thực chứng và hư thực tạp lẫn.

Nghiên cứu về lý luận "đồng thần thuộc thận" trong ngũ luân, chúng tối đã tiến hành biện chứng lâm sàng đối với 1,725 trường hợp bị bệnh đồng thần, kết quả cố 705 người gan thận cùng bị bệnh, chiếm 40,87%; có 635 bệnh nhân bị bệnh gan, chiếm 36,81%; 218 người bị bệnh tỹ, chiếm 12,64%; 80 người bị bệnh thận, chiếm 4,64%; có 41 người tỳ thận cùng bị bệnh, chiếm 2,38%. Chứng minh rằng bệnh ở đồng thần trong biện chứng tạng phủ thuộc thận không nhiều mà là gan thận cùng bị bệnh và bệnh gan là chính.

Trong nghiên cứu phương diện quan hệ mắt với gan, chúng tối đã tiến hành quan sát sơ đồ huyết lưu ở mắt, gan, phổi đổi với 135 bệnh nhân bị bệnh mắt và 120 người bình thường, đã phát hiện về phương diện sóng khác thường, sơ đồ huyết lưu gan của người bị bệnh mắt có tỷ lệ hình sóng khác thường là 44,96%, mà nhóm bình thường chỉ 12,5%; mà huyết lưu đồ phổi của người bệnh mắt có tỷ lệ hình sóng khác thường là chỉ 5,83%, gần tương đương với nhóm bình thường, mà các chì tiêu huyết lưu đồ gan của ngươi bị bệnh mắt có biến dị rõ rệt, các chỉ tiêu trên huyết lưu đồ phổi thì thay đổi không rõ ràng. Hơn nữa, người bị bệnh mắt có hên quan với sự thay đổi bệnh lý của gan, thì mắt và chỉ tiêu huyết lưu đồ gan của họ có tương quan rõ rệt, còn người không có liên quan đến sự thay đổi bệnh lý của gan, thì mắt và chỉ tiêu huyết lưu đồ gan của họ có tương quan rất nhỏ. Có người nghiên cứu phát hiện: Viêm gan cấp và mạn tính, xơ cứng gan, ung thư gan... đều có thể cùng phát bệnh ở phần mắt, như tự cảm thấy triệu chứng nhìn vật lờ mờ, thị lực mệt mởi, nhãn cầu sưng đau, trong mắt khô ráp, quáng gà... và các thể chứng lâm sàng như mạch máu cầu kết mạc mở rộng, củng mạc nhiễm vàng, tri giác của giác mạc suy giảm, đồng tủ to nhỏ không đều, tĩnh mạch võng mạc mở rộng; đầu núm thị giác bị thủy thũng, xuất huyết võng mạc, điểm mờ sinh lý nói rộng... Đều là những cãn cứ khoa học hiện đại cung câ'p lý luận về gan chủ mắt.

2. Nghiên cứu lâm sàng:
Căn cứ vào sự thay đổi của nhãn cầu để phán đoán lành dữ của bệnh nhân bị ngã, đánh tổn thương. Nếu trên củng mạc 2 mắt có gân đỏ, ngoài tuy không có vết thương, nhưng trong tất có ứ; người đồng tử bị mất thần dự báo diễn biến và phát triển của bệnh đa số là xấu; người nhãn cầu hỏa nhiệt, nước mắt chảy không ngừng, nhất định là bị chứng hiểm. Qua quan sát khoang mắt bát khuyếch chẩn trị cho 382 trường hợp bị nội thương do bệnh cũ, cho rằng người bị kiểu thương khí thì ở vị trí tương ứng khu bát khuếch xuất hiện gân đỏ rất rõ, ở đoạn cuối của nó còn có điểm ứ hình tròn hoặc hình vuông, to nhỏ như đầu kim, gân đỏ có thê biểu hiện cong gấp, thậm chí có dạng xoắn ốc, trong lâm sàng đau ngầm, đau không cố định vị trí liên tục, khi thời tiết thay đổi càng đau hơn, điều trị dùng lý khí hoạt huyết; người bị kiểu thương huyết, ở khu tương ứng bát khuếch có thể thấy gân đỏ màu tím, ở đoạn cuối của nó có điểm ứ đen trầm, hình như hạt vừng, hoặc thấy dạng vuông chỉnh tề, trong lâm sàng xuất hiện đau liên tục, đau ở vị trí cố định, điều trị dùng hoạt huyết khu ứ. Người bị kiểu khí huyết lưỡng thương, là triệu chứng thương khí và thương huyết ở phần mắt đều thấy, đoạn cuối của nó có điểm tròn màu đen, sắc trạch xung quanh như mây màu, trong lâm sàng xuất hiện triệu chứng đau như chích, hoặc sưng đau cục bộ, cùng thấy ở nhiều chỗ, điều trị dùng bổ khí dưỡng huyết. Kết quả khỏi 285 trường hợp chiếm 74,7%; 80 trường hợp có chuyển biến tốt, chiếm 20,9%.

Theo kinh nghiệm xem mắt của sách tướng, cho rằng phần tằm nằm (mí dưới mắt) không sưng mà sáng, là thận khí thực, tinh khí đủ, chủ về nàng lực sinh dục mạnh; phần này trong hư mà ngoài sưng, là thận dương hư, tinh dịch không đủ, chủ về năng lực sinh dục thấp kém. Nếu phần nàv sưng đen mà nhiều vân có thể thấy chúng tiêu khát, thì càng khó có con.

Học giả Nhật Bản Độ Biên Chính cho rằng, người bị nhãn cầu xiên lệch vào trong, có thể là triệu chứng báo trước trúng phong, nhãn cầu lệch ra ngoài là tín hiệu của chứng ung thư, nhãn cầu lên trái xiên ra ngoài biểu thị khả năng bị bệnh tiểu đường. Mí mắt đưối phù thũng phát sáng là triệu chứng có thai, phù thũng phía bên trậi có khả năng phần lớn là có thai con trai, phù thũng phía bên phải, khả năng có thai con gái lớn hơn. Người có đường giới hạn hồng mạc và giác mạc rõ ràng, thường khó bị chứng ung thư; nếu vẩn đục không trong sạch, đường viền biên không chỉnh tề dễ bị mắc bệnh ung thư. Mí mắt phù thũng thường thấv bị viêm thận, bệnh tim và bệnh cưóc khí; nhãn cầu lồi ra thường là tuyến giáp trạng phát triển quá mức bình thường, huyết áp cao và bệnh run rẩy tê liệt.

Nếu trên kết mạc mí có điểm xuất huyết đa số là do bệnh ở hệ thông tuần hoàn máu gây ra, như cao huyết áp, xơ cứng động mạch..., cũng thấy ở trường hợp bị viêm màng tim do lây nhiễm. Kết mạc mí trắng nhợt biểu thị bị bệnh tim và hệ thông tuần hoàn. Ngoài ra, người bị lao phổi, khi bị thiếu máu thì kết mạc mí cũng có biểu hiện màu trắng nhợt. Nhãn cầu biến trắng nghiêm trọng là có bệnh ở phần phổi. Cầu kết mạc bị sung huyết, là tĩnh mạch bị ứ huyết, ỉà biểu hiện dinh dưỡng quá thừa, thường thấy ở người chức năng tim không hoàn chỉnh. Ngoài ra, người bị cao huyết áp trước khi xẩy ra tràn huyết não, trước khi phát tác bệnh dương nhàn phong (hủi), cũng sẽ xuất hiện triệu chứng sung huyết kết mạc.

Nếu ở phần khác trong mắt có vết ban màu đỏ bằng đầu kim, gọi là "điểm trúng phong", là triệu chứng báo trước trúng phong của bệnh cao huyết áp. Xung quanh giác mạc xuất hiện vòng màu vàng lục là gan dạng hạch đậu biến tính, biểu thị tích lũy hàm lượng đồng quá nhiều.

Khi dùng kính kiểm tra mắt để kiểm tra sự thay đổi của mạch lạc đáy mắt, thấy rằng mạch lạc hồng hoạt, to nhỏ cân xứng, sắc trạch tươi sáng, là can khí tốt; mạch lạc đỏ tổì, hoặc khô ráp hoặc bẩn nhầy, to nhỏ không đều, hoặc sung đầy, hoặc nới rộng, hoặc cong gập, hoặc căng nở, hoặc xoắn ốc, là do can khí uất kết; hệ mắt màu trắng hoặc khô vàng, viền biên rất trong, không chút màu máu, như trắng không sáng, mạch lạc khô nhỏ, là can huyết bất túc; huyết tràn ngoài mạch, hoặc thành điểm thành mảng, là khí trệ huyết ứ, mạch lạc bị ứ trở.

Có thể chia nhãn cầu thành 8 kinh khu để chẩn đoán bệnh tật toàn thân (nội dung xem ở đoạn văn trước), phương pháp chẩn đoán này hiện nay chủ yếu dùng cho đại đa số bệnh ở thông thần kinh, hệ thông tim mạch máu, hệ thông sinh dục tiết niệu, và có cả bệnh dạ dầy, viêm túi mật, giun chui ông mật, viêm gan, tiêu hóa không tốt, bệnh hậu môn, bệnh đau lưng, chân, bệnh ngũ quan đầu mặt... Đồng thời trên cơ sở phương pháp chẩn đoán này đã phát triển thành châm mắt thông qua châm chích ở 8 khu 13 huyệt mắt, để điều trị tại các bệnh tật ở các tạng phủ tương ứng trên toàn thân.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 2: Chương 5.

Quan tâm  
3

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Xô Thơm - Salvia Officinalis
Từ xưa, cây Xô thơm (Salvia Officinalis) được xem là một loại thảo mộc thiêng liêng, đặc biệt là người La Mã tin rằng cây xô thơm có thể chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, kéo dài cuộc sống con người. Người Trung Quốc cũng đánh giá...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.