Thứ ba, 21/08/2018 2:43 PM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Bàn Tay

Thứ bảy, 10/02/2018 11:57 AM

Bàn tay bao gồm lòng bàn tay (âm chưởng), trong đó chủ yếu chẩn đoán vân tay, vân ngón tay, sắc trạch bàn tay; lưng bàn tay (dương chưởng) bao gồm vân da và móng tay, và gân mạch trên bàn tay. Quan sát những thông tin ấy ở trên bàn tay rồi tìm ra bệnh lý được gọi là Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Bàn Tay.

Quan sát vân tay, sắc diện,... bàn tay để chẩn đoán bệnh tật là phương pháp chẩn bệnh của Đông Y.

I.  PHUƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BÀN TAY

Chẩn đoán bàn tay bao gồm lòng bàn tay (âm chưởng), trong đó chủ yếu chẩn đoán vân tay, vân ngón tay, sắc trạch bàn tay; lưng bàn tay (dương chưởng) bao gồm vân da và móng tay, và gân mạch trên bàn tay. Do bởi các phương pháp chẩn đoán bàn tay có những tính đặc thù riêng, trong nghiên cứu hiện đại cũng đã có nhiều phương pháp mới, độc đáo, sâu sắc. Vì vậy xin nêu riêng từng phần và thảo luận riêng từng phương diện để độc giả tiện tham khảo.

Từ xa xưa, trong "Nội kinh" cũng đã chú ý đến ý nghĩa quan trọng của những đường vân tay, đồng thời cũng đã vận dụng trong chẩn đoán học lâm sàng. "Linh khu. Ngũ biến" có nói: "Vân thô mà thịnh không cứng, hay bị bệnh tê liệt". "Linh khu. Vệ khí thất thường" nói: "Người vân thô, thân hàn, người vân mịn, thân nhiệt". Qua các thời kỳ triều đại lịch sử, con người đã nhận thức được rằng, vân ngón tay của người ta không hoàn toàn giống nhau, vì thế người ta đã vận dụng nó để điểm chỉ vào khế ước và những giấy tờ cần thiết để làm bằng chứng.

Giới y học cũng rất coi trọng những ý nghĩa quan trọng của sự thay đổi vân tay, đi sâu nghiên cứu và phát hiện thấy vân tay của người ta có liên quan đến yếu tố di truyền và nhiễm sắc thể. Và hình thành bộ môn vân da học, chuyên nghiên cứu về hình thái, đặc trưng, chức năng và ứng dụng lâm sàng của hệ thống vân da, đặc biệt là vân tay.

Các nhà nghiên cứu y học đã phân chia các khu phản xạ lên bàn tay của các cơ quan cơ thể và ngũ tạng lục phủ theo các sơ đồ sau đây. Tuy mỗi người có cách phân chia quan sát có phần khác nhau, nhưng trên cơ bản đại thể giống nhau nhiều điểm. Xin giới thiệu một số phương pháp điển hình.

II. SƠ ĐỒ ĐỊNH VỊ MẬT MÃ TOÀN BỘ TIN TỨC

Giáo sư Vương Đại Hữu ở Trung Quốíc, có biệt hiệu là Thiệu Hoa Tử, cũng nêu khá tỷ mỉ các sơ đồ định vị mật mã toàn bộ tin tức bao gồm xích đảo tượng (hình đảo ngược bên xích, tức là bên ngón út), nhiêu đảo tượng (hình đảo ngược bên nhiêu); xích đảo tạng (tạng phủ đảo ngược bên xích) và nhiêu đảo tạng (tạng phủ đảo ngược bên nhiêu, tức là bên ngón cái), ông còn nêu sơ đồ cụ thể các khu phản ứng ngũ tạng lục phủ và toàn bộ cơ quan phần thân trên bàn tay, (xem các sơ đồ sau).

Nhiêu đảo tượng và xích đảo tượng là hình thể quay lưng trở lên, lấy cốt cách tứ chi là chính. Cột sống là trục trung tâm, ngón cái và ngón út là 2 cánh tay, ngón trỏ và ngón vô danh là 2 chân, là toàn bộ tin tức đối ứng của mật mã sinh mệnh. Vừa đúng với hai hình tượng đảo nghịch.

Là lược đồ phân bố các tạng phủ cơ thể, để xác định mối quan hệ đối ứng giữa nội tạng cơ thể với thể vị, để tiện cho việc chẩn đoán tìm bệnh vị trong cơ thể.

Theo các sơ đồ mật mã toàn bộ tin tức sinh mệnh của giáo sư Vương Đại Hữu thì khi xem tay trái để chẩn đoán bệnh tật cơ quan tạng phủ ở phía bên phải và ngược lại, đường đậm vòng quanh gò ngón cái từ hổ khẩu xuống cô tay là đường sinh mệnh, hay còn gọi là đường ngư tế; đường xuất phát cùng đường sinh mệnh đi về hướng gò nguyệt là đường trí tuệ, biểu thị hệ thống tim mạch là chính, đường xuất phát dưới gò ngón út đi về phía gò ngón trỏ và giữa là đường tình cảm, biểu thị hệ thống thần kinh là chính.

Những điểm cần chú ý:

1. Hợp cả 3 ngón giữa là đầu, lấy ngón giữa làm trung tâm, 2 ngón bên là phụ, ý nghĩa như nhau. Nếu hơi cong đốt thứ nhất của 3 ngón đó, thì phát hiện thấy đều là 1 con mắt, mắt đó chính là ở đốt thứ nhất ngón trỏ. Đốt thứ nhất ngón vô danh là huyệt gan, cũng là khai khiếu ở mắt, cũng là một con mắt.

2. Đốt thứ nhất của ngón út là huyệt mệnh môn, đốt thứ 2 là huyệt thận. Thận chủ vể xương, chủ về tai, hiển hình ở tai.

3. Gò ngón út chủ về hệ thống sinh dục nam, nữ ở đó có đường tử tức (đường con cái), hiển thị chức năng tính dục. Vì vậy các đường vân như đường con cái, đường hôn nhân, đường tình cảm, đường thanh xuân trưởng thành đều tập trung ở đây.

4. Các gò như gò địa ở phía dưới ngón cái, gò nguyệt, đồng thời lấy gò địa làm trung tâm ở phía trên đường vân cổ tay, là khu chủ về sinh dục. Phàm là các khu vực nằm trên trục trung tâm đều là các khu chủ về các tạng phủ.

5. Khu ở dưới gò ngón giữa là khu phổi, khoang ngực 2 phổi phải trái nằm ở đó, khu cơ quan hô hấp ở ngón cái tay trái biểu thị phổi bên phải và mũi, họng khí quản bên phải. Dưới gò nguyệt là toàn bộ hình phổi, nhưng biểu trưng chức năng phổi phải của cơ thể, tay phải ngược lại vói tay trái. Khu phổi ở trên đường sinh mệnh cũng có ý nghĩa như vậy.

6. Tâm trạng là khu chủ về tim trên đường trục trung tâm. Tâm trạng ở phía trên gò ngón cái, cũng là khu vị đốì ứng ngược lại với trên cơ thể.

7. Các vị trí của dạ dầy, hành tá tràng, tụy và túi mật, gan cùng thuộc một thể ở đoạn trên đường sinh mệnh, chỉ có điều là tay trái là lá gan phải, mà tay phải là lá gan trái.

8. Khu chủ về dạ dầy, ruột, tiêu hóa và bài tiết trên đường trục trung tâm đối ứng với đường sinh mệnh. Tuy đây là những lược đồ, nhưng rất có ích trong thao tác thực tế, dựa vào sơ đồ định vị này có thể thăm chẩn được các bệnh tật chủ yếu ở các tạng phủ. Kết hợp với mật mã quy định, lại kết hợp với sự biến lượng, định lượng và vị trí lưu niên trên diện tượng và thủ tượng (biểu hiện của bàn tay) của mật mã sinh mệnh, thì có thể quan sát thấy những thay đổi rất nhỏ của mọi triệu chứng. Qua thực tiễn càng nhiều, quan sát càng tỷ mỉ, càng phát hiện ra nhiều quy luật, nhận thức được càng nhiều bệnh trạng.

Đối với các mật mã vân tay biểu thị tình hình thay đổi bệnh trạng. Xin cung cấp một số nét cơ bản sau:

Khi trên các đường vân tay cơ bản và các khu, gò... xuất hiện cốc đường vân như sau:

Các đoạn cuối của sự xuất hiện các đường vân chưa được khép kín, là biểu thị xuất hiện triệu chứng thay đổi và bắt đầu hình thành bệnh. Thời điểm này có thể bạn không cảm nhận thấy có sự thay đổi nhỏ nào trong cơ thể, mà cụ thể là vị trí xuất hiện tín hiệu đối ứng với tạng phủ.

Khi các đường vân nhánh đã khép kín thành hình mắt kính  , hoặc hình thoi  , hoặc hình cá  là bệnh đã hình thành và phát triển. Khi xuất hiện vân ô bàn cờ , hoặc hình vuông, chữ nhật , và có tia ra ngoài như râu lúa, là bệnh cũ tái phát và phát triển. Các vân hình tròn hoặc hình bánh xe là biểu hiện bệnh tình nặng thêm, nhất là màu sắc càng đen tối càng nặng.

Ngoài ra khi chẩn đoán tình trạng bệnh cần phối hợp sắc trạch tại khu vực xuất hiện vân tay khác thường theo quy luật các màu sắc cơ bản theo ngũ hành của các tạng phủ, như phần đầu đã giới thiệu. Khi thao tác chẩn đoán chúng ta cần nắm vững thêm về thời gian vận hành biến lượng của mật mã vân tay, để có thể xác định thời gian xuất hiện bệnh, hình thành bệnh để dự báo diễn biến và phát triển của bệnh. Có thể dựa trên sơ đồ tọa tiêu đơn giản trên cơ sở kết hợp tướng thuật và trung y.

Dựa trên 2 sơ đồ tọa tiêu lưu niên (năm hạn) để xác định thời gian bị bệnh. Chủ yếu là trên bàn tay, khi thao tác chẩn đoán phải xem cả 2 tay. Trên trục cắt ngang từ gốc ngón út đến giữa gò kim tinh (ngũ tế) ABC, cắt ngang qua các đường vân, tại các điểm giao nhau đó tương đương thời gian 35 tuổi tính từ điểm xuất phát của các đường vân. Lưu niên (cái mà mọi người vẫn gọi là năm hạn) chính là thời gian biến lượng, là một chu kỳ lớn của sự vận động sinh mệnh. Trong chu kỳ lớn đó có từng khu đoạn của sinh mệnh như sinh, trưởng, tráng, lão, bệnh, tử..., gọi là túc vị, chính là điểm dừng chân của sự vận động tin tức sinh mệnh. Mỗi điểm dừng chân đó chính là định lượng của mật mã sinh mệnh, nó hiển thị trạng thái cục bộ hoặc toàn bộ tình trạng sinh mệnh ở giai đoạn đó, và cũng là vận thế ở giai đoạn đó, hay nói rằng xu thế phát triển của sinh mệnh ở giai đoạn đó. Quan sát và giải thích tình trạng sức khỏe và bệnh tật, vận mệnh theo xu hướng đó là có cơ sở khoa học.

1. Lưu niên ở vân tay, vân là trạng thái tự nhiên của tổ chức cơ thể. Chúng ta muôn tính toán và tìm hiểu sâu sắc và làm cho trình tự của trạng thái tổ chức tự nhiên được phơi bày ra giữa ánh sáng, để ai nhìn vào cũng đều hiểu. Chính là đưa ra những số cứ quan trọng vể cái chữ "số" của hệ thống khí, tượng, số, lý của mật mã sinh mệnh. Chỉ tiêu số hóa của trạng thái sinh mệnh con người được hiển thị trên vân tay, là mật mã hóa năm hạn. Cho nên, xác định quy luật lưu niên ở vân tay, là có thể biết được các nhóm năm hạn của trạng thái sinh mệnh có liên quan ở vân tay. Điều mấu chốt là xác định rõ đầu, cuốĩ của các đường, các vân, mới có thể tiến hành định vị và suy đoán.

- Đường sinh mệnh khởi điểm ở hổ khẩu, giữa ngón cái và ngón trỏ, xác định tổng thể sinh mệnh, sức khỏe, lưu niên của một con người (đường số 1 - H2-7).

- Đường ngọc trụ khởi điểm từ phía trên vân cổ tay ở giữa gò địa tinh kéo dài lên phía dưới gò ngón giữa (gò thổ tinh). Đường này chủ yếu biểu thị sự thay đổi lưu niên của trạng thái chức năng của ngũ tạng lục phủ đường số 2 (H2-7).

- Đường trí tuệ khởi điểm cùng với đường sinh mệnh và kéo dài về phía gò nguyệt tinh, biểu thị lưu niên hệ thống sức khỏe thuộc tim, não và tuần hoàn máu đường số 3 (H2-7).

- Đường tình cảm xuất phát từ cạnh ngoài gò ngón út (gò thủy tinh), biểu thị vể hệ thống tâm lý, tình chí, hệ thống thần kinh trung ương, chức năng tính dục, hệ thống sinh dục... đường số 4 (H2-7).

- Cách tính khởi vận và chuyển vận thì tính trên đường sinh mệnh từ đoạn cuối ngược lên về phương diện này tôi chỉ giói thiệu mà không thảo luận cụ thể.

(Đường sinh mệnh H2-6)

Có một số điểm cần chú ý khi xác định thời gian biến lượng: Trên đường tình cảm xuất phát từ gò thủy tinh, trên thực chất đây là một đường biểu thị sự trưởng thành giới tính, trên nguyên lý tình cảm là từ giới tính thấy sắc, từ sắc sinh tình, từ tình sinh cảm ứng mà yêu. Nữ giới thường khoảng 14 tuổi bắt đầu có kinh, nam giới khoảng 16 tuổi xuất tinh lần đầu tiên. Vì vậy khởi điểm của đường này không phải là 1 tuổi mà là từ 16 - 20 tuổi, từ đó tính lên.

Từ góc độ sinh lý nhìn đường trí tuệ, ở đoạn cuối khu lao cung là khu chức năng cơ quan tim, ở khu hợp với đường sinh mệnh là khu thần kinh não, còn các khu vị khác là cột sống và tuần hoàn máu, biểu thị năm phát sinh bệnh do di truyền bẩm sinh, bắt đẩu từ đoạn khởi điểm tính thời thơ ấu đến cuối đường là lão niên. Tuy vậy, do bởi mỗi người chúng ta đều có hình thù tay và các đường vân khác nhau, cho nên khi thao tác chẩn đoán cần vận dụng linh hoạt từng phạm vi cụ thể. Qua thực tiễn nhiều sẽ có kinh nghiệm để xác định chính xác.

VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH.

Trên hình bàn tay ta thấy đường trí tuệ tay trái có hình đảo (mắt kính) lớn (a), đường trí tuệ tay phải có 2 hình đảo liền nhau, ngón tay trỏ và ngón giữa hình dùi trống (c), đường sinh mệnh dài, sâu, đường trí tuệ và đường tình cảm đều thô to, sắc trạch hồng nhuận, biểu thị thể chất bẩm sinh tốt, thể lực sung mãn. Tuy thế lực bẩm sinh tốt, nhưng căn cứ vào vân đảo trên đường trí tuệ biểu thị đã bị bệnh về mạch máu não, trước 35 tuổi ít nhất đã 2 lần bị bệnh tật ở bộ phận não, cho đến nay chưa giảm sút. Xu thế tiếp tục phát triển. Trên đường trí tuệ có vân hình tam giác (d), xung quanh có vân chữ + nhỏ, biểu thị mắt đã hỏng, thần kinh thị giác quá tải, quá mệt nhọc, mắt bị sung huyết lâu ngày có xu thế tổn hại thêm thần kinh thị giác.

Theo sơ đồ ví dụ ta thấy:

1. Bệnh động mạch vành, triệu chứng báo trước bệnh tim do phong thấp

1. Khu dạ dầy trên đường sinh mệnh tay trái có vân hình thoi <>, có vân hình chữ A với đường trí tuệ (tay phải cũng vậy), biểu thị bị viêm dạ dầy mạn tính.

2. Khu hô hấp trên đường sinh mệnh hai tay đều có vân chữ A, bị viêm mũi, họng mạn tính.

3. Ở đoạn từ 35 - 60 tuổi trên đường sinh mệnh có vân đảo và có đường phân nhánh rẽ xuống, biểu thị tình hình sức khỏe ở giai đoạn này suy giảm rõ rệt.

4. Đoạn đầu đường ngọc trụ, phía dưới phần đường viền gò nguyệt tinh có vân đảo liên tiếp giao nhau với khu lao cung, biểu thị tâm thận bất giao, tâm khí và thận khí lưỡng hao.

5. Đoạn cuối đường trí tuệ có vân đảo, gần khu đầu của xích đảo tượng phía dưới gò nguyệt tinh tay trái có vân đảo liên tiếp, biểu thị có bệnh sử đau đầu, bắt đầu từ nhỏ, hơi động não là đau đầu, bên trái nặng hơn bên phải.

6. Ở giai đoạn từ 34 - 45 tuổi, các triệu chứng đau đầu, mất ngủ, lắm mộng nặng thêm. Khả năng những năm cuốỉ đời bị huyết áp cao.

7. Trên đường tình cảm ở giai đoạn 36 - 48 tuổi liên tục có vân đảo, biểu thị bị bệnh tâm não, mạch máu, ở trên 2 tay có nhiều điểm thấp khí, thêm nữa lại có vân đảo trên đường trí tuệ, biểu thị bệnh tim do phong thấp.

Trên 2 đường sinh mệnh tay trái và phải, ở đoạn từ 40 tuổi đến 60 tuổi có đường sinh mệnh phụ (tay phải rõ hơn), biểu thị tuy thể lực có xu thế suy giảm, nhưng có khả năng tự hồi phục mạnh, vượt qua nguy khốn, tự hồi phục được sức khỏe. (Phàm những người có đường sinh mệnh phụ đều có khả năng đề kháng tự hồi phục mạnh). Trên hai tạy có nhiều điểm thấp khí là do công tác nơi ẩm thấp thiếu ánh sáng lâu ngày bị bệnh phong thấp, các nốt tự tróc da bong thoát.

2. Các triệu chứng báo trước thời kỳ đầu của bệnh:

1. Khe ngón tay trỏ và ngón giữa có màu da vàng, chứng tỏ hay hút thuốc lá.

2. Trên tay phải ở gò địa tinh có đường dạng vòng cung từ gò nguyệt tinh cắt ngang đường sinh mệnh, đường này gọi là đường phóng túng. Trên đường này có hình vân vuông và chữ nhật, biểu thị nghiện thuốc, nghiện rượu quá độ, gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe. Bệnh trạng phát triển sẽ xuất hiện đường vân ngang, vân đảo hoặc vân chữ thập +, toàn bộ bàn tay sẽ có các vết tạp ban, đặc biệt là ở gò nguyệt tinh xuất hiện điểm màu vàng và màu đỏ, là triệu chứng báo trước bệnh gan, cần phải lập tức cai thuốc, rượu.

3. Khi có triệu chứng viêm gan, trên móng tay ngón cái và ngón trỏ sẽ xuất hiện rãnh ngang. Thường thì khi bị bệnh nặng, bị ngoại thương, phẫu thuật thì trên móng tay ngón cái sẽ xuất hiện rãnh ngang, rãnh ngang xuất hiện từ gốc móng, khoảng 6 tháng thì ra đến đầu móng, do đó căn cứ vào vị trí rãnh ngang có thế xác định thời gian bị bệnh tật mới hay lâu. Ngón trỏ chủ về chức năng gan, cho nên trên móng ngón trỏ có rãnh ngang là biểu thị có chứng viêm gan. Còn trên ngón trỏ cái có rãnh ngang là biểu thị sức đề kháng toàn thân bị suy giảm, hoặc có chứng viêm hệ thống tiêu hóa.

4. Đường tình cảm dưới gò ngón út có nhiều đứt đoạn, lại có nhiều đoạn dọc ngắn cắt qua, đều biểu thị dễ bị cảm nhiễm bệnh về phương diện gan. Chú ý: Trên 2 má, phần trán và xung quanh môi miệng xuất hiện vết ban gan màu vàng nâu, biểu thị bị viêm gan mạn tính (xơ cứng gan cũng có vết ban như vậy).

3. Ung thư gian thời kỳ đầu:

Tự cảm thấy mệt mỏi kém lực, sốt nhẹ, buồn ngủ, nặng đầu, sắc mặt màu sắt xanh, bất thần giật mình hoảng hốt.

1. Đường tình cảm thô đậm, chứng tỏ rất trọng tình cảm, nhưng trên đường tình cảm có nhiều đứt đoạn, biểu thị tính tình nóng nẩy, hay cáu gắt, bạo nộ thương gan, lại có nhiều đoạn nhỏ ngắn cắt qua đường tình cảm.

2. Trên gò ngón út có vân dạng mạng lưới, gò nhô cao, đường tình cảm ở đoạn này đứt đoạn.

3. Gò kim tinh và gò nguyệt tinh chuyển màu đỏ; có nhiều điểm màu đỏ dày đặc (nếu ban điểm có màu tím hoặc màu nước trà thì bệnh tình nặng hơn).

4. Đường sức khỏe cạn nhạt, nhìn như nước chảy mênh mang, biểu thị chức năng thận cũng đã xuất hiện vấn đề, chức năng bài thải chất độc suy giảm.

Chú ý: Nếu các đường vân chủ có màu vàng, da biến vàng, mắt vàng khô, chính là hoàng đản do viêm gan. Nếu khi ngủ trên giường lăn xuống tê dại mà không biết, là khả năng xơ cứng gan chuyển sang ung thư gan.

- Trên gò mộc tinh (ngón trỏ) có vân hình thoi (tay phải), biểu thị lá gan bên trái bị viêm.

4. Ung thư gan giai đoạn giữa

1. Ở gò ngón trỏ tay phải (mộc tinh) có một vết ban màu nâu, ở vị trí khoảng 40 tuổi trên đường sinh mệnh có vết ban màu nâu, dự đoán bị bệnh gan lâu ngày, đã chuyển sang ung thư gan.

2. Ở phía dưới đường sinh mệnh tay trái có hình vân hình thoi biểu thị bệnh ác tính, lồng trên đường sinh mệnh, bên cạnh lại có 1 vân hình đảo, biểu thị bệnh gan mạn tính và phát triển ở giai đoạn 38 - 42 tuổi, từ 42 - 45 tuổi chuyển ác tính sang ung thư.

3. Đoạn dưới chỗ phân rẽ của đường sinh mệnh tay phải có nhiều nốt điểm như hạt thóc nổi lên rõ rệt, biểu thị bệnh ung thư gan lâu năm; biểu thị bệnh gan lâu ngày chuyển sang ung thư.

4. Đường trí tuệ tay trái bị đứt đoạn, mà còn cạn nhạt dần không rõ ràng, biểu thị chức năng tạo máu bị trở ngại, đã nguy hại đến hệ thống tim.

5. Toàn bàn tay có màu tím đỏ, vết ban sâu thêm, lại còn phủ lên một lốp khí vàng.

5. Ung thư gan giai đoạn cuối bụng trướng nước:

Bệnh tượng:

1. Sắc mặt màu xám đất, không có huyết khí, đã lâm vào tình trạng hấp hổi.

2. Hai tay dày đặc các ban điểm màu ám tối, là loại chu sa chưởng, thuộc đặc chứng bệnh gan nghiêm trọng.

3. Có vết ban màu nâu to bằng hạt đậu xanh ở phía dưới đường tình cảm, đây là tín hiệu hung hiểm của bệnh ung thư gan. Vì vết này xuất hiện ở gần vị trí thận và hệ thống tiết niệu, biểu thị chứng ung thư đã thâm nhập vào hệ thống thận tiết niệu, do xơ cứng gan nên bụng trướng nước,chức năng bài thải độc toàn thân đã bị vô hiệu hóa, chức năng suy kiệt, không thể cứu trị.


6. Ung thư mạch máu giai đoạn cuối:

1. Bệnh tượng: Hai mắt lồi ra, phần mặt bên trái sưng to, cổ cũng trông rất thô, không cân xứng, sơ đoán là giáp kháng (tuyến giáp trạng), đoạn dưới đường sinh mệnh có một vết ban màu nâu tối to bằng hạt đậu xanh, ở dưới gò ngón trỏ (mộc tinh) có tín hiệu bệnh ở phần gan mật, chẩn đoán hệ thống tạo máu bị ung thư. Tay phải bị biến dạng thô to, ngón cái sưng to khác thường, ngón trỏ to như củ cải, đốt giữa biến dạng cong vào phía bên trái, nửa bên phải của ngón giữa cũng sưng to, chẩn đoán tế bào ung thư đã mở rộng về phía bên trái cơ thể lây cột sống làm trung tâm.

2. Vân chẩn:

Hỏi: Tay phải bị biến dạng từ bao giờ?

Đáp: Đã 4 - 5 năm rồi. Càng ngày càng nặng hơn.

Hỏi: Vết ban này là do cái gì gây ra?

Đáp: Do đinh đâm vào.

Bác sĩ: Không đúng, vết đinh đâm không phải như vậy.

Bệnh nhân: Tôi dùng dao gọt hết nó lại lên.

Bác sĩ: Đúng như vậy, tự nó sinh ra, mấy năm rồi.

Bệnh nhân: 4 - 5 năm rồi.

Vết ban nâu này là gốc của bệnh, là tín hiệu về hệ thống tạo máu của gan và hệ thống giải độc của mật đã bị bệnh, bệnh ở hệ thống động mạch bên trái, là bệnh trong máu, theo sự tuần hoàn của máu mà gây nghiêm trọng đến hệ thống gan mật, tỳ vị, phổi, khối ung thư ở khoang miệng là phần hiển lộ bên ngoài, tim và mạch máu não cũng đã bị xâm nhập gốc bệnh không phải ở khoang miệng, mà ở gan, đã xuất hiện phong thấp, xương bị biến chất, ung thư nhập vào gan, lan đến tim não, đã khuếch tán toàn thân. Trước mắt đang ở nửa trái cơ thể, sẽ lan nhanh sang bên phải.

III. Ý NGHĨA CỦA CÁC GÒ VÀ CÁC MẬT MÃ

Phần trên là mấy ví dụ điển hình của vài dạng ung thư và một số bệnh khác. Yêu cầu của chúng ta là nắm vững nguyên lý chẩn đoán, mật mã tin tức của bệnh tật để khi thao tác ứng dụng lâm sàng không bị lúng túng, chẩn đoán đúng bệnh, thời gian hình thành và xu thế phát triển của bệnh. Đốì với các mật mã tin tức sinh mệnh, ta cần nắm vững định tính của tín hiệu, khu vực tương ứng với cơ quan tạng phủ, các mối liên quan khác để phán đoán chính xác bệnh vị và bệnh trình.

Sau đây tôi xin giới thiệu một sơ đồ cơ bản về một số khu vực và ý nghĩa định tính của một số mật mã các loại bệnh.

Sơ đồ này là kết hợp định tính bệnh với khu vực sinh mệnh tượng của mật mã vân tay, phương thức sắp xếp của nó là dựa trên mối quan hệ các gò bàn tay với đường sinh mệnh.

Ý nghĩa của các gò bàn tay và các mật mã như sau:

1. Gò mộc tinh (gò ngón trỏ) xuất hiện ban, chấm màu đỏ là bệnh tượng can dương hỏa vượng, đỏ như chu sa là bệnh tượng viêm gan, màu nâu nhạt là tiêu chí có ổ bệnh cũ; tín hiệu dạng như hạt táo ở phía trên đường sinh mệnh là gan nhiễm mỡ thời kỳ đầu, dạng như hạnh nhân là gan nhiễm mỡ trung độ; ở phía dưới gò mộc tinh xuất các loại vân hình đảo, hình lăng, hình mạng lưới, chữ tỉnh #, chữ điền..., cần phải xét đến trường hợp viêm túi mật hoặc sỏi mật. Nếu ở phần phía trên ngón cái gần gò ngón trỏ có các chấm to nhỏ khác nhau màu nâu tối là tiêu chí sỏi mật, nhỏ mà dày đặc thành dải hoặc thành mảng là kết sỏi dạng như bùn cát. Xem móng tay ngón trỏ, nếu có rãnh ngang lõm xuống, chứng minh hệ thống gan mật có chứng viêm. Trên ngón trỏ có bọt thấp khí, là tiêu chí vai, lưng bị phong hàn. Có vân chữ mễ * chữ thập + là huyết áp khí cao, là tiêu chí chóng mặt, đau đầu (12).

2. Gò thổ tinh (gò ngón giữa): Nếu xuất hiện các vân dọc song song liên tiếp, là tiêu chí bệnh mất ngủ lắm mộng, lao tâm quá độ, suy nghĩ quá độ, lấy tay ấn vào 2 bên gốc ngón giữa, 2 bên gò thổ tinh, có cảm giác đau như kim châm, là điểm ấn đau mất ngủ. Trên đường vân ngang hoặc vân dọc xuất hiện vết vân dấu X, là bệnh tượng trúng phong; ở cuối đường tình cảm đoạn dưới khe ngón trỏ và ngón giữa xuất hiện vân hình lăng, là tín hiệu cao huyết áp, trúng phong, đa số phát bệnh ở đoạn cuối đời (2).

3. Gò thái dương (gò ngón vô danh); Nếu xuất hiện bọt thấp khí, là bệnh tượng đau vai, lưng, viêm quanh vai, hoặc bệnh ở phần phổi; nếu có tín hiệu , vòng tròn, vết ban nâu, đều là tín hiệu bệnh khá nghiêm trọng về phương diện mạch máu não. Trên đường tình cảm ở đoạn này xuất hiện vân hình đảo, chỗ giao nhau cả đường vận mệnh và đường trí tuệ phía dưới nó có vân hình  là bệnh tượng về mắt; đường tình cảm đứt từng khúc là tính cách kỳ quái, hay cáu gắt (3). Ngón giữa và ngón vô danh có mạch máu màu xanh xuất hiện là hệ vi tuần hoàn không tốt; màu tím tối là máu thiếu dương khí, đến là triệu chứng bệnh về phương diện mạch máu não, chứng viêm toàn thân và sốt cao (13 - 14).

4. Gò thủy tình (gò ngón út) là khu vực tiêu chí có liên quan với chức năng tính dục, những tín hiệu bệnh của nó biểu thị bệnh thận, cơ quan sinh dục, đới mạch, xung mạch, bàng quang và niệu đạo. Trên đường tình cảm xuất hiện vân hình đảo, là có trỏ ngại về mặt tình cảm và hôn nhân, xuất hiện vân hình lăng  là trỏ ngại tình cảm không thể khắc phục được; xuất hiện vân bị đứt đoạn, hoặc móc xích, là tinh thần không ổn định, không chuyên nhất, không tập trung, phần lớn kèm theo đặc tính hiếu động; phía dưới đường tình cảm có đoạn vân nằm ngang, song song với nó, là tự mình khép kín tình cảm, phần lớn là uất ức về mặt tinh thần, đa nghi, và có tính cách ham muôn chiếm hữu mạnh; khi giữa gò thái dương và gò thủy tinh xuất hiện tín hiệu biểu thị tinh thần sống ly thân, khoảng cách năm tuổi ở giữa 2 tín hiệu đó là một quãng thời gian tình cảm trống không, là một bi kịch về hôn nhân, nếu có 1 tín hiệu, biểu thị tạm thời ly thân, như ngưu lang chức nữ (3; 4). Trên ngón út nếu xuất hiện mạch máu màu xanh hoặc màu nâu tối, đồng thời nổi gò lên, biểu thị máu thiếu dưỡng khí (15).

5. Gò hỏa tinh thứ 2 ở vị trí dưới gò thủy tinh, phía trên gò nguyệt tinh, ở đoạn giữa của cạnh dưới bàn tay, thường là chỗ đoạn cuối của đường trí tuệ. Ở khu này nếu xuất hiện tín hiệu bệnh như ở trên thì có thể tham khảo như mục (4), nếu gò thủy tinh có tín hiệu dấu chấm "•" và gò hỏa tinh thứ 2 có tín hiệu dấu "•" thì khả năng là bệnh ác tính về chức năng thận, có khả năng là bụng báng nước và toàn thân thủy thũng. Nếu có tín hiệu vân mạng lưới là suy thoái chức năng, cần kiểm tra bệnh về chức năng đại tràng, nên đồng thời quan sát khu đại tràng hoặc khu tràng đạo (8), để kiểm tra tín hiệu bệnh và xác minh chính xác. Nếu khu này có tín hiệu bệnh ở phần dưới thì cần xem bệnh của hệ thống hô hấp và bệnh ở khu tiểu tràng, hành tá tràng và dạ dầy (5) (6).

6. Gò nguyệt tinh, là phần gò cao cạnh dưới bàn tay, gần sát với vân cổ tay. Nếu trên đường thẳng gần viền ngoài của gò nguyệt tinh có vân hình đảo, đó là vân mộng du. Nếu trên gò nguyệt có vân mạng lưới, vân kiểu ô bàn cờ, là chức năng tính dục suy giảm, phía dưới xuất hiện vân hình thoi là chức năng phổi kém, là bệnh tượng có tính tái phát tác. Vân vòng tròn, hoặc dạng vết ban có tia phóng xạ, vân sao, vân chữ mễ, chữ thập, là bị chứng viêm ở mức độ khác nhau, liên quan đến phổi và khí quản (6).

7. Gò địa tinh ở giữa gò nguyệt tinh và gò kim tinh, phía trên vân ngang cô tay, là nơi xuất phát đường ngọc trụ, hay còn gọi là đường sự nghiệp, tính chất của gò địa tinh tương tự như gò thủy tinh, đồng thời lại có hướng liên quan đến gò nguyệt tinh và gò kim tinh (gò ngón cái) ở hai bên, đặc biệt là ở viền dưới. Đường hình cung ngang trên gò địa tinh là đường phóng túng (buông thả), bất luận một loại dục vọng ham muôn nào, như thị hiếu, chỉ cần buông thả quá độ như nghiện rượu quá độ, nghiện thuốc quá độ, ham muôn tính dục quá độ, nghiện thuốc phiện... đều xuất hiện đường vân này, là một loại bệnh tượng về trúng độc, là tín hiệu trở ngại của chức năng hệ thống miễn dịch. Vân hình đảo và vân hình lăng ở giữa đường này, là tín hiệu bệnh ở hệ thống tiết niệu và hệ thống sinh dục; nếu trên đường ngang đối xứng ra hai bên lại có vân hình mắt kính hoặc vân hình lăng lồng trên đường vân ngang đó, thì cần phải xét đến bệnh ở cơ quan sinh đục như buồng trứng, ống dẫn trứng, hoặc tinh hoàn. Nếu có vân dạng như bông lúa rẽ ra từ đường sinh mệnh, phần lớn là tinh lực suy thoái, là tiêu chí thận khí hao tổn (7).

8. Gò kim tinh (gò ngón cái), phía dưới là khu eo lưng, gối và chân, nếu đường sinh mệnh ở khu này bị đứt đoạn mà lại có vân phẫu thuật (vân cắt đường sinh mệnh di xuống cắt vào gò nguyệt tinh), phần lớn biểu thị bị gẫy xương, ngoại thương.... Nếu trên đường sinh mệnh ở khu này xuất hiện vân hình đảo, hoặc hình lăng hoặc cạnh phía ngoài đường sinh mệnh ở khu này (cạnh ngoài của ngón cái) xuất hiện vân hình đảo, hình lãng, vân chữ mễ đều phản ánh có bệnh ở đầu gối, chân, cột sống eo, khoang chậu, xương cùng, đoạn cột sống đuôi, ấn vào đó có cảm giác đau, tức là bệnh vị của nó. Phần dưới gò kim tinh lại là khu tỳ, khu này nếu xuất hiện dạng vết ban thành đám màu đỏ hoặc màu nâu nhạt, là chức năng tỳ kém, nếu khu này không đầy đặn chắc chắn mà bằng dẹt, lại có gân xanh từ cổ tay xuyên qua, là tỳ vị bất hợp, tiêu hóa hấp thu không tốt, thể lực sa sút, lực bất tòng tâm, dễ mệt mỏi đuối sức. Đoạn giữa gò gần đường sinh mệnh là khu tràng đạo, nếu bị đứt đoạn hoặc có vân đảo, đều phản ánh có bệnh ở đoạn kết tràng đi lên, đoạn kết tràng đi xuống, kết tràng chữ Z và tiểu tràng, ở khu giữa tâm bàn tay (khu 10) và song song với khu đó, là khu vị, hành tá tràng, tụy, tiểu tràng, đoạn kết tràng đi ngang, kết tràng đi lên, kết tràng đi xuống, bệnh vị của nó có thể tham khảo hình 2-5 dựa theo tín hiệu bệnh tượng đã định mà chẩn đoán. Phía ngoài đoạn giữa gò kim tinh là khu cơ quan hô hấp, xuất hiện vân chữ mễ * và màu đỏ là có chứng viêm ở cơ quan hô hấp, tính từ dưới lên là phổi, khí quản, họng, mũi, vì thế, đoạn trên của gò kim tinh là khu hô hấp trên, tiêu chí về bệnh họng và mũi. Vân mạng lưới, loại mạng lưới to, chữ tỉnh #, chữ điền, là bệnh tượng của bệnh hen suyễn. Nếu ở khu 2 trên đoạn cuối của đường tình cảm có một đường vân xiên, hoặc vòng kim hoàn ở đoạn này đứt đoạn, (2 tay phải) đó chính là thể chất quá mẫn cảm, viêm mũi dị ứng, hen suyễn dị ứng, họng, khí quản, phổi đều thay đổi quá mẫn cảm (8, phải 3).

9. Từ ngón cái (gò kim tinh) lên đến điểm xuất phát của đường sinh mệnh là gò hỏa tinh thứ nhất, chủ yếu biểu thị chức năng dạ dầy và đường hô hấp trên. Trên đoạn đường sinh mệnh và đường trí tuệ hợp làm một có hình chữ A, hình đảo và hình chữ A đứt đoạn hoặc kéo dài xuống phía dưới, đều biểu thị chức năng đường hô hấp trên bị bạc nhược, phế nhiệt thường xuyên, hễ có gió lạnh là lập tức đường thượng hô hấp cảm nhiễm hoặc cảm mạo. Nếu đường sinh mệnh ở phía dưới nó bị đứt đoạn, hoặc phía trên nó có đường nhỏ thẳng đứng (9 - bên phải), đó là tiểu tràng bị nhiệt, bí tiện. Phía dưới gò hỏa tinh thứ nhất có vân mạng lưới, vân hình lăng, cần phải xét đến bệnh ở tụy và chức năng nội tiết. Vân hình lăng phía trên hình chữ A là bệnh dạ dầy (9, trái).

10. Khu minh đường, hoặc khu trung cung, khu nội lao cung, ở đây là khu trung tâm mệnh tượng của con người, hoặc là chỗ mệnh môn. Huyệt nội lao cung là giữa đan điền mệnh môn, là tim, cung của tim, chủ về tư duy, chủ về cung huyết cung dưỡng khí quanh thân. Phía dưới nó, trên trục giữa hơi phía trên khu số 7 một chút, là khu rốn, đan điền, mệnh môn. Do đó, các điểm các mặt của khu này đều phân biệt nhất nhạt dối ứng vói bệnh chức năng của các khu lân cận xung quanh (10).

11. Đổt thứ 2 ngón cái là khu vực của tả hữu tâm thất tâm phòng. Chỗ này có tín hiệu bệnh là biểu thị bệnh tượng của bệnh động mạch vành, không thể coi thường bỏ qua. Nếu đã có nếp nhăn ở thùy tai, mà ở chỗ ngón cái lại có điểm ấn đau, là tim đang có bệnh, bị thiên đầu thông, hình thành tắc nghẽn máu cục bộ, xơ cứng mạch máu não, hình thành xơ vữa động mạch dạng cơ cứng (11).

12. Đốt thứ nhất của ngón cái có vân đảo, có người gọi là "mắt Khổng Tước", là tiêu chí cực kỳ thông minh, những cũng là bệnh tượng huyết quản não, cũng giống như ở khu (11), (16 trong hình).

Sau đây tôi xin giới thiệu một số ví dụ các bệnh điển hình.

V. VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH

1. Bệnh tượng: Các vân đảo trên đường ái tình, đường tình cảm, đường chuyển vận và đường trở ngại trên tay trái đều hội tụ trên đường thái dương (quãng thời gian từ 40 - 45 tuổi).

2. Với tính cách sinh hoạt tính dục ở mức quá độ như vậy đã dẫn đến suy thoái toàn diện chức năng thận, xuất hiện một loạt bệnh nghiêm trọng, trưốc hết là tín hiệu hình lăng có nhiều đường dọc ở trên gò ngón út, bị bệnh nghiêm trọng, hơn nữa ở gò địa tinh phía trên vân cổ tay có chi chít các tín hiệu bệnh, mà đều là tín hiệu bệnh ở vị trí quan trọng.

3. Chú ý đến bàn tay phải, ta thấy trên đường sinh mệnh ở đoạn từ 40 - 55 tuổi có 3 tín hiệu hình lăng liên tiếp, trên đường sức khỏe đường sinh mệnh nối liền với nhau cũng xuất hiện 3 tín hiệu hình lăng, tín hiệu hình lăng trên đường vận mệnh, trên vân ngang cổ tay củng có tín hiệu hình lăng. Trên tay trái ở những vị trí tương ứng cũng xuất hiện tín hiệu bệnh. Điều này nói rõ cho ta thấy từ eo lưng đến hạ âm của ông ta đã xuất hiện bệnh rất nghiêm trọng có tính đôi xứng và ác tính ở hệ thống thận. Những tín hiệu trên tay phải nói lên tình hình bệnh ở phía bên trái cơ thể nặng hơn bên phải, vì vậy ta phân tách trọng điểm về vị trí, cơ quan bị bệnh mà tín hiệu trên tay phải trình hiện.

- Hai hình lăng trên vân cổ tay, một hình lăng ở đoạn dưới của đường vận mệnh nối liền với nó, và cả hình lăng trên gò nguyệt tinh nằm ở vị trí tương đối bằng về độ cao nằm ngang với các tín hiệu trên (tính từ dưới lên), hình lăng thứ nhất trên gò ngón cái, là cơ quan sinh dục nam giới, viêm tuyến tiền liệt, đái ra máu, liệt dương, xuất tinh sốm, tất cả đều biểu thị ở đó.

- Trên các đường từ đó trở lên, tín hiệu hình lăng thứ 2 là bệnh ở bàng quang, niệu đạo. Tiếp lên 2 hình lăng phía trên, là thận. Hơn nữa ở phần cổ tay gân xanh nổi lộ, là hiện tượng thận dương hao tổn suy kiệt, đó là điều rất rõ ràng.

- Xin chú ý tín hiệu hình lăng trên gò ngón trỏ, là tín hiệu chức năng vùng giải độc bị suy giảm, là tín hiệu nguy hiểm.

- Chỉ mấy điều trên đây đã khiến người ta kinh hãi, nhịp tim lại nhanh, lòng bàn tay và lòng bàn chân lạnh (là triệu chứng thận dương hao tổn).

Đây là hai bàn tay của một người đàn ông 39 tuổi.

Bệnh tượng: Nhìn mặt thì thấy toàn khuôn mặt ửng đỏ, trên mặt có nhiều nốt đỏ nhỏ, trên bề mặt da có nhiều chỗ khô táo rạn nứt sùi mùn là do nội nhiệt xuất ra. Hai má càng đỏ hơn, thể lưỡi gầy hẹp, đầu lưỡi đỏ, có những nốt đỏ gồ lên, ở giữa lưỡi có vết rạn kiểu mai rùa, rêu lưỡi trắng, cảm giác ướt nước long lanh, là hiện tượng thấp nhiệt thủy trệ. Xem toàn bộ vân tay, thấy vấn đề chủ yếu là hệ thống tiết niệu và phần đảm (mật).

1. Tay trái biểu thị chức năng hô hấp bên phải kém, phổi trái có nhiệt.

2. Các đường vân tán loạn ở gò địa cả 2 bàn tay, tay trái có đường vân ngang có vân đảo cắt qua đường sinh mệnh và đường vận mệnh, tay phải cũng có vân đảo. Đều biểu thị thận hư từ thuở nhỏ, có bệnh ở hệ thống tiết niệu.

3. Phần dưới gò ngón cái tay phải có 1 mảng các vết ban màu đỏ tối, biểu thị tỳ hư, chức năng tiêu hóa kém, mạch gân xanh nổi lộ, màu xanh lam. Tay phải phía trên đường sinh mệnh và đường trí tuệ có 1 vân hình đảo lớn và nhiều vân dọc, phần gốc ngón trỏ ở bụng ngón có nhiều vân dọc, ở gò ngón trỏ tay trái lại có 2 vân hình chữ "Y", đều biểu thị bệnh ở phần mật. Xem móng tay ngón trỏ, phát hiện thấy rãnh ngang, biểu thị chứng viêm túi mật.

Bệnh tượng:

1. Khu dạ dầy bàn tay trái ông ta có 3 vết ban mầu nâu liên tiếp lồng trong một vân hình lăng, sắc mặt vàng gầy, chuyển sang xanh xám, các gò bàn tay khuyết lõm, ngủ không tốt.

2. Đây là diễn biến bệnh ác tính ở phần dạ dầy, có 3 ổ bệnh. Mặt vàng nến, khi đau có thể vã cả mồ hôi, lấy tay đè, ấn, chống vào rất khó chịu.

Đây là trường hợp viêm loét dạ dầy đã chuyển sang ung thư, cần phải cắt bỏ.

Bệnh tượng:

1. Trên đường trí tuệ có 1 vân đảo không đóng kín, biểu thị bệnh tim đang tiến triển.

2. Trên đỉnh đường ngọc trụ có tín hiệu hình bán lăng, là tín hiệu bệnh cao huyết áp đang tiến triển và là tín hiệu trúng phong. Có 2 vân hình lăng ở đốt thứ 2 ngón cái, là tín hiệu bệnh động mạch vành, mạch máu não.

3. Ở gò ngón vô danh (gò thái dương) có nhiều vân dọc, là biểu thị lao tâm quá độ lâu ngày, mất ngủ, từ đó gây ra rốì loạn thần kinh thực vật và bệnh nghiêm trọng ở hệ thống tràng vị.

4. Ở khu dạ dầy có tín hiệu, ở khu tụy dưới nó cũng có tín hiệu, đều là tín hiệu bệnh cũ.

5. Ở khu hành tá tràng đường sinh mệnh đứt đoạn, biểu thị chức năng bẩm sinh không tốt, tiểu tràng có nhiệt, bí tiện và đi lỏng.

6. Khu đại tràng có vân đảo to, biểu thị đại tràng rất kém, đi lỏng.

7. Khu phổi có vân hình chữ A rất to, chứng minh chức năng phần phổi rất kém. Cùng vói tim phổi có đại tràng tiểu tràng trong ngoài tương quan với nhau, gây nên bệnh tình của chức năng tràng vị phát triển theo hướng nặng thêm.

8. Toàn bộ khu tiêu hóa, các đường trở ngại dày đặc, gò kim tinh mềm nhão, biểu thị nguyên khí đại thương.

9. Toàn bộ khu tiêu hóa có vân hình sao 5 cánh cùng với vân vòng tròn lồng vào nhau, biểu thị viêm loét hành tá tràng, bệnh viêm tiểu tràng phát tác tái phát, và gây những cơn đau có tính phóng xạ bạo phát. Khu đại tràng, đặc biệt là đoạn kết tràng đi lên cũng viêm tái phát.

10. Lấy tay ấn vào các vị trí có tín hiệu bệnh, bệnh nhân kêu đau không ngớt, đó là ấn chứng bệnh tình nghiêm trọng.

VI. Một nhóm nhà y học khác cũng đưa ra những phương pháp chẩn đoán cục bộ bàn tay. Tuy rằng về phương pháp chẩn đoán trong thao tác thực tế có phần khác nhau, nhưng về cơ bản nguyên lý thì có nhiều điểm giống nhau. Xin nêu rõ cụ thể như sau:

1. Góc atd: Trên bàn tay trừ ngón cái ra, phần gốc của 4 ngón khác (phần sinh ra chai tay sau khi lao động), mỗi phần đều có 1 ngã ba hình chữ "y" gọi theo thứ tự các ngã ba đó là a, b, c, d. Còn 1 ngã ba đảo khác rõ ràng ở gần cổ tay, ta gọi là t, như hình 2-18, ta vẽ đường nối liền 3 điểm ngã ba atd với nhau, tại góc t ta có một góc nhọn, gọi là góc atd. Dùng dụng cụ đo góc để trắc lượng độ số của góc nhọn, lấy độ số 2 tay để tính toán. Nói chung góc atd của người bình thường nhỏ hơn 40o (có thuyết cho rằng bình thường nhỏ hơn 48o). Nếu lớn hơn 40o là không bình thường, ở đây vấn đề quyết định độ số của góc atd to hay nhỏ là ở vị trí của ngã ba chữ Y đảo nếu nằm càng cao thì độ số càng lớn. Nó là một tiêu chuẩn sức khỏe quan trọng. Đại đa số nhiễm sắc thể bệnh nhân có ngã 3 hình Y đảo đều có vị trí cao. Như chứng tổng hợp họ Đường Ân (tính ngu đần bẩm sinh) có góc atd là 81o, người có chứng tổng hợp họ Đỗ Nạp, góc atd là 66o.

2. Vân tay: Các đường vân chính trên bàn tay người ta thường có 3 đường. Đó là đường cạn tâm cong ngang (trong tướng thuật thường gọi là đường trí tuệ), đường parabôn ngư tế (còn gọi là đường sinh mệnh) hoặc còn gọi là đường não, đường Cồng ngang viễn tâm, hay còn gọi là đường tim (trong tướng thuật gọi là đường tình cảm) (hình 2-19).

Nói chung trong tình trạng bình thường khỏe mạnh thì các đường vân rõ ràng, sâu đậm, không đứt đoạn, liền một mạch là tốt. Nói cụ thể hơn, đường ngư tế cần phải to, sâu đậm, có màu hồng nhạt, đều, không ngoằn ngoèo, không có các phân chia hoặc các vân nhánh tạp loạn, khởi đầu to, đoạn cuối nhỏ dần đều cho đến hết, là biểu thị cơ thể khỏe mạnh, tinh lực dồi dào, khó bị nhiễm bệnh. Đường cận tâm to sâu mà dài, rõ nét, không đứt đoạn, màu sắc hồng nhuận, hơi cong xuống, đoạn cong thành hình cung đẹp, đoạn cuối đường cận tâm có thể phân chia nhánh, biểu thị cơ thể khỏe mạnh, tràn đầy sức sống; đường viễn tâm to sâu, dài, rõ nét, màu sắc hồng nhuận không có hoặc ít đường phân nhánh đi lên hoặc đường phụ trợ, biểu thị chức năng tim tốt.

Ngoài 3 đường chính trên đây, còn có 1 đường vân gọi là đường sức khỏe, đường này cũng rất quan trọng trong việc chẩn đoán sức khỏe, nó bắt đầu từ gần đường ngư tế đi xiên về phía gò ngón út. Ý nghĩa của đường này khác và ngược với 3 đường vân chính, nếu càng dài càng sâu, thì tình trạng sức khỏe lại càng kém. Nhìn chung mà nói, một người khỏe mạnh rất ít khi có đường sức khỏe, đường này thường thấy ở người lao động trí óc nhiều và người cơ thể yếu. Nếu không có đường này thì tốt hơn, nếu có thì càng nhỏ mờ càng tốt, hoặc đứt đoạn liên tục và không nên tiếp xúc với đường ngư tế là tốt.

Các học giả cho rằng, các đường vân cơ bản của bàn tay trong trạng thái bình thường cần rõ ràng không loạn, thẳng mà ít cong gập, sắc trạch hồng hoạt mà ít phân nhánh. Ngược lại, đường vân không sáng sủa, ngắn mà phân nhánh nhiều là bất lợi, nhất là khi hình vân và đường vân khác thường tức là biểu thị một số bệnh nào đó. Đặc biệt là tồn tại bệnh di truyền. Như đường vân thông quán chưởng là tiêu chí của bệnh ngu đần bẩm sinh, bản chất cơ thể đó có tế bào nhiễm sắc thể cơ biến (méo hình, dị dạng). Trong chẩn đoán có ý nghĩa nhất định về các loại bệnh như sự trao đổi vật chất không tốt, các cơ quan khuyết hãm do di truyền. Sự khuyết tổn vân tay, đặc biệt là khuyết tổn các đường cong ngón út, đa số biểu thị nhiễm sắc thể dị hình.

Vân tay còn liên quan đến thể chất và tuổi họ của con ngưồì. Vân tay thon dài rõ ràng sáng trạch, đường vân không loạn, là người sống lâu; phân nhánh nhiều, đường vân rối loạn không rõ ràng sáng sủa thì tuổi thọ không cao, tính cách hơi cô độc, nghi ngờ; vân tay thô dài không cong, tính cách cương dũng; vân tay nhỏ, ngắn, cong gấp, khí chất đa phần là khiếp nhược, nhút nhát, vân tay thô phần lớn là hung hãn; vân tay nhỏ, đa số là lương thiện. Có người thống kê đã giết hơn 450 phạm nhân, phát hiện thấy bàn tay có 1 vân ngang tương tự như hình 2-19 (thông quán chưởng), tất nhiên tuy là giết phạm nhân, nhưng cũng có liên quan đến đạo đức con người. Lẽ nào lại do di truyền bẩm sinh, nhưng chí ít thì vân tay cũng có liên quan nhất định đến tính cách và khí chất con người.

Phần sau đây chúng ta chú trọng thảo luận đến môi quan hệ vân tay khác thường với bệnh tật.

Đường ngư tế khác thường: khởi điểm của đường ngư tế có nhiều vân dọc cắt ngang như hình số 1, đường ngư tế và đường cận tâm có nhiều vân hình đảo, thường thấy ở bệnh lao phổi (2).

2. Đoạn cuối đường ngư tế rẽ nhánh mỏ rộng cửa, thường thấy ở bệnh phong thấp. (3).

3. Đoạn cuối của đường ngư tế có dạng hình tam giác, lòng bàn tay có vân chữ thập +, thường thấy ở bệnh tim (4).

1. Đường ngư tế đột nhiên đứt đoạn ở giữa như dao cắt, thường biểu thị vào thời gian tuổi đó dễ bị trúng phong (bao gồm tràn huyết não) (a).

2. Đường ngư tế cạn nhạt, trên đường ngư tế, đường cận tâm và đường viễn tâm đều có vết nhỏ màu nâu, khi dùng ngón tay ấn vào đó vẫn không mất màu hoặc đổi màu, thường thấy ở triệu chứng xuất huyết não.

1. Đường ngư tế đứt đoạn ở giữa bất luận là tình trạng đứt như thế nào, đều có thể coi đó là tín hiệu nguy hiểm. Nếu chỉ có đứt đoạn ở trên một bàn tay, thì tình trạng tương đổì nhẹ, nếu cả 2 tay đều bị đứt đoạn ở giữa chặng đường, thường biểu thị cơ thể rất dễ phát sinh bệnh tật; nếu ở vị trí đứt đoạn lại có vân hình sao thường là tín hiệu bệnh đột phát. Theo truyền thuyết Tây phương, đường vân của một người thầy vũ balê có hình trạng như vậy, đã bị đột tử ở tuổi trung niên. Vì vậy, nếu có đường vân dạng như thế, nên kịp thời kiểm tra sức khỏe, đề phòng tai họa khi nó chưa xảy ra (a).

2. Đường ngư tế giãn rộng, thường thấy ở các chứng tả lỵ mạn tính hoặc dinh dưỡng không tốt (b).

3. Đường ngư thế không thành hình cong, mà đi thẳng xuông, hoặc thành hình sáng, thường thấy ở bệnh tiểu đường.

1. Đường ngư tế thành dạng sóng (a) thường biểu thị mạch máu tim hư nhược, dễ mắc bệnh xơ cứng động mạch hoặc nhổí máu cơ tim.

2. Đường ngư tế thành dạng móc xích (b), thường biểu thị thể chất hư nhược, dễ sinh bệnh, có người suốt đời bị bệnh mạn tính dày vò. Thường là bệnh mạn tính ở hệ thống tiêu hóa như dạ dầy, đại tràng.... Nếu bị dạng móc xích ở phần đoạn trên, thường biểu thị tình trạng sức khỏe thời niên thiếu không tốt. Nếu ở đoạn dưới là biểu thị tình trạng sức khỏe giai đoạn tuổi già kém.

Đường cận tâm khác thường (đường trí tuệ):

1. Đường cận tâm từ khởi điểm đi thẳng ra cạnh bàn tay (a), gọi là đường xitni (do bởi phát hiện rất nhiều người ở Xitni Australia có đường vân này, nên gọi là đường xitni), có liên quan đến bệnh máu trắng. Ở châu Á cũng có người quan sát thấy có một số người có đường vân này (gọi là thông quán chưởng), bị các bệnh liên quan đến bệnh máu trắng và một số chứng bệnh ung thư. Vì thế nếu có đường cận tâm ở dạng này, cần đặc biệt chú ý trong cuộc sống cần có mọi biện pháp tích cực phòng chống bệnh ung thư.

2. Đường cận tâm dừng ở phía dưới ngón vô danh, đồng thời ở chỗ đó xuất hiện vân hình đảo to, khả năng biểu thị bệnh thần kinh đại não.

3. Đường cận tâm, đường ngư tế và đường viễn tâm ở đoạn cuối có các vân cắt ngang, thường thấy ở bệnh phổi (b).

1. Đường cận tâm cong xuống vào khu tiểu ngư tế, bị đứt đoạn giữa đường, đồng thời có nhiều vân dọc cắt qua, ở phần gốc ngón út cũng có nhiều vân dọc (a). Thường thấy bị viêm bàng quang.

2. Đường cận tâm từng đoạn to nhỏ khác nhau, hoặc nhỏ, hoặc bị đứt đoạn (b), thường thấy ở bệnh xuất huyết não.

3. Đường cận tâm mờ mờ, rất cạn, rất có khả năng bệnh thần kinh đại não. Đường này không rõ ràng hoặc không có đường này, trí năng của người đó kém phát triển.

1. Đường cận tâm cong theo gò ngón cái (kim tinh), khả năng mắc bệnh thần kinh, tinh thần (a).

2. Đường cận tâm dạng gợn sóng, dễ bị mắc bệnh hệ thống thần kinh.

3. Đường cận tâm xuất hiện các vân đảo nhỏ, biểu thị có bệnh ở đại não (2-27-a).

4. Đường cận tâm xuất hiện điểm đen hoặc nốt bẩn, khả năng trong não có khối u.

(3) Đường viễn tâm khác thường:

1. Đường viễn tâm khởi đầu thành 2 đường, thường thấy ở bệnh thống phong (2-28-a).

2. Đoạn cuối đường viễn tâm có dạng lông vũ, thường thấy ở chứng lao phổi (2-28-b>.

3. Đường viễn tâm bị 2 đoạn vân hơi to cắt qua ở đoạn dưới ngón vô danh, thường thấy ở bệnh cao huyết áp (2-29-a)

4. Đường viễn tâm có nhiều vân lông vũ ở đoạn cuối, thường biểu thị bệnh ở hệ thống mạch máu tim não mạch máu (2-29-b).

5. Đường viễn tâm bị đứt đoạn, nếu bị đứt đoạn ở phía dưới ngón giữa hoặc ngón vô danh, mà khoảng cách đứt đoạn khá xa, dễ bị mắc bệnh ở hệ thống tuần hoàn hoặc hệ thống hô hấp (2-30-a). Nếu bị đứt đoạn ở dưới ngón út, mà khoảng cách đứt khá xa, thường dễ mắc bệnh về gan (2-30-b).

6. Đường viễn tâm cạn nhạt, bị đứt nhiều, lại bị gợn sóng, hoặc giữa đường viễn tâm với đường cận tâm có nhiều vân xiên kẹp vào giữa, thường thấy ở bệnh tim (2-31).

7. Đường viễn tâm xuất hiện vân dọc dạng như Hình 2-32-a biểu thị dễ bị viêm họng, mà còn có xu hướng chuyển hóa thành ung thư họng.

8. Đường viễn tâm quá dài, thường mắc bệnh hệ thống tràng vị do tinh thần.

9. Trên đường viễn tâm xuất hiện nhiều vân đảo nhỏ, thường thấy ở chứng thần kinh suy nhược (2-32-b).

(4) Đường sức khỏe khác thường:

Như trên đây đã nói, nếu không xuất hiện đường sức khỏe thì tốt hơn. Nhưng nếu có đường sức khỏe cũng không hoàn toàn là phát sinh bệnh tật. Có khi đang lúc tình trạng sức khỏe cơ thể đang bị sút kém, đường sức khỏe sẽ sâu thêm, đến khi tình hình sức khỏe hồi phục khá hơn, thì nó lại cạn nhạt dần. Nhưng nếu đường vân sức khỏe ngắn mà biến màu, thì thường là tín hiệu cảnh báo mắc bệnh nặng. Cho nên không nên xem thường đường vân sức khỏe ngắn.

1. Đường sức khỏe ngắn xuất hiện ở giữa bàn tay (a) thường gặp ở bệnh tim. Nếu màu sắc của nó và xung quanh nó có màu ám tối, màu đỏ tối, màu nâu, màu đỏ..., thường biểu thị phát sinh bệnh ở hệ thống tiêu hóa, tình trạng sức khỏe bình thường là màu phấn hồng nhạt.

2. Đường sức khỏe ngắn mà sâu, cắt qua đường viễn tâm và đường cận tâm (b), thường biểu thị có bệnh về đại não.

3. Đường sức khỏe chạm đến đường ngư tế (a), thường thấy ở bệnh mạch máu tim.

4. Đường sức khỏe xuyên qua đường ngư tế (b), thường biểu thị tạng phủ suy nhược, đặc biệt là suy nhược tim.

5. Đường sức khỏe đứt từng đoạn liên tục (hình 2-35-a), thường biểu thị can tạng có bệnh.

6. Đường sức khỏe có rất nhiều vân đảo nhỏ thành hình móc xích, thường thấy ở bệnh về hệ thống hô hấp (hình 2-35-b).

7. Trên đường sức khỏe có những vết ban, chấm màu nâu tối, thường biểu thị mắc bệnh nặng, cần đặc biệt đề phòng khả năng ung thư (Hình 2-36-a).

8. Điểm tiếp giáp đường sức khỏe và đường viễn tâm có màu đỏ tối (Hình 2-36-b) thường biểu thị khả năng mắc bệnh tim.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 1: Chương 7.

Quan tâm  
5

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Xô Thơm - Salvia Officinalis
Từ xưa, cây Xô thơm (Salvia Officinalis) được xem là một loại thảo mộc thiêng liêng, đặc biệt là người La Mã tin rằng cây xô thơm có thể chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, kéo dài cuộc sống con người. Người Trung Quốc cũng đánh giá...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.