Thứ năm, 24/05/2018 10:38 PM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Đầu

Chủ nhật, 11/02/2018 2:52 PM

Đầu mặt có ngũ quan, điều khiển nhìn, nghe, nói năng, hô hấp, ăn uống... của con người. Mũi là cơ quan của phổi, mắt là cơ quan của gan, môi miệng là cơ quan của lách, lưỡi là cơ quan của tim, tai là cơ quan của thận. Vì vậy, nhìn đầu mặt và những thay đổi trên ngũ quan của nó, có thể đoán biết bệnh biến ở trong cơ thể gọi là Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Đầu.

Quát sát những thay đổi trên sắc trạch của ngũ quan ở đầu để chẩn đoán bệnh tình gọi là Y Tướng Học
 Trong Chẩn Đoán Đầu.

Đầu ở vị trí cao nhất của cơ thể, là nơi cao quý nhất của ngũ thể, là trưởng của bách hài. Đầu bao gồm các bộ phận như sọ, tóc, khuôn mặt, lông mày, mắt (hồng mạc), tai, mũi, sơn căn, môi miệng, nhân trung, răng lợi, lưỡi, niêm mạc cằm má, cổ họng..., là nơi bộc lộ nhất của cơ thể. Thủ túc tam dương kinh đều tuần hành ở đầu, cho nên đầu mặt còn là nơi tập trung dương khí của cơ thể, và là chỗ hội tụ của kinh khí, gọi là "chư dương chi hội" và "nguyên thần chi phủ". Đầu mặt có ngũ quan, điều khiển nhìn, nghe, nói năng, hô hấp, ăn uống... của con người "Linh khu. Ngũ duyệt ngũ sử" nói rằng: "Mũi là cơ quan của phổi, mắt là cơ quan của gan, môi miệng là cơ quan của lách, lưỡi là cơ quan của tim, tai là cơ quan của thận". Vì vậy, nhìn đầu mặt và những thay đổi trên ngũ quan của nó, có thể đoán biết bệnh biến ở trong cơ thể rất nhạy bén. Như nhìn đầu mặt có thể suy đoán khí chất, tính cách và một số bệnh tính di truyền của con người; trẻ, lông mày có thể phản ánh tình hình suy thịnh của thận khí cơ thể, tướng lông mày còn báo triệu chứng khí chất cơ thể và sự thọ yểu của con người; môi miệng chẩn về triệu chứng bệnh biến của tỳ vị; răng là triệu chứng bề ngoài của thận, lợi là biểu lộ bên ngoài của dạ dầy, răng lợi là tấm gương sáng để nhìn thấy sự thịnh suy của thận khí và sự tồn vong của tân dịch dạ dầy; nhân trung là tấm gương ngoài phản ánh hệ thông tiết niệu và hệ thống sinh dục của nam nữ, đồng thời dự báo trước chức nàng sinh mệnh cơ thể; mà mắt, hồng mạc, mũi, vành tai, lưỡi v.v, lại là hình ảnh thu nhỏ của ngoại tướng ngũ tạng cơ thể, hay còn gọi là sơ đồ toàn bộ tin tức thu gọn. Cho nên, có thể nói đầu mặt là cánh cửa thứ nhất của cơ thể.

Tiết thứ nhất. Phương pháp chẩn đoán đầu

Thông qua phương pháp quan sát ngoại hình, động thái và triệu chứng tự giác... của đầu, để kiếm tra bệnh biến của tạng phủ như não, thận... và sự thịnh suy của khí huyết, gọi là phương pháp chẩn đoán đầu. Kiểm tra phần đầu là phần việc các nhà y học xưa nay rất coi trọng. Ngay từ thời Tây Chu đã có ghi về "tật thủ". Trong "Nội kinh" đã có ghi rất nhiều các bệnh có liên quan đến đầu như "nặng đầu", "đau đầu"... Trương Trọng Cảnh đời nhà Hán thường căn cứ vào triệu chứng phần đầu để làm chứng cứ chẩn đoán giám biệt bệnh thương hàn, tạp bệnh nội thương, Lý Đông Viên đời nhà Nguyên thì lấy triệu chứng đỉnh đầu để phân biệt ngoại cảm với nội thương, trong "Thập vấn ca" của Trương cảnh Nhạc đời nhà Minh đề xuất đầu tiên kiểm tra đầu mặt. Vương Thanh Nhiệm đời nhà Thanh đã chỉ rõ "Linh cơ ký ức tại não bất tại tâm", lấy hoạt động tư duy quy về chức năng của não. Những điều trên đây đều chứng minh tính quan trọng của công tác chẩn đoán đầu. Vì vậy, kiểm tra phần đầu không những có thể tìm hiểu được bệnh biến cục bộ của bản thân phần đầu, còn có thể thăm dò biết những thay đổi bệnh lý về âm dương, hư thực, hàn nhiệt... của tạng phủ và dự báo diễn biến và phát triển của bệnh tình.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Đầu, còn gọi là thủ, là "phủ của tinh minh", là chỗ cao quý nhất của ngũ thể, trưởng của bách hài, trong chứa tủy não, thông nhau với tủy sống. Tàng chứa tinh thận, chủ sinh tủy, tủy thông ở não, "Não như biển như nguồn của tủy". Cho nên đầu có quan hệ mật thiết với não và thận. Sự sinh trưỏng và phát dục của xương sọ với tủy não hoàn toàn dựa vào sự nuôi dương bổ sung của thận tinh; nếu thận tinh thiếu hụt, thì có thể dẫn đến trở ngại sinh trưởng và phát dục sọ não.

2. 12 kinh mạch và kỳ kinh bát mạch, đều có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với bộ đầu. Như thủ túc tam dương kinh mạch trực tiếp tuần hành ở bộ đầu, trong đó thủ dương minh đại tràng kinh, túc dương minh vị kinh, thủ thái dương tiểu tràng kinh tuần hành ở trước đầu, túc thái dương bàng quang kinh tuần hành ở sau đầu, thủ thiếu dương tam tiêu kinh, túc thiếu dương đảm kinh tuần hành ở 2 bên đầu; đốc mạch nhâm mạch của thái dương mạch cũng đều lên đến đầu, cho nên đầu được gọi là "Chư dương chi hội". Ngoài những mạch đó, túc quyết âm can kinh lên hội ở đỉnh đầu, nhâm mạch, xung mạch và một phân nhánh hoặc lạc mạch của âm kinh cũng đi lên ở bộ đầu. Tinh khí của tạng phủ cũng đều lên tôn vinh cho đầu. Cho nên những kinh mạch kể trên và bệnh biến trong tạng phủ tương ứng của nó đều có thể phản ánh ra trên bộ đầu.

3. Đầu ở vị trí cao nhất của cơ thể, lại có ngũ quan thất khiếu thông nhau, thông với bên ngoài, khi gặp phải sự xâm nhập của ngoại tà sẽ thấy biểu hiện ở đầu. Cho nên vô luận là bệnh biến cục bộ của ngũ quan đầu mặt, hay là bệnh biến tạng phủ tương ứng với ngũ quan, thường dễ dẫn đến bệnh chứng ở bộ đầu.

4. Nhìn từ học thuyết tạng phủ, một số chức năng và bệnh biến thuộc về phương diện tâm thần, trên thực chất chính là chỉ chức năng và bệnh của não.

Trong một số sách y học đời nhà Minh, Thanh ở Trung Quôc có ghi chép về chức năng hoạt động của đầu não; "Não là phủ cả nguyên thầu, khả năng ghi nhớ của con người, đều ở trong não".... Chứng minh hoạt động tinh thần của con người có liên quan tới não. "Y học nguyên thủy" thì nói: "Tai mắt miệng mũi đều tụ ở đầu, cao nhất, rõ nhất, tiện về tiếp vật. Tai mắt miệng mũi sở dĩ dẫn nhập, gần với não nhất, não trước hết cảm thụ hình tượng của tai, mắt, miệng, mũi mà cảm giác chúng, mà ký thác chúng, mà tồn chúng vậy". Cũng chỉ rõ ràng hơn não thông qua cơ quan cảm giác của cơ thể tiếp thu kích thích từ bên ngoài mà sinh ra các hoạt động tinh thần như ý thức, trí nhớ..., cho nên người xưa gọi não là "phủ của tinh thần". Do đó, trong lâm sàng thông qua tìm hiểu sự thay đổi của các phương diện trí lực, trí nhớ, tình cảm, tư duy, ý thức..., có thể đoán bắt được chức năng của tâm thần và đầu não có bình thường hay không.

[Phương pháp kiểm tra]

Bệnh nhân chọn chỗ ngồi, dưới ánh sáng đầy đủ, thông qua vọng chẩn và vấn chẩn để tìm hiểu về ngoại hình của đầu như (to, nhỏ, dị dạng...), động thái (ngửa đầu, cúi đầu, lắc đầu...) và các triệu chứng tự cảm thấy như lạnh đầu, nóng đầu, chóng mặt, đau đầu, căng đầu, nặng đầu, có tiếng vang trong não, tê dại da đầu...

Khi kiểm tra thóp của trẻ con, bác sĩ để 2 bàn tay vào hai thái dương trái phải của trẻ bị kiểm tra, ngón tay cái ấn phần trước trán dùng ngón giữa và ngón trở sờ vào cửa thóp, thăm dò cửa thóp to nhỏ, đồng thời tham khảo thời gian ra đời, tính toán sự sinh trưởng và phát dục của xương sọ có bình thường hay không, còn cần phải tìm hiểu cửa thóp có bị nhô cao hoặc lõm xuống hay không. Đốì với trẻ chậm đóng cửa thóp, còn cần phải ấn xương đỉnh đầu hoặc xương chẩm, tìm hiểu xương sọ có cảm giác đàn hồi hay không, để phán đoán sự sinh trưởng và phát dục của xương sọ có bị quá chậm hay không (H1-1).

Lượng đoán cửa thóp to nhỏ, thường là kiểm tra thóp trước. Độ to nhỏ của cửa thóp, dùng đường xiên của thóp trước để biểu thị, tức là đo độ dài cua trung điểm đường nối liền hai biên, khi ra đời thóp trước có kích thước từ 1,5 x 2cm. Khi ghi nhớ có the ghi là Ncm x Ncm.

Người bình thường đầu sọ ngay ngắn, các bộ phận xương sọ cân đối, to nhỏ vừa phải, không bị dị dạng. Thóp trước của trẻ em bình thường sau khi ra đời khoảng 12 đến 18 tháng thì khép lại, thóp sau khép kín sau khi ra đời từ 2 đến 4 tháng. Khi cửa thóp chưa khép, cửa thóp và xương sọ bằng phẳng với nhau, ấn vào thóp hơi có cảm giác căng thẳng, khi dùng tay sờ, còn có cảm giác thấy giao động cùng với nhịp đập của mạch, khi trẻ khóc gào, cửa thóp có thể hơi nhô lên.

[Ứng dụng lâm sàng]

1. Sọ đầu to dần lên, khe xương sọ nứt ra, gọi là giải lư (não tích nước bẩm sinh, H1-2), thường kèm theo khuôn mặt tương đôi thu nhỏ, đồng tử nhìn xuống, thần tình đờ đẫn, trí lực giảm sút, đa số do thận tinh thiếu hụt, thủy dịch đình tụ trong não gây ra.

2. Sọ đầu hơi nhỏ hẹp so với bình thường, phần đỉnh đầu nhọn nhô cao, khe sọ khép lại quá sớm, gọi là đầu nhọn (H1-3), thường kèm theo trí lực giảm sút, đa số do thận tinh thiếu hụt bẩm sinh, sọ não phát dục không tốt gây ra. Cũng có thể do thời gian đã quá dài, sọ não bị tổn thương gây ra.

3. Phần trán nhô ra phía trước, hai thái dương nhô ra hai bên, phần đỉnh đầu bằng dẹt mà có hình vuông, gọi là đầu vuông, hay còn gọi là sọ vuông; sọ đầu không củng, ân vào như có tính đàn hồi, trẻ nằm ngửa lâu ngày có thể đẫn đến bẹt đầu dị dạng; trẻ thường nằm nghiêng một hướng, sọ đầu có thể có dạng không cân xứng, gọi là đầu lệch dị dạng. 3 loại đầu dị dạng trên đa số do thận tinh thiếu hụt bẩm sinh, hoặc quá trình xương sọ phát dục không tốt do mất điều hòa tỳ vị gây ra.

4. Cửa thóp trẻ em đóng sớm, đa số do đầu nhỏ dị dạng; cửa thóp đóng muộn, khe xương sọ không khép kín, thấy nhiều ở trẻ bị giải lư hoặc xương sọ sinh trưởng phát dục chậm (bệnh gù lưng). Hai dạng trên đa số do thiếu hụt bẩm sinh, hậu thiên bị tổn thương, xương bị mất nguồn bổ sung dinh dưỡng gây ra, có trường hợp liên quan đến bệnh tà xâm phạm đầu sọ.

5. Của thóp của trẻ bị lõm xuống, thấp hơn xương sọ, gọi là thóp hãm, đa số là hư chứng, như thổ tả thương tân dịch, khí huyết bất túc, hoặc tinh khí bất túc bẩm sinh, tủy não mất nguồn bổ sung dinh dưỡng..., đều có thể dẫn đến thóp hãm, Người nhẹ phải dùng ngón tay xoa sờ mới có thể cảm nhận được, người bị nặng thì nhìn cũng có thể thấy được.

6. Cửa thóp của trẻ nhô cao, sờ vào bề mặt có cảm giác căng thẳng rất rõ ràng, gọi là thóp điền, đa số thuộc thực chứng, phần lớn do ngoại tà xâm tập như bệnh ôn nhiệt cấp tính hỏa tà thượng công, hoặc phong nhiệt, phong thấp, hoặc thủy đình huyết ứ trong sọ... gây ra.

7. Sau khi ngoại thương, phần đầu sưng to cục bộ, là do phần đầu bị ngoại thương, mạch rách máu tràn, tích ứ dưới da gây ra. Sờ tay thấy chất cứng là máu ứ ít, sờ tay thấy chất mềm, có dao động là máu ứ nhiều. Nếu sờ xương sọ bị hãm lõm là bị võ xương sọ.

8. Theo một số tạp chí, sọ mặt người có các loại hình đỉnh tròn mặt tròn, tròn mặt elip, loại đỉnh tròn mặt vuông và loại đỉnh tròn mặt nhọn. Căn cứ vào đó có thể suy đoán khí chất của con người. Người có đầu đỉnh tròn mặt tròn khí chất thật thà phúc hậu, cần cù giỏi giang; đỉnh tròn mặt elíp, cá tính hoạt bát, tinh nhanh giỏi nói, giỏi biện luận; người đầu tròn mặt vuông tính cách đa số ổn định biết kìm chế, tính tình đại khái; người đỉnh đầu tròn mặt nhọn bẩm sinh tính lắm âm mưu, thành phủ khá sâu (H1-4).

Trong văn hiến cổ đại Trung Quốc có ghi: Hình đầu mặt có thể suy đoán khí chất và thọ yểu của con người. Như trong "Nội kinh" cho rằng: Người đầu nhỏ mặt dài màu xanh, loại người hình mộc, khí chất có tài, đa nghi, lao tâm thiểu lực, có khả năng về xuân hạ, kém về mùa thu đông; người hình mặt nhọn mà sắc mặt đỏ, thuộc người hình hỏa, tinh lực dồi dào, khí chất hướng ngoại, tư duy nhạy bén, tính nóng, không thọ bạo tử; người mặt tròn đầu to, thuộc loại người hình thổ, ổn định, đôn hậu, cần cù chăm chỉ; nếu mặt vuông sắc trắng, thuộc loại người hình kim, khí chất hướng nội, mắt sáng lắng đọng, giỏi việc quan hệ, có khả năng về mùa thu đông, kém về xuân hạ; mặt không bằng, sắc đen, đầu to là loại người hình thủy, tàng mà không lộ, tính cách gian xảo, giỏi về thu đông, kém về xuân hạ.

9. Người đầu mặt có dạng trên to dưới nhỏ là hình thang ngược, biểu thị thận tinh đầy đủ, nhưng dễ bị lưu tổn thận âm, bệnh tật về tâm thần bất yên, như chứng uất, không ngủ...; người đầu mặt trên nhỏ dưới to là hình thang thuận, biểu thị tỳ vị kiện vận, nhưng dễ mắc bệnh có tính tỳ vị hư nhược như là tiết tả, kém ăn...; người đầu mặt có dạng 2 đầu nhỏ giữa to rộng, biểu thị phế khí sung túc, nhưng lại dễ mắc bệnh thuộc phế âm bất túc, như ho, đau họng...; người đầu mặt có dạng dài vuông trên dưới bằng nhau, biểu thị tỳ tạng kiện vận, nhưng dễ mắc bệnh thuộc tính tỳ khí hư nhược, như gầy héo...

10. Da đầu mặt nóng đỏ sưng tấy, sắc như bôi son, ấn vào thấy phai màu, kèm theo đau đớn, gọi là bao đầu hỏa đơn, đa số do phong nhiệt hỏa độc thượng công gây ra, dễ bị tà độc nội hãm.

11. Đầu sưng to như cái đấu, mặt mắt sưng đầy, mắt không thể mở, gọi là dịch đầu to, do thời dịch thiên hành, độc hỏa thượng công gây ra.

12. Ghẻ lỏ da đầu, gọi là ghẻ kiến, đầu giun dữ, ghẻ nóng trẻ em, chuyên phát ở phần đầu to như hạt mơ, liền nhau dăm ba hạt, phá loét chảy mủ, miệng của nó không thu, lâu ngày xuyên rỗng da đầu, dạng giống như giun đất chui lỗ, đa số do thấp nhiệt thành độc, hoặc thử nhiệt gây ra.

13. Mụn lở phần đầu, do vị trí sinh mụn khác nhau nên tên gọi cũng rất nhiều, vô luận là ung nhọt đều phải biện chứng âm dương hư thực của nó, sinh ở gần huyệt bách hội thì gọi là nhọt bách hội hoặc tóc ngọc đỉnh, sinh ở phần tiếp cửa thóp thì gọi là nhọt thấu não, sinh ở gần huyệt thượng tinh, thì gọi là nhọt phật đỉnh hoặc là nhọt cửa đỉnh, sinh ở chính giữa trước trán gọi là nhọt trán, sinh ở huyệt vi thượng não hộ xương chẩm thì gọi là nhọt ngọc chẩm, sinh ở huyệt phong phủ gọi là não thước..., đều do đốc mạch tích nhiệt, hỏa độc ngưng kết mà thành, sinh ở gần điểm thấu não, gần huyệt ngũ sở gọi là nhọt câm não, sinh ở 2 góc trán trái phải gọi là nhọt cạnh trán (bàng ngạch ung) đều do bàng quang kinh thấp hỏa uẩn độc mà thành; sinh ở huyệt thái dương, gọi là não phát ung, sinh ở góc tóc mai gọi là nhọt mai, sinh ở xương cao sau hai tai gọi là nhọt yểu, nhuệ độc, đều do túc thiếu dương đảm kinh hoặc thủ thiếu dương tam tiêu kinh ngoại cảm phong nhiệt, nội thương thất tình, uất hỏa ngưng kết mà thành.

14. Quyền dương, quyền thư và quyền đinh đều sinh ở giữa xương gò má. Ban đầu nhỏ sau to dần như quả lựu, sưng đỏ dễ loét, người bị độc nhẹ gốc cạn, gọi là quyền dương, do phong nhiệt sinh ra, phát sinh ở phần dương.

Nếu màu tím sưng lan rộng mà cứng, khó loét khó khỏi, độc nặng gốc sâu, gọi là quyền thư, do tích nhiệt mà sinh ra, phát ở phần âm; nếu ban đầu như hạt thóc màu vàng mọng nước, sau đó như hạt đậu đỏ, đỉnh lõm cứng, ấn tựa như đầu đinh, gọi là quyền đinh, đa số do vị kinh tích hỏa thành độc mà sinh ra.

15. Sưng đỏ sinh ra ở xương vành má, hình giống đinh sang, 1 hoặc nhiều cái, gọi là phát độc mặt, do dương minh phong nhiệt thượng công mà thành; ban đầu phát màu đỏ to dần như quả lựu sinh ở giữa xương vành má, gọi là mụn má, đa số do vị kinh tích nhiệt mà thành.

16. Ung nhọt sinh ở giữa vành cong môi dưới gọi là tu hổ độc (nhọt râu họ) tựa như nhọt thì gọi là nhọt cằm, tựa như thư thì gọi là thừa tương thư, nếu gốc sâu hình tựa hạt đậu đỏ, nên trị theo đinh, do ăn nhiều thịt nướng, dẫn đến 2 kinh vị, thận tích nhiệt thượng công nhâm mạch mà thành.

17. Sang tổ yến sinh ở giữa râu cằm dưới, lúc đầu nhỏ như hạt thóc, to thì bằng hạt đậu, màu đỏ, nóng ngứa hơi đau, sau khi phá chảy nước vàng, hình giống sang nưốc vàng, thấm thành tấm nhưng tích tụ lại như mụn cơm, đa số do tỳ vị thấp nhiệt gây ra.

18. Da đầu rữa nát, ngứa gãi chảy nước, đa số tà thấp nhiệt xâm tập gây ra; da đầu tróc rụng vẩy trắng, dạng như trấu cám, rụng rồi lại sinh, gọi là đầu tróc mùn. Đa số do phong nhiệt hóa táo, thấp nhiệt sinh phong, huyết nhiệt hóa táo, độc tà xâm ngấm gây ra.

19. Đột nhiên sưng ở phần xương quai hàm vành má trước tai, nếu cơ bắp phù thũng mà không chạm đến xương, gọi là quai bị, là đo cảm nhiễm ôn nhiệt độc tà gây ra. Nếu phát thư ở cằm dưới xương gò má, trên xương quai hàm trước tai 1 tấc 3 phân, gọi là phát di, là kinh dương minh nhiệt độc thượng công gây ra.

20. Đầu xiên nghiêng lệch xuống, không có lực đỡ thẳng lên, gọi là khuynh đầu, hệ trung khí hư suy hoặc bể tủy thiếu hụt gây ra. Nếu đầu nghiêng kèm theo mặt vàng, thể nhược, khí đoản, thần bì (mệt mỏi) là trung khí hư nhược. Nếu đầu nghiêng kèm theo ù tai, điếc tai, lưng gốỉ đau mỏi, là bể tủy thiếu hụt. Ngoài ra, bị thương phần cổ vẫn có thể xuất hiện đầu nghiêng không thẳng được.

21. Đầu ngửa lên không hạ được, tròng mắt trơn ngược lên, gọi là đầu ngưỡng, thường thấy ở các bệnh nhân bị uốn ván hoặc trẻ em bị kinh phong cấp.

22. Đầu nghiêng sang một bên, khó quay trở lại, đa số do bị thương, cũng có thể thấy ở người bị u bướu ung nhọt.

23. Lắc đầu không thể tự khống chế được hoặc không tự chủ lắc đầu, gọi là đầu lốc, tục gọi là phong đầu lắc, hay còn gọi là độc đầu dao động, đa số là do bệnh phong hoặc khí huyết hư suy gây ra. Nếu lắc đầu chóng mặt, mặt đỏ miệng đắng, đa số là chứng phong dương thượng nhiễu; nếu lắc đầu phát sinh giai đoạn cuối bệnh nhiệt, kèm theo phiền nhiệt đổ mồ hôi trộm, lưỡi đỏ thiếu rêu lưỡi, đa số là hư phong nội động.

24. Nửa bên đầu mặt đổ mồ hôi, một nửa bên không có mồ hôi, đa số là lạc mạch không thông, doanh vệ bất hòa gây ra.

25. Đầu lạnh, tục gọi là não lạnh, tức là não bộ tự nhiên hàn lạnh, thích đội mũ hoặc quấn khăn bịt đầu, không chịu được hàn lạnh. Đa số do quyết âm trúng hàn hoặc đốc mạch hư hàn gây ra. Nếu phần đầu hàn lạnh, đau đỉnh đầu, muôn bịt khăn che áo, sắc mặt xanh xám, tứ chi tê lạnh, là quyết âm trúng hàn; nếu đỉnh đầu hàn lạnh, có thể lạnh đến cột sống lưng, chi lạnh sợ hàn, lưng gối đau mỏi, là đốc mạch hư hàn.

26. Đầu nhiệt, tức là phần đầu phát nhiệt tự nhiên, đầu nóng mặt đỏ, tâm phiền dễ nóng nẩy, sườn đau miệng đắng, là can hỏa thượng viêm; nếu nặng hơn nữa là âm tổn đến dương, âm dương lưỡng hư, có thể thấy đầu mặt nóng bừng (chỉ đầu mặt nóng rực, má đỏ tai thẫm), ra mồ hôi, tứ chi bất ôn; nếu đầu nóng má đỏ, họng đau mà phiền, hạ lợi thanh cốc, mạch vi muôn tuỵệt là âm thịnh cách dương.

27. Đau đầu, lấy mức độ khỏi bệnh nhanh chậm, bệnh trình mà nói, phàm là đau đầu bạo khởi, thế đau kịch liệt, bệnh trình hơi ngắn, đa số thuộc thực chứng, thường do tà trở kinh mạch, kinh khí mất lưu thông gây ra; đầu khi đau khi không, ngầm âm ỉ không hết, triền miên lâu ngày, đa số thấy hư chứng hoặc hư thực lẫn tạp, thường do khí huyết hao hư không thể tôn tưới cho đầu, hoặc lạc mạch ứ trở, hoặc gan dương thượng nhiễu gây ra.

Về tính chất đau đầu mà nói, đau đầu như kim châm, chỗ đau cố định, hoặc đau căng như muôn vỡ, có biểu hiện tiến triển nặng thêm, đa số là do chứng huyết ứ; đau đầu như thít chặt mà trầm trọng là phong thấp; đau đầu khá nặng, đau liền xuống gáy lưng, gặp phong hàn càng nặng hơn, là phong hàn; đầu đau thích lạnh, mặt đỏ mắt đỏ, là phong nhiệt; đầu đau như thít chặt, nôn mửa chóng mặt, là đờm trọc phạm thượng; đau đầu buồn nôn, khoang đầu nổi cục là tích thực; đầu não đau, lưng gối đau mỏi, là thận hư, đầu đau ngầm lâm râm, chóng mặt mắt đỏ, là huyết hư; đau đầu, sau khi vất vả càng đau nặng, là khí huyết hư hao; tố thể huyết hư, có thể do mất máu mà làm cho đầu đau nặng thêm, nếu phụ nữ sau khi hành kinh đau đầu hoặc sau khi mất máu nhiều dưới các tình huống khác mà xuất hiện đau đầu, đều là huyết hư không thể thượng vinh gây nên.

Về vị trí đau đầu mà nói, có thể kết hợp kinh lạc ở bộ vị phần đầu, phân biệt bệnh ở kinh nào. Nếu đau trước trán liền với cung lông mày, là bệnh thuộc kinh dương minh; nếu đau ở gần 1 hoặc 2 bên huyệt thái dương, là bệnh thuộc kinh thiếu dương; đau ở phần sau đầu, dưới liền với gáy lưng, là bệnh thuộc kinh thái dương; đau ở đỉnh đầu, hoặc đau liền với mắt, là bệnh thuộc kinh quyết âm, hoặc bệnh do đốc mạch; đau đầu liền với răng, là bệnh thuộc kinh thiếu âm. Ngoài ra, trong lâm sàng thường thấy một loại đau đầu cục bộ thiên về 1 bên, gọi là thiên đầu thống, đa số do can dương quá cao, hoặc ứ huyết trở lạc, hoặc hàn ẩm đình tụ gây ra. Thiên đầu thống thường tương đôi kéo dài, không dễ khỏi nhanh được.

Phát sinh đau đầu còn có liên quan đến bệnh tật ở ngũ quan, như xương mũi có thể gây ra đau trước trán hoặc sưng đau phần má mặt, khi cúi đầu thì càng trướng đau nặng hơn; người bị cận thị, đọc viết sách lâu ngày gây ra đau đầu, sưng mắt...; người bị lục phong nội chướng, khi phát tác thường gây ra đau đầu cùng bên; bệnh một bên tai, bệnh đau răng cũng thường gây ra đau đầu cùng bên (thiên đầu thống); ngoài những điều trên, nếu bị thiếu ngủ, mắt căng thẳng quá độ, lo nghĩ nhiều, căng thẳng hoặc không khí ô nhiễm đều là những nguyên nhân có thể dẫn đến đau đầu. Đại đa số là phát tác bỗng nhiên tính chất nhất thời, nói chung có thể hoãn giải.

28. Chóng mặt, là chỉ bệnh nhân tự cảm thấy vật thể xung quanh quay cuồng không ổn định, hoặc giống như khi ngồi xe thuyền chòng chành không ổn định, người bị nhẹ có thể nhắm mắt lại là hết, người bị nặng không thể ngồi yên hoặc đứng vững được. Chóng mặt khỏi bệnh dần dần và bệnh thế khá chậm, đa số thuộc chứng hư. Khỏi bệnh nhanh, bệnh tình hơi nặng, phần lớn là thực chứng. Bệnh chóng mặt trong lâm sàng đa số thấy chứng hư.

Ngươi bị chóng mặt sau mỗi lần vất vả mệt nhọc càng nặng hơn, đa số do khí hư, huyết hư hoặc hao tinh; chóng mặt do tức giận, âu sầu mà phát tác hoặc nặng thêm, đa số thấy đo can dương quá thịnh; chóng mặt hoa mắt mà kèm theo thấy ù tai như ve kêu, lưng gối đau mỏi, đa số là thận âm hao tổn hư dương thượng nhiễu; chóng mặt mắt đỏ, sườn đau dễ nóng tính, đa số là can hỏa thượng viêm; người chóng mặt hoa mắt, sắc mặt không tươi, đa số là khí hư hoặc khí huyết lưỡng hư; người bị chóng mặt mà hôn mê trầm trọng, đa số là đàm trọc thượng nhiễu.

Chóng mặt còn có liên quan đến một số bệnh về tai mũi, khi hỏi về bệnh sử, nên điều tra có bị tắc mũi, chảy nước mũi hoặc chảy mủ đường tai, ấn đau cục bộ hay không... Ngoài những điều nói trên, đói quá, uống rượu, hút thuốc, lên cao hoặc trải qua nguy hiểm, say xe say sóng, và cả bị ngộ độc một số loại dược vật, cũng có thể gây ra chóng mặt.

29. Căng đầu, tục gọi là não trướng, tức là tự cảm thây phần đầu căng ra như muốn nứt. Đa số do can hỏa thượng viêm hoặc thấp trở thanh dương gây nên. Nếu phát bệnh khi bực tức, đầu căng mà đau, choáng váng nóng bức, gân đầu nổi lên, là can hỏa thượng viêm; nếu đầu căng trầm trọng, như có vật thít chặt lấy phần đầu, bụng trướng nôn mửa, là thấp trở thanh dương.

30.  Nặng đầu, tục gọi là đầu trầm, là chỉ bệnh nhân tự cảm thấy phần đầu nặng nề; nếu đầu nặng mà đau, như có vật thít chặt, trời râm mưa càng nặng thêm, mũi tắc ác phong, là phong thấp thương trở; nếu phần đầu nặng nề, kèm theo căng đau, mặt đỏ thân nhiệt, tâm phiền não bức, là thấp nhiệt thượng mông; nếu đầu nặng chóng mặt, khoang ngực càng bức, buồn nôn thổ dãi, là thấp trở thanh dương; nếu phần đầu nặng nề, mơ mơ màng màng; sắc mặt không tươi, tinh thần mệt nhọc uể oải, là trung khí bất túc, đầu não thất dưỡng.

31. Ù não, còn gọi là đầu hưởng, hoặc đầu não u hưởng, tức là bệnh nhân cảm thấy trong đầu có trạng thái có tiếng u u cộng hưỏng. Nếu người bị não u mà chóng mặt, eo lưng gối chân đau mỏi, là bị tủy hư không, đầu não thất sung nếu nặng mà choáng váng thiếu ngủ lắm mộng, tinh thần mệt nhọc nạp kém, là tâm tỳ lưỡng hư, khí huyết không thể thượng vinh thanh khiếu; nếu não ù đầu nặng, như có vật thít chặt choáng váng buồn nôn, là thấp nhiệt thượng ủng (tắc nghẽn). Nếu não ù, mà mỗi lần bực tức càng nặng hơn, hai sườn trướng đau, lòng bức bổi khó chịu, chốc chốc lại than thở, là can khí uất trệ, can hỏa thượng công.

32. Tê dại da đầu, là chỉ da trên phần đầu không biết đau ngứa, mất cảm giác, một dạng trạng thái tê liệt. Nếu da đầu tê dại mà tê là chính, sắc mặt không tươi, chóng mặt tim đập nhanh, là huyết hư da đầu thất dưỡng gây ra; nếu da đầu tê dại, choáng váng chi thể mệt mỏi, buồn nôn thổ dãi, là đàm thấp trở lạc.

33. Kiện vong, là một loại biểu hiện suy giảm trí nhớ, là một trong những triệu chứng thường gặp về chứng suy thoái chức năng của não. Người bị nghiêm trọng thì nói năng không biết đầu đuôi, trong nháy mắt đã quên, đa số do thận hao tinh huyết thiếu hụt, không thể nhu dưỡng tủy não, hoặc do ứ huyết trở trệ gây ra; kiện vong mà mất ngủ, lắm mộng, mạch yếu, đa số thấy ở bệnh nhân tâm huyết hư, tâm âm hư; kiện vong mà kèm theo ít ăn mệt mỏi, bụng trướng tiện lỏng, đa số thuộc tâm tỳ lưỡng hư; kiện vong mà mệt mỏi lơi lỏng, khôn quẫn, tiếng đờm khò khè, đa số do đàm thấp nội thịnh gây ra.

34. Đần độn, là chỉ biểu hiện thần tình đờ đẫn, trí năng giảm sút, cũng là triệu chứng thường gặp về suy thoái chức năng của não. Trẻ em đần độn kèm theo phát dục chậm, đa số do thận tinh thiếu hụt bẩm sinh, biểu hiện tình cảm đờ đẫn, động tác chậm chạp, hoặc cứ lẳng lặng không nói gì, hoặc cứ lầm rầm một mình, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch huyền hoạt, đa số do đàm trọc che trùm thanh khiếu. Ngoài những điều trên, ứ huyết, tà nhiệt, cũng có thể gây ra sự đờ đẫn khác thường về tinh thần ý thức, hoạt động tư duy, có thể kết hợp nguyên nhân bệnh và triệu chứng kèm theo để biện chứng phân biệt.

[Nghiên cứu hiện đại]

Y học hiện đại cho rằng, mức độ to nhỏ của đầu lấy số đo chu vi đầu để định lượng (khi trắc lượng lấy thước dây đặt giữa 2 lông mày vòng quanh đầu đi qua phần nhô cao của xương chẩm), sự thay đổi chu vi đầu qua từng giai đoạn phát dục là: Khi mới ra đời khoảng 34cm, sau khi ra đời nửa năm tăng khoảng 8cm, trong nửa năm sau tăng khoảng 3cm, trong năm thứ 2 tăng khoảng 2cm, trong năm thứ 3 thứ 4 táng khoảng 1.5cm, từ 4 - 10 tuổi tổng số tăng thêm khoảng 1.5cm, đến năm 18 tuổi có thể đạt đến 53cm trở lên, sau đó không thay đổi nữa. Khe dạng mũi tên và đại bộ phận các khe sọ khác, trong vòng 6 tháng sau khi ra đời đều xương hóa hết, xương hóa quá sớm sẽ ảnh hưởng đến phát dục của não. Sự to nhỏ khác thường hoặc dị dạng của sọ đầu có thể trở thành một số thể chứng điển hình của bệnh tật. Nếu đỉnh sọ nhọn nhô cao thì gọi là sọ nhọn hoặc sọ tháp, thường cùng với khuôn mặt tạo ra tỷ lệ khác thường, đây là do khe hình mũi tên và khe kiểu mào khép lại quả sớm gây ra, thường thấy ở những trường hớp sọ nhọn đồng thời ngón tay, ngón chân bị dị dạng, tức là hội chứng Aperit; hai bên trái phải trước trán nhô ra, đỉnh đầu bằng thấp thành hình vuông, gọi là sọ vuông, thường thấy ở trẻ em bị bệnh gù lưng hoặc bị giang mai bẩm sinh; trán, đỉnh, thái đương và phần chẩm nhô ra bành to thành hình tròn, tĩnh mạch phần cổ tràn đầy, so với phần mặt ở dưới rất nhỏ, gọi là sọ to, thường kèm theo hai mắt nhìn xuống, biểu hiện tình cảm đặc thù của củng mạc lộ ra ngoài, gọi là hiện tượng lạc nhật, thường thấy ở não tích nước. Sọ biến hình, thấy ở người trung niên, đặc trưng là thấy xương sọ to ra đồng thời kèm theo chất xương của xương dài dầy lên và cong gấp, thường thấy ở bệnh viêm xương biến dạng (bệnh paget); hoạt động của phần đầu bị hạn chế, thường thấy ở bệnh cột sông cổ; phần đầu không thể chuyển động theo ý muôn, thường thấy chấn động tê liệt; thường vận động gật đầu theo nhịp đập của động mạch cổ, thấy ở một phần động mạch chủ nghiêm trọng không đóng kín hoàn toàn.

Học giả Nhật Bản phân chia phần khuôn mặt thành 3 khu vực, tức là từ lông mày trở lên là thượng đình tướng não, từ lông mày đến giữa phần lỗ mũi là trung đình tướng hô hấp, từ lỗ mũi trở xuống là hạ trung đình tướng tiêu hóa. Tức là kiểu tướng não là người có hình đầu mặt trên to dưới nhỏ là hình thang ngược, biểu thị trí lực tương đối phát đạt; kiểu tiêu hóa là loại người có khuôn mặt trên nhỏ dưới to, kiểu hình thang, cho biết hệ thông tiêu hóa của loại người này khá tốt; kiểu cơ bắp là loại ngưòi có khuôn mặt dạng dài trên dưới bằng nhau, biểu thị năng lực vận động khỏe; (mà loại mặt hai đầu nhỏ giữa rộng to là loại hình hô hấp, biểu thị năng lực hô hấp tốt), về phương diện dự báo bệnh tật, người loại hình tướng não do tự kìm chế trí mạnh mà quá lạm dụng, cho nên dễ bị suy nhược thần kinh, mất ngủ, đau đầu, và bệnh tinh thần...; người kiểu tiêu hóa thường do ăn quá độ nên dễ bị trướng bụng, ỉa chảy...; người kiểu hô hấp do thể tráng tích nhiệt nên dễ bị viêm họng, đau họng, viêm khí quản; người kiểu cơ bắp do cơ thế khỏe mạnh mà quá lao lực nên dễ bị viêm các khốp và các bệnh cơ bắp, H1-5 là sơ đồ phân bố huyệt vị châm cứu da.

Các nhà y học hiện đại trên cơ sở phương pháp chẩn đầu đã nghiên cứu phát triển rộng rãi châm đầu. Vào nàm 1958 lần đầu tiên phát hiện định vị vị trí châm chích chức năng chất màng đại não, xác định điểm kích thích đặc định hình chiếu trên bề mặt da đầu để điều trị bệnh toàn thân. Từ năm 1970 đến nay lại phát hiện vị trí tương đốĩ của khe dạng mào và khe dạng mũi tên, khe chữ và vị trí đường chân tóc trên trán có rất nhiều bộ vị có liên quan đến trị bệnh toàn thân, có những điểm kích thích có công hiệu đặc thù. Nếu dùng một đường dây nối liền những điểm kích thích này lại với nhau, liền tạo thành 1 hình cơ thể người thu nhỏ có dạng khe hình mào, khe hình mũi tên và khe hình chữ , và một hình người thu nhỏ ở phần tiếp xúc tóc trên trán (H1-5). Ta có thể phân chia da đầu ra thành nhiều khu vực như khu vận động, khu cảm giác, khu khống chế vũ đạo chấn rung, khu co giãn mạch máu (cao huyết áp), khu nghe, khu ngôn ngữ 2, khu ngôn ngữ 3, khu vận dụng, khu túc vận cảm, khu nhìn, khu bình hoành, khu vị, khu can đảm, khu hoang ngực, khu sinh dục và khu ruột..., châm chích ở các khu vực khác nhau như trên đây trình bày có thể điều trị bệnh tật của tạng phủ tương ứng và chức năng của nó.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 2: Chương 1.

Quan tâm  
4

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Nấm Độc Trắng Hình Nón - Amanita Virosa
Khi bị ngộ độc Nấm Độc Trắng Hình Nón (Amanita Virosa) bệnh nhân sẽ đau bụng, buồn nôn, nôn dữ dội, khát dữ dội và ỉa chảy kéo dài 2-3 ngày, sau đó người bị ngộ độc sẽ bị co giật, mất ý thức, tổn thương gan thận, hôn...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Tùng Lam - Isatis Tinctoria
Theo các nhà nghiên cứu tại Viện thí nghiệm cây công nghiệp ở Bologna (Ý), trong cây Tùng Lam (Isatis tinctoria) có chứa một lượng lớn glucobrassicin (GBS), một chất có khả năng chống ung thư và hiện được sử dụng như nguồn dược liệu...
Triệu Chứng Và Cách Xử Lý Khi Ngộ Độc Tetrodotoxin
Tetrodotoxin rất độc với thần kinh, ức chế kênh natri, đặc biệt ở cơ vân, ngăn cản phát sinh điện thế và dẫn truyền xung động, hậu quả chính là gây liệt cơ và suy hô hấp, dễ tử. Để được cứu sống, bệnh nhân cần được đảm...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Điềm Qua Tử
Điềm Qua Tử là hạt quả Dưa Bở có vị ngọt, tính hàn; có tác dụng tán kết tiêu ứ, thanh phế, nhuận tràng. Được dùng Trị ho do nhiệt, miệng khát, suy giảm chức năng ở ruột và phổi, táo bón; trị đờm; giúp nhuận tràng.
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.