Thứ tư, 23/05/2018 1:53 PM

Kết Hợp Tướng Thuật Trong Chẩn Đoán Mặt Và Chẩn Đoán Mạch

Thứ bảy, 10/02/2018 11:19 AM

Xem sắc mặt để đoán bệnh, nhìn mạch tượng để đoán cát hung đó là một trong những phương pháp chẩn bệnh của Đông Y cổ xưa mà cho đến ngày nay nó vẫn còn được lưu truyền và nghiên cứu. Phương pháp như thế người ta gọi là Kết Hợp Tướng Thuật Trong Chẩn Đoán Mặt Và Chẩn Đoán Mạch.

Đoán bệnh qua quan sát sắc mặt và mạch tượng là phương pháp chẩn bệnh cao thâm.

Như ban đầu đã nói: Tướng thuật hoàn toàn không phải là thứ cặn bã. Từ cổ xưa các nhà y học truyền thống đã kết hợp tướng thuật với chẩn đoán bệnh tật ở nhiều phương diện, nổi bật nhất là trong diện tướng và mạch tướng. Xin trích một số nét đặc thù trong 2 phương diện này:

1. Diện tướng:

Các nhà tướng thuật cổ xưa đã phân chia khuôn mặt thành nhiều bộ phận, như tàm đình, ngũ tinh, lục diện, ngũ nhạc, tứ độc trong (thần tướng toàn biên); lục phủ, tam tài; 12 cung, ngũ quan; nào là tứ học đường, bát học đường, cửu châu, bát quái, can chi....

Trong đó có liên quan đến chẩn đoán tình hình sức khỏe nhiều nhất là sơ đồ cửu cung, bát quái, can chi. Ví dụ: tại cung càn, thuộc Ung châu (vị trí ở dưới lúm đồng tiền bên trái) nếu xuất hiện sắc khí màu đen là có bệnh lo buồn, màu xanh đa tật khổ; tại Thanh châu, cung chấn (gò má phải) nếu xuất hiện khí sắc tím, chủ mắc bệnh nặng; Từ châu tại tốn (đuôi mắt phải, thái đương), khí sắc đen chủ bệnh tật, cần điều trị gấp; Dương châu tại ly (chính giữa trán, phần thượng đình của trán) khí sắc đen chủ tai họa bệnh tật; Kinh châu tại khôn (đuôi mắt trái, thái dương), khí sắc đen chủ tâm phúc mắc bệnh, cần phải điều trị sớm; Lương châu tại đoài (gò má trái), sắc đỏ thẫm chủ bị bệnh nặng; Duyên châu ở trung ương (phần mũi) sắc đen chủ về gia đình bất hòa mà dẫn đến bệnh tật, sắc đỏ thâm chủ về buồn phiền tích uất, sắc xanh chủ về trong lòng kinh hãi bất yên. Trên đây là một số điểm nói về chẩn đoán bệnh tật trong phần cửu cung bát quái (trích Thần tướng toàn biên), ngoài ra còn có thuyết ngũ quan ngũ hành tương khắc cũng có đề cập đến vấn đề chẩn bệnh.... Nhìn chung mà nói, về hình thái, khí sắc, hơi thở của mỗi con người, ngoài khả năng biểu hiện tình hình cát hung họa phúc, còn có khả năng biểu hiện những triệu chứng dự báo bệnh tật, về vấn đề cát hung họa phúc là dự đoán của các nhà tướng thuật, ở đây ta không bàn đến, còn chẩn đoán tình hình bệnh tật là của các nhà y học. Hiển nhiên, khi nghiên cứu nhân thể đều giống như giải phẫu học, mục đích của tướng thuật và Đông y, hay nói cách khác là điểm xuất phát là khác nhau, nhưng về căn cứ lý luận và phương pháp quan sát lại rất giống nhau, đây chính là điểm mà tục ngữ vẫn nói rằng: "Y tướng đồng nguồn".

Vậy thì "Y tướng đồng nguồn", biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Nói đến vấn đề này, ta cần quan sát một chút về y tướng trong vấn đề "ẩm thực" (ăn uống).

Đông y cho rằng, ăn uống không điều tiết dẫn đến bệnh dạ dầy. Bệnh dạ dầy gây ra đoản khí, thiếu tinh thần mà sinh đại nhiệt, có lúc hiển hỏa thượng hành, độc liêu kỳ diện. "Hoàng đế nội kinh" nói rằng: Người mà mặt có biểu hiện nhiệt là túc dương minh bị bệnh. Cho nên Đông y vô cùng coi trọng mối quan hệ ăn, uống, ở với dưỡng sinh phòng bệnh. "Tô' vấn. Thượng cổ thiên chân luận" nói rằng: Ăn uống điều tiết, sinh hoạt có thường quy, không lo lao tác, cả hình và thần đều toàn vẹn, có thể sông trăm tuổi. 

Nhà Trung y nối tiêng Lý Đông Viên nói: "Ẩm thực thất tiết và lao dịch hình chất, âm hỏa thừa trong khôn thổ, gây ra cốc khí, doanh khí, thanh khí, vị khí, nguyên khí không được thăng lên tư dưỡng dương khí của lục phủ, thì khí ngũ dương tuyệt trước ở ngoài, cái ngoài là trời, hạ lưu phục ở trong khôn thổ âm hỏa, đều do ngũ tặc là hỷ, nộ, bi, ưu, khủng gây thương tổn nội tạng tương ứng, kế đến ẩm thực bất tiết, lao dịch, vị khí bất hành, tất nguyên khí tổn thương". "Tỳ vị luận": Nguyên khí đã tổn thương, mà "bất tri trì mãn; bất thời ngư thần", tất nhiên sẽ "bán bách nhi phế (50 tuổi là chết)".

Luận về ẩm thực, thuận tự logic của các nhà y học là ẩm thực thất tiết, thương đến tỳ vị, tỳ vị bị thương mà âm hỏa thượng thăng, dẫn đến tính tình xao động, nguyên khí tận thương, kết quả là bệnh tòng khẩu nhập nếu không chữa trị, tính mệnh tất nguy. Tướng thuật cho rằng, xem một con người về ẩm thực có thể biết được bản mệnh quý hay tiện, xem được tính tình và còn có thể biết được tuổi thọ. Tướng thuật tuy có nói về ẩm thực nhưng chỉ xuất phát từ một góc độ của Đông y và chỉ tiếp thu một phần trong lôgic của các nhà y học. Tướng thuật nói về "khí huyết, tính mệnh, tính bạo bất hòa", chính là điều các nhà y học nói "tỳ vị đã hư, không thể thăng phù, doanh huyết đại hao, doanh khí phục ở trong địa, âm hỏa xí thịnh....". Vì vậy tướng thuật xem một người bạo ẩm bạo thực, có thể đoán người đó đoản mệnh. Còn khá nhiều điều liên quan giữa y học và tướng thuật, ở đây không bàn nhiều.

2. Mạch tướng:

Mạch tướng tức là thái tố mạch, là căn cứ vào sự thay đổi của mạch đập cơ thể mà dự đoán tình hình quý tiện của một con người, hay nói một cách khác là một phương thuật dự đoán về quý tiện, cát hung, họa phúc của người đời, trên cơ sở phương pháp mạch chuẩn của Đông y để đạt được mục đích về mặt tướng thuật, vì thế mới được gọi là một môn tướng thuật đặc thù. Nói về Thái tố mạch, có nhiều cách nói khác nhau, nhưng đều có một quan điểm tương đối thống nhất là: Có một người là Trương Thái Tố đời nhà Thanh được một ẩn sĩ mật truyền, qua thực tiễn tổng hợp, chỉnh lý và lưu truyền lại. Thái Tố mạch có 2 quyển "Thái tố mạch bí quyết", và bộ biên soạn hệ thống "Thái Tố mạch tướng pháp". Ngày nay những sách về Thái Tố mạch pháp đều dựa vào những sách đó. Trương Thái Tố cho rằng, sự thay đổi mạch đập có liên quan với ngũ hành, bát quái, hà đồ, lạc thư. Chỉ cần hiểu và nắm vững bí quyết Thái Tô' mạch, thì chẳng những biết được bệnh tật của người ta mà còn dự đoán được vận mệnh của họ. Theo thuyết Thái Tố mạch pháp "Linh nghiệm dị thường", có thể dự đoán điềm cát hung của cả cuộc đời người ta, thậm chí thông qua mạch tướng của người cha mà biết được tiến trình vận mệnh của con cái. Ở đây ta chỉ bàn về nguyên lý chẩn mạch của Đông y. Thái Tố mạch căn cứ vào sự thay đổi của mạch tượng mà quy ra thành 3 hệ: "Ngũ dương mạch", "Ngũ âm mạch" và "Tứ doanh mạch".

+ Cái gọi là ngũ dương mạch gồm: phù, hoạt, thực, huyền, hồng.

Thái Tố mạch quyết nói rằng:

(1) Phù giả (mạch phù) nhẹ mà ở trên, ẩn ẩn hoãn tán, như vật nổi trên nước, chỉ nặng (ấn ngón tay nặng) thì thấy như không; nhẹ có dư, càng nhẹ càng thịnh, hiện lên khắp ngón tay. Nếu 3 bộ (thôn, quan, xích) thường phù, chủ tâm khí bất túc.

(2) Hoạt: như châu hoàn vô đoan, nặng ngón tay thì túc ưu, nhẹ ngón tay thì thấy liền, trọn vẹn, không tiến thoái hơi nặng hơn hồng. Nếu 3 bộ thường hoạt, chủ cạn khí bất túc.

(3) Thực: trái với hư, phong độ của nó dài lâu mà không tuyệt, ấn ngón tay nhẹ tất có dư, ấn ngón tay nặng ẩn hoãn mà huyền, bé hơn hồng. Nếu 3 bộ thường thực, chủ tỳ khí bất túc.

(4) Huyền: ứng vào chỉ như dây cung, ấn ngón tay nặng thì như đêm, ấn ngón tay nhẹ thì càng cấp, tụ dồn mà không tán, dài lâu mà không thu (co), nếu 3 bộ thường huyền, chủ phế khí bất túc.

(5) Hồng: To, sâu mạnh, chảy dài, hơi đặt ngón tay để tìm, thì thấy không huyền không phù, nhẹ nặng đều ứng, nếu tìm lại, mạnh mẽ có dư. Nếu 3 bộ thường hồng, chủ thận khí bất túc.

Gọi là phù, hoạt, thực, huyền, hồng của ngũ dương mạch là chỉ 5 loại triệu chứng của mạch đập, chủ yếu khác nhau ở mức độ nặng nhẹ và sâu cạn. Như phù là "nhẹ thì có dư, nặng thì bất túc", hồng là "không huyền không phù, nhẹ nặng đều ứng"....

Gọi là "ngũ âm mạch" là 4 loại mạch tướng như: vi, trầm, hoãn, tường.

Thái Tố mạch quyết nói rằng:

(1) Vi: Là nhỏ nhất mà yếu, nặng ngón tay tìm thì thấy như sợi tóc, ẩn ẩn tường tường, nghi hoặc như không có trạng thái, ở chỗ là không có gián đoạn. Nếu 3 bộ đều thường vi, chủ huyệt trệ mà thần bất túc.

(2) Trầm: Như đá ném xuống nước, ở tận đáy, nặng ngón tay tìm, thì giống như ẩn ứng, so với vi, nó khởi hoãn trên cốt (xương). Nếu 3 bộ thường trầm, chủ vị nghịch mà khí bất túc.

(3) Hoãn: Như tơ ở cơ, không vòng theo trục của nó, ứng với ngón tay thì hoãn, vãng lai như vi, nhất là không ứng cấp như vi, không trầm không phục, duy hoãn mà thôi. Nếu 3 bộ thường hoãn, chủ thận khiếp mà tinh bất túc.

(4) Tường: Trệ mà không hoạt, dưới ngón tay như mò cát ẩn, như dao cạo nứa, trầm xuống mà thô, nặng tất ứng ngón tay, nhẹ thì như không, hậu hư tiền thực, vãng lai vô đoạn. Nếu 3 bộ thường tường, chủ hỗn bất túc.

So sánh với 5 loại triệu chứng của "ngũ dương mạch", thì "ngũ âm mạch" nhỏ bé mềm yếu rõ rệt, mà "ngũ dương mạch" thì lấy vị trí khí quan khí huyết làm đốì tượng thăm chẩn, còn "ngũ âm mạch" thì lấy tình hồn của toàn vẹn con người làm mục đích kiểm tra. Từ đó có thể thấy "ngũ âm mạch" nhỏ yếu khó tìm, nhưng lại vô cùng quan trọng, nếu tinh hồn của một người không đủ có trệ, tất là hình cũng khô khan rồi.

Gọi là "tứ doanh mạch" là 4 loại mạch tướng: nặng nhẹ thanh trọc.

Thái Tố mạch quyết nói rằng:

Tứ doanh mạch là nặng nhẹ thanh trọc. Nhẹ thanh là dương, trọng trọc là âm. Nếu muốn biết quý, tiện, bần, phú, thọ, yểu, thì phải tìm ở tứ doanh mạch.

(1) Mạch nhẹ: Như ngón tay sờ ngọc, thuần túy ấm nhuận, thức tính minh mẫn, lộc vị quyền quý.

(2) Thanh: Bình thanh mà phù, dạng nhẹ như lông, không trầm không nhu, ẩn ẩn thường động.

(3) Trọng (nặng): Hoãn mà thô, dùng tay ấn, mạch của nó trọc (đục), mạch trọc khí cũng trọc vậy.

(4) Trọc: Trong trọc có trầm như căng, tìm thấp ẩn nặng trọc, cũng là vốn sẵn của nó như vậy.

Tứ doanh mạch xem ra cũng có tính chất tổng hợp khái quát. Sau khi tìm hiểu rõ hai loại mạch "ngũ dương" và "ngũ âm", còn phải nghiên cứu đánh giá tình hình nặng nhẹ thanh trọc của nó, sau đó mới có thể tổng hợp dự đoán trạng thái vận động của sinh mệnh và từ đó đưa ra định hướng vận mệnh về các vấn đề quý, tiện, bần, phú, thọ, yểu, do đó tứ doanh mạch cũng vô cùng quan trọng.

Ở đây ta chỉ bàn đến giá trị chẩn đoán y học là chính, từ trong mạch tướng có những điểm cơ bản xuất phát từ giá trị chẩn đoán của Đông y. Còn những vấn đề đi sâu vào hệ thông tướng thuật ta không cần thảo luận rườm rà.

Trên đây là hai phương diện được trích lọc ra trong tướng thuật và Đông y về diện tướng và mạch tướng để độc giả tham khảo thêm.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 1: Chương 7.

Quan tâm  
4

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Nấm Độc Trắng Hình Nón - Amanita Virosa
Khi bị ngộ độc Nấm Độc Trắng Hình Nón (Amanita Virosa) bệnh nhân sẽ đau bụng, buồn nôn, nôn dữ dội, khát dữ dội và ỉa chảy kéo dài 2-3 ngày, sau đó người bị ngộ độc sẽ bị co giật, mất ý thức, tổn thương gan thận, hôn...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Tùng Lam - Isatis Tinctoria
Theo các nhà nghiên cứu tại Viện thí nghiệm cây công nghiệp ở Bologna (Ý), trong cây Tùng Lam (Isatis tinctoria) có chứa một lượng lớn glucobrassicin (GBS), một chất có khả năng chống ung thư và hiện được sử dụng như nguồn dược liệu...
Triệu Chứng Và Cách Xử Lý Khi Ngộ Độc Tetrodotoxin
Tetrodotoxin rất độc với thần kinh, ức chế kênh natri, đặc biệt ở cơ vân, ngăn cản phát sinh điện thế và dẫn truyền xung động, hậu quả chính là gây liệt cơ và suy hô hấp, dễ tử. Để được cứu sống, bệnh nhân cần được đảm...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Điềm Qua Tử
Điềm Qua Tử là hạt quả Dưa Bở có vị ngọt, tính hàn; có tác dụng tán kết tiêu ứ, thanh phế, nhuận tràng. Được dùng Trị ho do nhiệt, miệng khát, suy giảm chức năng ở ruột và phổi, táo bón; trị đờm; giúp nhuận tràng.
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.