Chủ nhật, 24/06/2018 9:09 PM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Lưỡi

Thứ sáu, 09/02/2018 1:56 PM

Trong Đông Y, người ta thông qua lâm sàng quan sát sự thay đổi về chất lưỡi, thể lưỡi, rêu lưỡi và mạch lạc dưới lưỡi để đạt được mục đích chẩn đoán và biện chứng bệnh. Phương pháp như thế gọi là Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Lưỡi.

Đông Y chỉ cần quan sát chất lưỡi, thể lưỡi, rêu lưỡi và mạch lạc dưới lưỡi là có thể tìm ra bệnh.

Phương pháp chẩn lưỡi (thiệt chẩn) ở các nước phương Đông đã có một nền lịch sử lâu đời, trong văn thư ghi trên mai rùa khai quật được của đời nhà Ân xa xưa đã có ghi chép về thiệt chẩn. Trong "Nội kinh" hơn 2000 năm trước đây cũng đã có ghi chép về vấn đề nhìn lưỡi chẩn bệnh, như "Linh khu. Ngũ duyệt ngũ sử" có nói: "Người bệnh tim, lưỡi cong ngắn, má đỏ"; "Tố vấn. Thích nhiệt luận" nói rằng: "Người bị bệnh phế nhiệt... trên lưỡi vàng". Nhưng trong "Nội kinh" quan sát chẩn đoán chất lưỡi và thể lưỡi trùng nhau. "Nan kinh" thời chiến quốc và "Trung tạng kinh" đời nhà Hán cũng ghi lại chất lưỡi và thể lưỡi trùng nhau, "Trung tạng kinh" nói: "Tâm tỳ đều trúng phong, tất lưỡi cứng không thể nói được". "Thương hàn tạp bệnh luận" của Trương Trọng cảnh cuối đời đông Hán đối với thiệt chẩn cũng phát huy cao độ. Đến thế kỷ thứ 13 đã có sách chuyên môn nói về thiệt chẩn là "Ngao thị thương hàn kim kính lục", sách này đã đưa ra 36 dạng bệnh thái của lưỡi, đã đặt cơ sở nền móng cho biện luận về lưỡi. Đến đời nhà Thanh, do sự nổi bật lên của học thuyết ôn bệnh, đã thúc đẩy phát triển thiệt chẩn, càng làm cho thiệt chẩn được ứng dụng rộng rãi, càng làm cho thiệt chẩn được ứng dụng rộng rãi trong bệnh ngoại cảm nhiệt, cho đến nay thiệt chẩn đã trở thành một phương pháp chẩn đoán không thể thiếu được trong chẩn đoán học của Đống y, lâm sàng thông qua quan sát sự thay đổi về chất lưỡi, thể lưỡi, rêu lưỡi và mạch lạc dưới lưỡi để đạt được mục đích chẩn đoán và biện chứng bệnh.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Lưỡi có quan hệ mật thiết với tạng phủ, mà mốì liên hệ giữa lưỡi với tạng phủ chủ yếu thông qua sự tuần hành của kinh lạc và kinh cân để nốĩ liền với nhau. Ví dụ thủ thiếu âm tâm kinh "hệ thiệt bản"; túc thái âm tỳ kinh "liên thiệt bản, tán thiệt hạ"; túc thiếu âm thận kinh "hiệp thiệt bản"; túc quyết âm can kinh "lạc thiết bản"... về phương diện kinh cân, như túc thái dương chi cân "kỳ cái giả, biệt nhập kết vu thiệt bản"; túc thiếu dương đảm chi cân "nhập hệ thiệt bản".... Còn có mối liên hệ thống qua kinh mạch giữa môi miệng với lưỡi, như là túc dương minh vị kinh "giáp khẩu vành môi"; thủ dương minh đại tràng kinh "hoàn xuất giáp khẩu", thủ thái dương tiểu tràng kinh "tuần yết". Các kinh mạch khác như nhâm, đốc, xung mạch cũng đi qua môi miệng, một số kinh mạch còn thông qua mốì quan hệ biểu lý (trong ngoài) tương ứng với miệng lưỡi. Cho nên mới có thuyết "không mạnh không thông với lưỡi". Chứng minh rằng lưỡi có quan hệ mật thiết với các kinh mạch trong cơ thể. Mà ngũ tạng lục phủ đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan với lưỡi thông qua kinh lạc, kinh cân. Về mặt sinh lý thì tinh khí của tạng phủ thượng vinh lên lưỡi, về mặt bệnh lý thì các bệnh của tạng phủ tất nhiên cung ảnh hưởng gây nên thay đổi của tinh khí mà phản ánh ở lưỡi.

2. Trong các tạng phủ thì mối quan hệ giữa tâm, tỳ, vị với lưỡi là mật thiết nhất. Do bởi lưỡi là miếu đường của tâm, tâm khí thông ở lưỡi. Trong "Linh khu. Mạch độ" có nói: "Tâm khí thông qua ở lưỡi, tâm hòa thì lưỡi mới có thể nhận biết được ngũ vị". "Tố vấn. Âm dương ứng tượng đại luận" nói: "Tâm chủ huyết, khai khiếu tại lưỡi". Cũng có sách nói rằng: "Lưỡi chủ tâm tạng, nhiệt tất làm lưỡi sinh sang nứt phá, làm môi ứ đỏ". Điều đó nói lên mối tương quan giữa tâm và lưỡi. Huyết lạc của chất lưỡi vô cùng phong phú, có liên quan đến chức năng của mạch máu chính của tim. Sự vận động linh hoạt của lưỡi có thể điều tiết âm thanh để hình thành ngôn ngữ, lại có liên quan đến chức năng chủ thần chí của tâm. Do đó, thiệt tượng trước hết phản ánh tình trạng chức năng của tâm. Mà tâm lại là chủ thông soái lục phủ ngũ tạng, chi phối trạng thái chức năng của khí huyết, tạng phủ toàn thân, vì vậy, trạng thái chức năng của tim cũng phản ánh trạng thái chức năng khí huyết tạng phủ toàn thân. Từ đó ta thấy, xuất hiện triệu chứng bệnh của khí huyết tạng phủ, tất nhiên phải thông qua tim mà phản ánh ở lưỡi.

Lấy tỳ vị mà nói, mạch túc thái âm tỳ kinh "liên lạc với lưỡi, tán ra ở dưới lưỡi", tỳ chủ về cơ nhục, thiệt là cấu trúc cơ bắp, cho nên lưỡi liên quan mật thiết với tỳ. Trong "Linh khu. Kinh mạch" nói: "Tỳ là mạch thái âm... là động tất bệnh ở gốc lưỡi", vì vậy mối có thuyết "lưỡi là triệu chứng bên ngoài của tỳ". Lưỡi lại là triệu chứng bên ngoài của vị, nguồn rêu lưỡi là ở vị, do vị khí hun chưng mà thành. Hơn nữa, cảm giác của lưỡi có thể ảnh hưởng đến ăn uống, có liên quan đến chức năng của tỳ về vận hóa và vị chủ về thu nạp. Mà tỳ vị là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết, ngũ tạng đều bẩm khí ở tỳ vị, tỳ vị đều có ảnh hưởng lớn đến mọi chuyển biến nặng nhẹ của các bộ phận toàn thân. Vì vậy, thiệt tượng không chỉ đơn thuần phản ánh tính trạng chức năng của tỳ vị, mà còn biểu hiện tình hình thịnh suy của khí huyết, tân dịch của toàn thân. Thế nhưng, tinh của ngũ tạng lục phủ lại đều quy tàng ở thận, thận là gốc của tiên thiên, hệ kinh mạch của nó có ở lưỡi, do vậy nói rằng tinh khí của ngũ tạng lục phủ thông qua tỳ vị hậu thiên và thận tạng tiên thiên mà liên quan với lưỡi, cho nên bệnh ở ngũ tạng lục phủ đều có thể phản ánh trên lưỡi.

3. Lưỡi là một cơ quan có phản ứng nhậy cảm nhất của cơ thể, niêm mạc lưỡi là nơi các tế bào của cơ thể trao đổi dưỡng khí sôi động nhất. Vì thế, các bệnh tật của các hệ thống trong cơ thể đều có thể phản ánh nhậy cảm nhất ra lưỡi, cho nên có người nói rằng; "Sự thay đổi của lưỡi, thường đi kèm với rối loạn ở các hệ thống". Trong đó chất lưỡi có khả năng phản ánh bệnh nhậy cảm nhất. Màu lưỡi là cơ sở phản ánh bản sắc tạng phủ, mọi thay đổi sắc trạch chất lưỡi có liên quan đến hệ thống vận hành và sự đầy vơi của khí huyết, qua nghiên cứu hiện đại phát hiện thấy lưỡi có liên quan đến tốc độ lưu thông của máu, độ đậm đặc của máu, sự co rút của mạch máu và khối lượng máu. Rêu lưỡi là do tỳ vị hun chưng mà thành, cho nên chịu sự ảnh hưởng khá lớn của sự vận hóa, đục trong và mức độ thăng trầm của tỳ vị, về y học hiện đại mà nói, mức độ dầy mỏng, sự bong tróc của rêu lưỡi, quyết định ở tình trạng các núm vú mặt lưỡi, núm vú lưỡi khô héo tất rêu lưỡi bong tróc, tế bào trên bề mặt núm vú lưỡi bị sừng hóa phân hóa quá nhiều không thoát rụng tất rêu lưỡi sẽ dầy lên.

Do mối quan hệ giữa chất lưỡi với khí huyết toàn thân tương đối lớn, do đó chất lưỡi phản ánh tương đối mạnh tình hình bệnh tật toàn cục của cơ thể, về sự tương đối với rêu lưỡi mà nói, chất lưỡi phần lớn biểu thị triệu chứng hư của chính khí. Rêu lưỡi có môi quan hệ chặt chẽ với tỳ vị, rêu lưỡi không những phản ánh bệnh tật toàn cục, mà còn phản ánh cái thực của tà khí. Vì vậy, cổ nhân xưa mới có thuyết "Biện chất lưỡi có thể quyết hư thực của ngũ tạng, nhìn rêu lưỡi có thể thấy được mức độ nông sâu của lục dâm".

Phương pháp phân chia các bộ vị trong thiệt chẩn, đại thể có thể chia thành 4 phần cơ bản là đầu lưỡi, giữa lưỡi, góc lưỡi và cạnh lưỡi. Do tâm phế ở trên, cho nên đầu lưỡi báo các triệu chứng của tâm và phế; tỳ vị ở giữa cho nên giữa lưỡi báo các triệu chứng của tỳ vị; mạch của can đảm (gan mật) phân bố ở hai bên sườn, cho nên hai bên cạnh lưỡi báo triệu chứng của gan mật; thận ở hạ tiêu, cho nên gốc lưỡi báo triệu chứng của thận (hình 1-55). Đây là phương pháp phân chia dựa vào ngũ tạng. Còn có một phương pháp phân chia dựa vào vị kinh, đó là đầu lưỡi thuộc trên dạ dầy; giữa lưỡi thuộc phần giữa dạ dầy; gốc lưỡi thuộc phần dưới dạ dầy. Phương pháp này thích ứng với phương diện chẩn đoán các bệnh dạ dầy (hình 1-56).

[Phương pháp quan sát chẩn đoán]

Phương pháp thiệt chẩn: Để bệnh nhân ngồi với tư thế ngay ngắn, mặt quay ra hướng ánh sáng tự nhiên, há miệng rộng, thò lưỡi ra ngoài miệng thật tự nhiên, để lộ toàn bộ lưỡi, đầu lưỡi cong xuống, để lộ rõ phần hai bên lưỡi, sau đó tiến hành quán sát tỷ mỉ. Thứ tự quan sát, xem chất lưỡi trước, từ đầu lưỡi theo 2 bên đến gốc lưỡi, bao gồm thần lưỡi, sắc lưỡi, hình lưỡi, trạng thái lưỡi; kế đến xem đến rêu lưỡi, bắt đầu từ đầu lưỡi, thứ tự đến giữa và gốc lưỡi, tìm hiểu về tình hình nhiều ít, dầy mỏng, sắc trạch, nhuận táo, rữa nhầy của rêu lưỡi. Do bởi vị trí chất lưỡi ở sâu khó quan sát phân biệt, rêu lưỡi ở trên bề cạn chất lưỡi dễ quan sát, hơn nữa, do thời gian thè lưỡi quá lâu, chất lưỡi có thể chịu sự thay đổi biến hình theo tự nhiên của mạch máu mà tạo ra giả tượng, mà rêu lưỡi bắt nguồn từ chất lưỡi, nên chúng chịu ảnh hưởng của thời gian lưỡi thò ra ngoài và thay đổi. Vì vậy khi bác sĩ khám lưỡi cần phải nhanh chóng, không để bệnh nhân há miệng thè lưỡi quá lâu, để tránh gây mệt mỏi phần miệng lưỡi của bệnh nhân. Nếu xét cần thiết, có thể để bệnh nhân nghỉ mấy phút rồi lại khám tiếp. Muốn tìm hiểu thêm tình hình chất lưỡi và thể lưỡi, có thể dùng biện pháp cạo rêu lưỡi để dễ quan sát, hoặc dùng kính phóng đại để quan sát. Phương pháp cạo rêu lưỡi chỉ nên dùng đối với trường hợp rệu lưỡi dầy nhầy và chắc. Khi cạo rêu lưỡi, dùng thanh cạo và ấn lưỡi đã qua sát trùng, khử độc, dùng lực vừa phải cạo chậm từ gốc lưỡi ra đầu lưỡi, có thể cạo vài lần. Cạo bóc rêu lưỡi phù hợp với loại rêu lưỡi nổi mỏng mà tơi xốp. Dùng vải màn vô trùng hoặc bông thấm nước muối sinh lý, làm cho bề mặt rêu lưỡi thấm ướt, dùng lực vừa phải, cạo liên tục 4 - 5 lần từ gốc lưỡi đến đầu lưỡi. Khi tiến hành thiệt chẩn, cần chú ý mấy điểm sau đây:

(1) Trước khi nhìn lưỡi, cần để bệnh nhân thò lưỡi tự nhiên, nhất thiết không được, uốn cong hoặc dùng lực quá mức, nếu không cơ lưỡi bị căng thẳng, chèn ép huyết mạch dẫn đến thay đổi sắc lưỡi mà tạo ra giả tượng.

(2) Nên chọn nơi có ánh sáng tự nhiên đầy đủ để cho ánh sáng chiếu rõ mặt lưỡi. Ánh sáng không thích hợp, mạnh hoặc yếu quá có thê gây nên sự thay đổi màu sắc của lưỡi, ánh sáng yếu có thể làm cho màu lưỡi bị tốì, ánh sáng đèn trắng có thể làm cho màu lưỡi bị vàng, ánh đèn huỳnh quang có thể làm cho màu lưỡi bị xanh. Ngoài ra ánh sáng ở gần cánh của có màu xiên qua cũng có màu nhất định của nó, cũng thường gây nên sự biến màu vốn có của rêu lưỡi, vì vậy cần phải tránh.

(3) Cần chú ý đến sự ảnh hưởng của thiệt tượng do vấn đề ẩm thực và dược vật (thuốc). Ẩm thực thường gây ra sự thay đổi về hình và sắc của rêu lưỡi. Nếu uống sữa bò hoặc trẻ em bú sữa, phần lớn có rêu lưỡi màu trắng; ăn những thực phẩm giàu chất béo như lạc, dưa, các loại đậu, đào, hạnh nhân..., thường tạo ra lớp cặn bã màu vàng trắng trên mặt lưỡi trong thời gian ngắn, giống như rêu lưỡi nhầy; ăn canh mơ chua, uống cà phê, chè, nước nho hoặc rượu, trám muôi... hoặc các chất bổ có sắt thường làm cho rêu lưỡi có mầu đen nâu hoặc màu nâu nước chè. Ăn lòng đỏ trứng, quýt, hồng, kẹo..., hoặc dùng thuốc có bột hoàng liên, hạt hoàng tố đều có thể làm cho rêu lưỡi có màu vàng; dùng thuốc hoàn tán chế từ đan sa, thường làm cho rêu lưỡi bị nhuộm đỏ. Do bởi sự cọ sát với thức ăn khi ăn uống, hoặc có thói quen hay cạo rêu lưỡi, thường gây nên cho lớp rêu lưỡi dầy bị mỏng bớt; khi ăn uống bị kích thích của đồ ăn lạnh quá hoặc nóng quá thường làm cho sắc lưỡi bị thay đổi. Khi há miệng hô hấp hoặc vừa mới uống nước cũng làm thay đổi tình trạng nhuận táo của mặt lưỡi.

(4) Thiệt tượng bình thường, thường có sự thay đổi nhỏ theo sự thay đổi của thời tiết và sự khác nhau về thời gian. Như về mùa hè thời tiết nóng ẩm, đa số rêu lưỡi dầy, hoặc có màu vàng nhạt; về mùa thu thời tiết hanh khô, rêu lưỡi phần lớn mỏng mà khô; mùa đông giá lạnh, lưỡi thường thấp nhuận (ướt). Lại như sáng sớm ngủ dậy, rêu lưỡi đa số dầy, sau khi đánh răng súc miệng, ăn uống, rêu lưỡi sẽ mỏng bớt; vừa mới ngủ dậy, màu lưỡi có thể ám trệ, sau khi hoạt động, sẽ được hồng hoạt hơn.

(5) Trong đại đa số quần chúng bình thường, tùy theo sự khác nhau về tuổi tác và thể chất mỗi người, tình trạng thiệt tượng cũng có những biểu hiện khác nhau. Như người già khí huyết theo chiều hướng hư, lưỡi thường có biểu hiện rạn nứt, các núm vú lưỡi cũng có hiện tượng co rút khô héo. Trẻ em dễ mắc tật lưỡi, xuất hiện mùn trắng hoặc lột rêu lưỡi; người béo đa số lưỡi hơi to mà chất lưỡi nhạt, người gầy thể lưỡi hơi gầy mà chất lưỡi thiên về hồng đỏ. Một số hiện tượng vừa nêu trên đây, trong lâm sàng cần kết hợp cụ thể giúp cho việc phân biệt dễ dàng và rõ ràng hơn. Thiệt tượng bình thường, nói đơn giản là lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng. Cụ thể hơn là lưỡi mềm mại, hoạt động linh hoạt như ý, màu sắc đỏ nhạt mà hồng hoạt tươi sáng; gầy, béo to nhỏ vừa phải, không có hình thái dị dạng; rêu lưỡi màu trắng, các núm vú bằng đều phủ mỏng đều trên mặt lưỡi, cạo không mất, dưới nó có gốc rễ, khô ướt vừa phải, không dính, không nhầy.... Tóm lại tổng hợp biểu hiện các nhân tố cơ bản bình thường về chất lưỡi, rêu lưỡi, đều là thiệt tượng bình thường.

[Vận dụng lâm sàng]

I. Chân đoán chất lưỡi

1. Thần lưỡi: Thần lưỡi chủ yếu biểu hiện ở phương diện vinh, khô và linh động của chất lưỡi. "Vinh" tức là vinh nhuận hồng hoạt, có sinh khí, có sắc thái, vì thế gọi đó là có thần, tuy có bệnh cũng là dự báo tốt. "Khô" là khô khan, không một chút sinh khí, không có quang trạch, vì vậy gọi là vô thần, là dự báo ác tính.

2. Màu lưỡi: Là chỉ về màu sắc của chất lưỡi, trong lâm sàng phân làm 7 màu là hồng nhạt, trắng nhạt, đỏ, đỏ thẫm, tím, lam, xanh, ngoài màu lưỡi hồng nhạt là bình thường, các màu khác đều là biểu hiện màu lưỡi của bệnh tật.

(1) Lưỡi hồng nhạt: sắc lưỡi trong màu trắng thấu hồng, không đậm không nhạt, hồng nhạt vừa phải, hồng hoạt tươi sáng, đó là biểu tượng khí huyết thượng vinh, nói lên tâm huyết đầy đủ, dương khí bố hóa, cho nên gọi là màu lưỡi bình thường. Người xưa cho rằng lưỡi là quan của tâm, đỏ là khí của tâm, nhạt là khí của vị, cần phải hồng nhạt, là dự báo người bình thường khỏe mạnh, nếu thấy đỏ sáng lộ ra ngoài làm cho lưỡi có màu đỏ nhạt, cũng thuộc màu sắc chủ về bệnh.

(2) Lưỡi trắng nhạt: Màu lưỡi không có chút sắc máu, gọi là màu trắng nhạt. Do bởi dương khí bất túc, chức năng sinh hóa âm huyết suy giảm, dẫn đến máu không vận hành cung ứng đầy đủ lên. chất lưỡi, cho nên màu lưỡi cạn nhạt mà trắng. Lưỡi trắng nhạt chủ về hư chứng, hàn chứng hoặc khí huyết lưỡng hao. Nếu trắng nhạt ướt nhuận, mà thể lưỡi béo mềm, đa số là dương hư hàn chứng. Trắng nhạt sáng, hoặc thể lưỡi gầy mỏng, là thuộc chứng khí huyết lưỡng hao.

(3) Lưỡi đỏ: Màu lưỡi đỏ nhạt mà sâu, thậm chí có màu đỏ tươi, gọi là lưỡi đỏ. Chủ về nhiệt chứng. Do huyết được nhiệt mà lưu hành, nhiệt thịnh tất khí huyết cuồn cuộn, mạch lạc thể lưỡi tràn đầy, cho nên có màu đỏ tươi. Nếu lưỡi đỏ tươi mà lại bốc nóng, hoặc kèm theo rêu lưỡi màu vàng dầy, đa số thuộc chứng thực nhiệt. Nếu đỏ tươi mà ít rêu lưỡi, hoặc có vân rạn nứt hoặc đỏ sáng không có rêu lưỡi, là thuộc chứng hư nhiệt. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng thô ráp, là hiện tượng ôn táo thương phế; chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng thô ráp, đa số do táo tà hao thượng vị âm, không thể thượng nhuận cho lưỡi; chất lưỡi đỏ mà khô ráp, là chứng huyết hư sinh nhiệt.

(4) Lưỡi giáng (đỏ thâm): Giáng là màu đỏ thẫm, màu của nó sâu đậm hơn so với màu đỏ hồng, gọi là lưỡi giáng. Là triệu chứng khí ôn nhiệt chưng lên, chủ về chứng nhiệt cực, đồng thời có phần ngoại cảm nội thương. Trong chứng bệnh ngoại cảm nếu lưỡi giáng hoặc có điểm đỏ; nóng bốc, là ôn bệnh nhiệt nhập doanh huyết. Trong nội thương tạp bệnh, nếu lưỡi giáng ít rêu lưỡi hoặc không có rêu lưỡi, hoặc có vân rạn, là âm hư hỏa vượng, hoặc dịch vị, thận đều kiệt. Nếu lưỡi giáng mà rêu lưỡi táo vàng dầy, đa số tân dịch đã hao. Lưỡi giáng mà táo không có rêu lưỡi, là triệu chứng tân dịch cực hự. Lưỡi giáng ít rêu lưỡi mà tân nhuận, đa số là huyết ứ.

(5) Lưỡi tím: Màu chất lưỡi tím. Trong lâm sàng có mấy loại như tím nhạt, tím giáng, tím xanh. Các nguyên nhân gây ra hiện tượng này do máu ứ trệ, hoặc do hàn, nhiệt, hoặc do dương hư khí nhược, hoặc ngộ độc rượu cồn, tích thực, đàm kết, đình ẩm, thấp nhiệt, dẫn đến huyết hành không thông, ứ mà có màu tím. Màu tím chủ về có bệnh, không ngoài các triệu chứng nhiệt thịnh thương tân, khí huyết ủng trệ; hoặc huyết uẩn thấp nhiệt, nhiệt tà nhập huyết, doanh nhiệt kèm ứ; hoặc hàn ngưng huyết ứ; hoặc dương hư sinh hàn; hoặc sau khi uống rượu bị thương hàn, tửu thực thấp trệ.... Nếu lưỡi xanh tím khô tối như màu gan, đa số là khí huyết phân ly, nội tạng bại hoại, là điềm bất lành. Trên lưỡi có ban điểm màu tím, gọi là điểm ứ hoặc ban ứ, đa số là chứng huyết ứ. Lưỡi tím chủ bệnh có phần hàn nhiệt. Tím giáng mà khô ít nước, là nhiệt thịnh thương tân, khí huyết ủng trệ; tím nhạt hoặc xanh tím thấp nhuận, đa số là hàn ngưng huyết ứ.

(6) Lưỡi màu lam: sắc lưỡi như màu chàm, như màu xanh nhuộm vải, gọi là lưỡi màu lam, là thiệt tượng thuộc loại bệnh tình nguy nặng. Lưỡi màu lam có rêu lưỡi là dương hỏa nội công tâm, can, phế, tỳ, vị, nhiệt thương phần khí gây ra kinh bất hành huyệt, tạng phủ tuy tổn thương nhưng chưa nặng, còn có thể trị được; nếu màu lam sáng không có rêu lưỡi, bất luận là mạch chứng như thế nào, đều thuộc chứng khí huyết hao cực, bệnh thế kéo dài. Ngoài ra bệnh ôn dịch thấp ôn nhiệt tà bất giải, cũng có thể xuất hiện màu lam nhạt phân bố không khắp mặt lưỡi. Nếu thấp tà đàm ẩm, có thể xuất hiện lưỡi có màu lam ở phần giữa lưỡi, có chất bóng nhầy, là triệu chứng âm tà hóa nhiệt. Nếu chất lưỡi từ nhạt chuyển sang xám, đen chuyển sang tím, tím chuyển sang lam, là tà độc công tâm đã thậm, khó trị.

(7) Lưỡi xanh: lưỡi xanh là màu như gân xanh bộc lộ trên da, không có sắc hồng, gọi là lưỡi xanh, cổ nhân có cách hình dung như lưỡi trâu. Do bởi âm hàn tà thắng, dương khí uất mà bất tuyên, huyết dịch ngưng mà ứ trệ, vì vậy lưỡi trở nên xanh. Chủ về hàn ngưng dương uất và ứ huyết. Lưỡi xanh hoàn toàn, đa số là hàn uất trực trong gan thận, dương uất mà bất tuyên; cạnh lưỡi màu xanh, hoặc miệng táo mà súc nước không muôn uống, là trong có huyết ứ.

3. Hình lưỡi: Là chỉ hình trạng của thể lưỡi, bao gồm các dạng hình trạng như béo gầy, cứng mềm, đầy lép, và cả một số bệnh thái đặc thù khác.

(1) Dạng lưỡi già và non: Già là đường vân chất lưỡi thô ráp, hình sắc cứng gò bó già nua, bất luận màu rêu lưỡi như thế nào, đều thuộc thực chứng. Non là đường vân chất lưỡi nhỏ mịn, hình sắc phù béo, mềm mại, nói chung đều thuộc hư chứng.

(2) Lưỡi béo to: lưỡi to hơn so với lưỡi bình thường, thò lưỡi ra đầy cả miệng, gọi là lưỡi to béo. Đa số do thủy thấp đàm ẩm trở trệ gây ra. Nếu lưỡi màu trắng nhạt béo mềm, rêu lưỡi ướt bóng, là thuộc tỳ thận dương hư, tân dịch bất hóa, gây ra tích thủy đình ẩm; nếu lưỡi đỏ nhạt hoặc đỏ mà béo to, kèm theo rêu lưỡi vàng nhầy, đa số là tỳ vị thấp nhiệt công nhau với đàm trọc, thấp nhiệt đàm ẩm tràn lên gây ra.

(3) Lưỡi sưng tấy: Thể lưỡi sưng to đầy cả miệng, người nặng thì đến mức không khép được miệng, không thể co lại được, gọi là lưỡi sưng tấy. Có 3 nguyên nhân chính gây nên hiện tượng này: Một là tâm tỳ có nhiệt, huyết lạc nhiệt thịnh khí huyết thượng ủng, lưỡi đa số đỏ tươi mà sưng tấy, người bị nặng kèm theo đau đớn; Hai là uống rượu, vừa là bệnh ôn nhiệt, tà nhiệt kèm theo thủ độc thượng ủng, đa số thấy lưỡi tím mà sưng tấy; Ba là do ngộ độc dẫn đến máu bị ngưng trệ, thì lưỡi có màu xanh tím ám tốì mà sưng tấy. Cũng có nguyên nhân do huyết lạc phần lưỡi bị uất bế bẩm sinh, dẫn đến lưỡi tím mà sưng tấy. Ngoài ra, lưỡi sưng tấy đầy miệng mà chất rêu lưỡi màu vàng, sắc tươi sáng, là lưỡi vàng tương, do thấp nhiệt uẩn ở tỳ vị, hun chưng gan mật, dịch mật tràn ra ngoài. lưỡi sưng cứng mất cả chuyển động là lưỡi mộc, là tâm kinh có nhiệt, tâm huyết bị chước tổn.

(4) Lưỡi điểm chích: Điểm tức là những điểm sao, có màu đỏ, màu trắng hoặc màu đen nổi lên trên bề mặt lưỡi, còn gọi là lưỡi sao đỏ. Chích là có những hạt như gai mềm trên mặt lưỡi, chẳng những lớn lên mà còn lớn dần hình thành mũi nhọn, nhô cao như mũi kim, sờ nó như gai đâm vào tay. Điểm chích đa số thấy ở cạnh đầu lưỡi. Nếu trên mặt lưỡi xuất hiện các ban, điểm màu xanh tím hoặc màu tím đen to nhỏ khác nhau, hình trạng bất nhất, đồng thời không lồi ra khỏi mặt lưỡi, thì gọi là ban ứ.

Bất luận là điểm đỏ điểm đen hay điểm trắng đều do nhiệt độc xí thịnh, thâm nhập phần huyết gây ra. Nhưng điểm đỏ đa số chủ về ôn độc nhập huyết, hoặc nhiệt độc thặng tâm, hoặc thấp nhiệt uẩn ở phần huyết; điểm trắng đa số là tỳ vị khí hư mà nhiệt độc công xung, là triệu chứng sắp rữa nát; điểm đen đa số là ở trong huyết nhiệt thậm mà khí huyết ủng trệ.

Lưỡi thấy có ban ứ, bệnh cảm nhiệt ở ngoài, nhiệt nhập doanh huyết, khí huyết ủng trệ, hoặc sắp phát ban, bệnh thương tạp ở trong, đa số là triệu chứng huyết ứ.

Lưỡi nổi gai, là nhiệt tà nội kết gây ra, vô luận là nhiệt ở thượng tiêu, trung tiêu hay hạ tiêu, vô luận là ở phần khí hay phần doanh, tất cả đều thuộc tà nhiệt kháng thịnh, nổi gai mà kèm theo rêu lưỡi vàng cháy, đa số là phần khí nhiệt cực. Lưỡi giáng không có rêu lưỡi mà sinh gai, là nhiệt nhập doanh huyết đã tổn thương phần âm. Căn cứ vào vị trí xuất hiện gai, còn có thể phân biệt nhiệt ở tạng nào. Nếu sinh gai ở phần đầu lưỡi là tâm hỏa kháng thịnh; giữa lưỡi là vị tràng nhiệt thịnh....

(5) Lưỡi gầy mỏng: Thể lưỡi gầy mà mỏng, gọi là lưỡi gầy mỏng. Thường do khí huyết âm dịch bất túc, không thể bổ sung đầy đủ cho lưỡi gây ra. Do đó chủ về khí huyết lưỡng hư và âm hư hỏa vượng. Gầy mỏng màu mầu nhạt, đa số là khí huyết lưỡng hư, gầy mỏng mà màu đỏ giáng khô táo, đa số là âm hư hỏa vượng, tân dịch hao thương. Vô luận là bệnh mới hay cũ, phàm là thấy lưỡi gầy tóp, lại thêm khô héo không có tân dịch, đa số dự báo diễn biến và phát triển xấu.

(6) Lưỡi rạn nứt: Trên mặt lưỡi không có rêu lưỡi, mà có các rãnh nứt rạn với số lượng không hạn chế, sâu cạn khác nhau, các dạng hình thái rõ ràng, gọi là lưỡi rạn vân. Có đường sâu như dao rạch, có đường ngắn nhỏ mà ngang thẳng, có loại như bụi cỏ, hình chữ tỉnh # hoặc hình phóng tia xung quanh.... Tất cả thuộc về âm huyết hao tổn, không thể vinh nhuận, cho mặt lưỡi mà gây nên. Có 3 nguyên nhân gây nên bệnh này: Một là nhiệt thịnh thương âm; hai là huyết hư bất nhuận; ba là tỳ hư thấp xâm. Lưỡi đỏ giáng mà có vân rạn nứt, đa số là nhiệt thịnh thương tân, hoặc âm hư dịch khô; lưỡi trắng nhạt mà có vân rạn, đa số là huyết hư bất nhuận; nếu màu trắng nhạt bẻo mềm, viền biên có vết răng lại có cả vân rạn, là thuộc tỳ hư thấp xâm.

(7) Lưỡi sáng bóng: Mặt lưỡi sáng sạch như kính, sáng bóng không có rêu lưỡi, gọi là lưỡi sáng bóng, cũng còn gọi là lưỡi mặt kính. Chủ yếu đo vị âm khô kiệt, vị khí đại thương dẫn đến tình trạng không có khí sinh phát cho nên mặt lưỡi sáng bóng không có rêu lưỡi. Bất luận màu lưỡi như thế nào, đều thuộc nguy chứng vị khí sắp tuyệt. Nếu lưỡi trắng nhạt mà sáng bóng, là tỳ vị tổn thương, khí huyết lưỡng hao đến cực điểm; nếu lưỡi đỏ giáng mà sáng bóng, là thủy kiệt hỏa viêm, vị thận âm dịch khô kiệt.

(8) Lưỡi có ngấn răng: Đường viền biên của thể lưỡi có dấu ngấn răng, gọi là lưỡi ngấn răng hay gọi là lưỡi có dấu ấn răng. Đa số do thể lưỡi béo to, bị răng chèn ép viền biên gây ra, cho nên thường gặp cùng với dạng lưỡi to béo. Do bởi tỳ hư không thể vận hóa thủy thấp, dẫn đến thể lưỡi béo to, vì vậy lưỡi ngấn răng chủ về tỳ hư và thấp thịnh. Nếu lưỡi trắng nhạt mà thấp nhuận, là thuộc hàn thấp ủng thịnh; nếu đỏ nhạt mà có dấu ngấn răng, đa số là tỳ hư hoặc khí hư.

(9) Lưỡi trùng: Huyết lạc ở dưới lưỡi thũng gồ lên, giống như sinh ra một tầng lưỡi nhỏ, vì thế gọi là lưỡi trùng. Nếu huyết lạc 2 - 3 chỗ cùng nổi lên phát sinh xuyên liền với nhau, còn gọi là lưỡi liên hoa (hoa sen). Chủ yếu do tâm kinh hỏa nhiệt, tuần kính thượng xung gây ra.

(10) Lưỡi chảy máu: Chảy máu trên mặt lưỡi, đa số do tâm kinh nhiệt thậm, bức huyết vọng hành gây ra, nhưng cũng có trường hợp phế vị nhiệt thịnh, hoặc can hỏa, hoặc tỳ hư không thể thông nhiếp gây nên. Cho nên nó thuộc các chứng tâm hỏa, vị nhiệt, can hỏa, tỳ hư hoặc dương phù.

(11) Lưỡi ung: Trên lưỡi sinh ung, màu đỏ nhô cao sưng to, thường làm liên lụy đến cả cằm cũng bị sưng tấy cứng, đỏ đau. Nói chung cũng là do tâm kinh hỏa nhiệt kháng thịnh gây ra. Nếu phát sinh ở dưới lưỡi, đa số là tỳ thận tích nhiệt, tiêu tân chước dịch mà thành.

(12) Đinh lưỡi: Trên lưỡi sinh ra những huyết bao màu tím to như hạt đậu, gốc rễ cứng đau kịch liệt, gọi là đinh lưỡi. Đa số do tâm tỳ hỏa độc gây ra.

(13) Thiệt sang (mụn lở lưỡi): Trên lưỡi sinh ra những mụn lở to như hạt cao lương, phân tán ở trên dưới 4 xung quanh lưỡi, đau đớn, gọi là thiệt sang. Nếu do tâm kinh nhiệt độc thượng ủng mà thành, thì mụn lở lồi lên trên mặt lưỡi mà đau; nếu do hạ tiêu âm hư, hư hỏa thượng phù mà thành, thì đa số mụn lõm không lồi lên, cũng không có cảm giác đau.

(14) Thiệt tẩm (nấm lưỡi): Trên lưỡi sinh ra những mẩu thịt, mới lên như hạt đậu, dần dần đầu to ra đế nhỏ lại, giống như bông hoa hoặc như mào gà, bề mặt da của nó đỏ rữa chảy nước cực hôi, vô cùng đau đớn và trở ngại đến ăn uống, gọi là nấm vì hình của nó như nấm. Đa số do tâm tỳ uất hỏa, khí kết hỏa viêm mà thành. Nếu loét rữa thì đa số là triệu chứng ác tính; nếu sinh trưởng chậm, không loét không đau, dự báo diễn biến về sau tương đôi tốt.

(15) Nhìn lưỡi chẩn thương: Viền biên lưỡi có điểm ứ màu đỏ hoặc màu đen, có thể coi đó là triệu chứng báo thương. Nếu triệu chứng báo thương hiện rõ ở phần đầu lưỡi, biểu thị tâm phế có thương; ở phần giữa lưỡi, biểu thị tỳ vị có thương; ở phần gốc lưỡi biểu thị thận có thương; nếu ở 2 bên cạnh, biểu thị gan mật có thương.

4. Thiệt thái: Là chỉ về động thái của thể lưỡi, bao gồm mềm, cứng, run, lệch, co, nhăn....

(1) Lưỡi cứng: Thể bản lưỡi cứng rắn, vận động không linh hoạt, dẫn đến nói năng không rõ gọn, gọi là lưỡi cứng. Có 2 nguyên nhân gây ra tình trạng này: Một là ngoại cảm nhiệt, nhiệt nhập tâm bào, nhiễu loạn tâm thần, dẫn đến lưỡi không làm chủ được; hơn nữa do sát cao thương tân, gây ra gân mạch thất dưỡng, vì vậy lưỡi mất khả năng linh hoạt và mềm mại. Hai là bệnh tạp nội thương, can phong kèm đàn, trở ở liêm tuyền lạc đạo, hoặc can dương thượng kháng, phong hỏa thượng công, gân mạch mất nhu dưỡng, gây ra thể lưỡi cứng rắn. Do đó chủ bệnh của nó là nhiệt nhập tâm bào; sát cao thương tân; đàm trọc nội trở; trúng phong hoặc triệu chứng báo trước trúng phong. Nếu do nhiệt thịnh, đa số thấy chất lưỡi đỏ thẫm; nếu do đàm trọc, đa số lưỡi béo mà có rêu lưỡi dầy nhầy. Nếu thuộc trúng phong, lưỡi đa số đỏ nhạt hoặc xanh tím.

(2) Lưỡi mềm héo: Thể lưỡi mềm yếu, không có lực đưa đẩy, teo phế không linh hoạt, gọi là lưỡi héo mềm. Đa số do khí huyết hư nhược, âm dịch hao tổn, gân mạch thất dưỡng gây ra. Chủ bệnh của nó có 3 loại: Một là khí huyết đều hư; hai là nhiệt chước thương tân; ba là âm hư cực điểm. Bệnh lâu thì lưỡi nhạt mà héo, đa số là khí huyết đều hư; bệnh mới thì lưỡi khô đỏ mà héo, là nhiệt chước thương tân; bệnh lâu lưỡi giáng mà héo, là âm hư đã cực.

(3) Lưỡi rung động: Thể lưỡi rung động run rẩy, không thể tự chủ, gọi là lưỡi rung động. Nguyên nhân gây ra tình trạng này không ngoài hai phương diện là hư tổn và động phong. Do bởi khí huyết lưỡng hư, vong dương thương tân, làm cho gân mạch mất ôn dưỡng và nhu nhuận, vì thế mà run rẩy không yên; hoặc là nhiệt cực tân thương mà động phong, và gây ra rung động không dứt. Bệnh lâu lưỡi run, rung động nhẹ, đa số là khí huyết lưỡng hư hoặc dương hư; bệnh ngoại cảm nhiệt thấy có hiện tượng đó, mà rung động nhè nhẹ, đa số do nhiệt cực sinh phong, hoặc người bị ngộ độc rượu, gan bị nhiệt độc, nội kết hóa phong.

(4) Lưỡi xiên lệch: Thể lưỡi lệch sang một bên gọi là lưỡi xiên lệch. Đa sô do phong tà trúng lạc hoặc phong đàm trở lạc gây ra. Bệnh ở bên trái thì lệch sang bên phải, bệnh ở bên phải thì lệch sang bên trái. Chủ về trúng phong hoặc triệu chứng báo trước trúng phong. Nếu lưỡi tím đỏ thế cấp, đa số là can phong phát; kinh (co giật); nếu lưỡi đỏ nhạt thế hoãn, đa số là trúng phong thiên khô; nếu lưỡi có ban ứ, là ứ huyết nội trở; nếu lưỡi đỏ nhạt béo mềm, là khí huyết bị tổn.

(5) Lưỡi thổ lộng: Lưỡi thường xuyên thò ra ngoài miệng, gọi là thổ lưỡi. lưỡi hơi thò ra khỏi miệng lập tức thụt vào, hoặc liếm vòng quanh môi, liến thoắng không ngừng, gọi là lưỡi lộng (chơi), cả hai đều do hai kinh tâm tỳ có nhiệt gây ra. Tâm nhiệt tất động phong; tỳ nhiệt tất tân hao, gây ra gân mạch càng co không thư thái, dao động liên tục. Thổ lưỡi đa số thấy ở chứng dịch độc công tâm hoặc chính khí đã tuyệt. Lưỡi lộng đa số thấy ở triệu chứng báo trước động phong, hoặc trẻ em trí nàng phát triển không toàn vẹn.

(6) Lưỡi co ngắn: Thể lưỡi căng co không thể vươn dài ra, gọi là lưỡi co ngắn. Bất luận là do hư hay do thực, đều thuộc triệu chứng nguy nặng. Có 4 nguyên nhân gây nên tình trạng này: Một là hàn ngưng gân mạch, lưỡi đa số có màu trắng nhạt hoặc xanh tím mà thấp nhuận; hai là đàm trọc nội trở, đa số lưỡi béo mà rêu lưỡi dính nhầy; ba là nhiệt thịnh thương tân động phong, lưỡi đỏ đa số đỏ giáng mà khô; bốn là khí huyết đều hư, lưỡi đa số trắng nhạt béo mềm.

(7) Thiệt túng: Lưỡi thò dài ra ngoài miệng, thu vào khó khăn, hoặc không thể thu vào được, gọi là thiệt túng. Đa số do cơ gân của lưỡi bị giãn dọc gây ra. Nếu lưỡi màu đỏ thâm, thể lưỡi trướng đầy, hình lưỡi nhọn khô, là thực nhiệt nội cứ, đàm hỏa nhiễu tâm. Nếu thể lưỡi giãn rộng, tê dại hoặc tê liệt, là chứng khí hư. Phàm là lưỡi thò ra không thể thu vào, lưỡi khô khan không có rêu lưỡi, đa số là nguy nặng; thò ra mà có thể co vào, thể lười tân nhuận, là bệnh tình tương đốì nhẹ.

(8) Lưỡi tê dại: Lưỡi có cảm giác tê dại mà vận động không linh hoạt, gọi là lưỡi tê dại. Đều do doanh huyết không thể thượng vinh lên lưỡi mà thành. Chủ bệnh của nó là huyết hư can phong nội động, hoặc phong khí kẹp đàm.

(9) Lưỡi tự cắn: Phàm là không tự chủ mà cắn vào đầu lưỡi, gọi là lưỡi tự cắn. Là nhiệt độc thượng nhiễu thần minh hoặc động phong gây ra. Nếu tự cắn lưỡi mà rêu lưỡi trắng nhầy, thần trí hôn mê, là phong đàm thượng nhiễu. Lưỡi đỏ rêu lưỡi khô đen mà nổi gai, răng cắn chặt đóng kín, là nhiệt cực sinh phong. Nếu lưỡi đen rữa, là tạng phủ cực nhiệt kiểm bị uế độc.

2. Chẩn đoán rêu lưỡi

1. Màu rêu lưỡi: Các màu rêu lưỡi biểu thị có bệnh chủ yếu có 4 màu sau: trắng, vàng, xám, đen, còn những màu ít thấy như màu xanh, màu tương mốc.... Xin phân loại trình bày như sau:

(1) Rêu lưỡi trắng: Rêu lưỡi trắng là một loại hay gặp nhất trong lâm sàng, mà là một màu rêu lưỡi phức tạp nhất, các màu rêu lưỡi khác đều do màu trắng chuyển hóa thành. Đa số chủ về biểu chứng và hàn chứng của bệnh phế kinh.

- Rêu lưỡi trắng mỏng: rêu lưỡi mỏng màu trắng, các hạt đều nhau, khô nhuận vừa phải, màu lưỡi đỏ nhạt sạch sẽ, gọi là rêu lưỡi trắng mỏng. Đó là rêu lưỡi bình thường. Rêu lưỡi trắng mỏng thường thấy ở triệu chứng tà của lục dâm như cảm thụ phong hàn thấp..., bệnh tại biểu, còn chưa nhập lý, khi tạng khí còn chưa tổn thương.

- Rêu lưỡi trắng mỏng khô: rêu lưỡi màu trắng mỏng, tân dịch hơi ít hoặc rất khô táo, gọi là rêu lưỡi trắng mỏng khô. Thường là phong ôn tập biểu, táo khí thương phế, là do khí tân phế tạng lưỡng thương; hoặc là khí hư không thể hóa tân thượng nhuận, rêu lưỡi mất nhu dưỡng gây ra.

- Rêu lưỡi trắng mỏng bóng: Rêu lưỡi trắng mỏng như tráng một lớp nước gạo, rất ướt át, là rêu lưỡi trắng mỏng bóng, bệnh cảm ở ngoài là tà hàn thấp thịnh gây ra; bệnh thương ở trong, là hệ thủy khí tràn lên, đàm thấp gây bệnh.

- Rêu lưỡi trắng nhuận hơi dầy: Rêu lưỡi trắng hơi dầy, trải đều trên mặt lưỡi, hạt đều nhau, nhuận trạch như thường. Là triệu chứng tà khí khá thịnh. Triệu chứng này thường thấy ở bệnh ngoại cảm, hoặc biểu chứng của phong hàn tà thịnh, hoặc chứng thiếu dương biểu tà chuyển dần nhập bán lý, hoặc lý chứng của hàn thấp trệ.

- Rêu lưỡi trắng dầy nhầy: Rêu lưỡi trắng dầy, như nước bột gạo khắp trên mặt lưỡi, hoặc đầu và cạnh lưỡi hơi mỏng, ở giữa và gốc lưỡi dầy hơn. Đây là do tà thủy thấp tràn lên lưỡi gây ra, thường thấy ở trường hợp dương khí tỳ vị bất chấn, ẩm thực đình trệ, hoặc chứng thấp trọc ứ tích.

- Rêu lưỡi trắng dầy nhầy bóng: Rêu lưỡi trắng dầy nhầy, thủy thấp khá nhiều, nếu đặc dầy như bã đậu tương, gọi là rêu lưỡi trắng dầy nhầy bóng. Hệ tỳ dương bất chấn, thủy ẩm đình lưu, hoặc hàn thấp đàm ẩm đình tụ, dẫn đến thủy thấp tràn lan mà thành.

- Rêu lưỡi trắng dầy mềm khô: Rêu lưỡi trắng dầy mềm, thủy tân quá ít, khô táo khác thường, do vị táo tân thương, kèm theo thấp trệ nhiệt uất mà thành.

- Rêu lưỡi trắng dính nhầy: Là dạng rêu lưỡi trắng dầy nhầy, một lớp dịch vẩn đục dính phủ một lớp trên mặt lưỡi, như lòng trắng trứng gà tráng khắp mặt lưỡi. Các hạt dính liền với nhau thành mảng, đa số là triệu chứng có đàm có thấp. Nếu kèm theo thấy ngọt miệng, tất là tỳ vị thấp nhiệt, bệnh lao tỳ trọc khí nghịch lên. Nếu bệnh ngoại cảm thấy hiện tượng này, là triệu chứng thấp tà trệ ở phần khí.

- Rêu lưỡi thô ráp rạn nứt. Rêu lưỡi trắng dầy hoặc mỏng, khô nứt, sờ thấy thô ráp. Đều do ôn bệnh hóa nhiệt nhanh, nội nhiệt bạo khởi, tân dịch bạo thương, rêu lưỡi còn chưa chuyển vàng mà nhiệt trong đã hừng hực, thường gặp ở trường hợp ôn bệnh hoặc dùng nhầm thuốc bổ ôn.

- Rêu lưỡi bột trắng: Rêu lưỡi trắng tơi xốp rải khắp mặt lưỡi, như bột trắng dầy thành đống trên lưỡi, sờ thì ráp mà không khô táo, là do ngoại cảm khí bất chính uế trọc, độc nhiệt nội thịnh gây ra, thường thấy ở trường hợp bị ôn dịch hoặc nội ung.

- Rêu lưỡi hoa tuyết: Rêu lưỡi trắng sạch, ít nước bọt, sáng sủa, hình dạng như từng mảng hoa tuyết rải khắp mặt lưỡi. Đây là hiện tượng tỳ dương suy kiệt, hàn thấp ngưng bế ở trung tiêu, là triệu chứng ác tính, dự báo diễn biến xấu.

-  Rêu lưỡi thiên về trắng bóng: Rêu lưỡi phân dọc ra 2 nửa 2 bên, một nửa là trắng mỏng, một nửa là trắng bóng, thiên kiến trái phải, chủ bệnh khác nhau. Do bởi nửa phải thuộc khí, nửa trái thuộc huyết, cho nên nửa phải trắng bóng, là tà khí đã cạn, bệnh ở nửa ngoài nửa trong hoặc ở phần cơ; nửa trái trắng bóng là bệnh sâu, tà khí nhập tạng, là chứng tạng kết, tương đối khó trị.

- Rêu lưỡi chặn nửa trắng bóng: Rêu lưỡi phân ngang thành 2 nửa trước, sau, một nửa trắng bóng, một nửa thì không. Rêu lưỡi trắng bóng chỉ ở phần ngoài, là hàn thấp tại biểu; nếu rêu lưỡi trắng bóng chỉ ở phần nửa trong, là hàn thấp tại lý, hoặc hàn thấp trệ ở hạ tiêu.

(2) Rêu lưỡi vàng: Đa số thấy ở phần giữa và phần gốc lưỡi, cũng có trường hợp trên cả mặt lưỡi. Nói chung chủ về lý chứng, nhiệt chứng. Do lợi nhiệt tà hun chước, cho nên rêu lưỡi có màu vàng. Vàng nhạt là nhiệt nhẹ, vàng thẫm là nhiệt nặng, vàng khô cháy là nhiệt kết. Bệnh ngoại cảm rêu lưỡi từ trắng chuyển vàng là triệu chứng biểu tà nhập lý hóa nhiệt, ở thương hàn là bệnh dương minh, ở ôn bệnh là triệu chứng phần khí. Nhưng rêu lưỡi vàng nhạt mỏng cũng thường gặp ở trường hợp ngoại cảm phong nhiệt biểu chứng hoặc phong hàn hóa nhiệt.

- Rêu lưỡi vàng nhạt: Trong rêu lưỡi trắng mỏng có sắc vàng nhạt, gọi là rêu lưỡi vàng nhạt. Loại này thường do rêu lưỡi trắng mỏng chuyển hóa mà thành. Biểu thị bệnh đã bắt đầu từ hàn hóa nhiệt, từ biểu nhập lý. Trong lâm sàng đa số chủ về phong nhiệt biểu chưng, hoặc phong hàn tại biểu hóa nhiệt; nếu rêu lưỡi vàng nhạt mà hơi dầy, đồng thời thấy vùng bụng nóng bức không thông, thường là tà nhập khoang bụng, trong nhiệt kèm thấp, khí trệ không tuyên mà gây ra.

- Rêu lưỡi vàng bóng: Rêu lưỡi màu vàng mà hơi dầy, các hạt phân minh, thấp nhuận sáng bóng, thường gặp ở dạng thời kỳ đầu nhiệt tà nhập lý, còn chưa thương tân. Nếu rêu lưỡi nhuận bóng, giống như bôi một lớp lòng đỏ trứng gà, gọi là rêu lưỡi thủy hoàng (vàng nước), đa số thấy ở bệnh thấp ôn, hoặc bệnh thấp nhiệt có kèm theo thủy ẩm. Bệnh hoàng đản cũng thấy dạng rêu lưỡi này, cũng đều do thấp nhiệt hun chưng gây nên.

- Rêu lưỡi vàng đục: Rêu lưỡi màu vàng thẫm, hạt không rõ ràng, bẩn đục giao kết lẫn thành một mảng.

Đa số thấy ở dạng thấp nhiệt uế trọc nội thịnh. Nếu rêu lưỡi vàng đục sáng bóng mà không dầy lắm, là tà nhiệt tản mạn, còn chưa tích tụ; nếu rêu lưỡi vàng tối mà dầy, như phủ lên một lớp bột kiềm, là biểu hiện tà thấp nhiệt uế trọc đã kết hợp với lớp cáu bẩn mục nát cũ của vị, tràng.

* Rêu lưỡi vàng dính nhầy: Rêu lưỡi màu vàng mà dính nhầy, hạt dính liền dầy đặc, như bôi lên lớp bột màu vàng. Chủ về bị tà nhiệt giao kết với đờm giãi thấp trọc. Nếu màu vàng nhạt dính nhầy ở mức độ mỏng, là thấp nặng hơn nhiệt, tà của đờm giãi cũng nhẹ; nếu màu vàng thẫm, mức độ dính nhầy đặc dầy, là nhiệt nặng hơn thấp, tà đờm dãi cũng nặng hơn.

- Rêu lưỡi vàng khô: Rêu lưỡi vàng, khô mà ít nước bọt (tân), đều thuộc bệnh tà nhiệt thương tân. Sơ kỳ của bệnh, rêu lưỡi từ trắng chuyển vàng từ nhuận chuyển sang khô, là hiện tượng ngoại tà nhập lý hóa nhiệt, tà nhiệt thương tân. Nếu thấy ở giai đoạn bệnh hậu kỳ, rêu lưỡi chuyển từ dầy sang mỏng, màu từ thẫm mà sang nhạt là phản ánh tình hình tà nhiệt tuy thoái, tân vẫn còn chưa sinh. Nếu màu rêu lưỡi vàng khô, tích dầy khắp lưỡi, tất là thực nhiệt lý chứng.

- Rêu lưỡi gốc lưỡi vàng đầu lưỡi trắng: Rêu ở phần đầu lưỡi trắng mỏng, giữa và gốc lưỡi vàng dầy, là triệu chứng biểu tà đang dần dần nhập lý hóa nhiệt, biểu tà ít mà lý tà nhiều. Nếu rêu lưỡi khô mà không có nước bọt, là chứng lý nhiệt.

- Rêu lưỡi đầu lưỡi vàng gốc lưỡi trắng: Rêu ở giữa và gốc lưỡi trắng mỏng, chỉ có đầu lưỡi có rêu vàng, là triệu chứng nhiệt ở thượng tiêu.

- Song hoàng thai: Hai bên lưỡi mỗi bên có một vệt rêu lưỡi màu vàng dài, còn những nơi khác rêu lưỡi trắng mỏng, gọi là rêu lưỡi song vàng. Bệnh ngoại cảm thấy rêu lưỡi dạng này là biểu tà nhập lý. Triệu chứng bên ngoài còn chưa dừng; nếu tạp bệnh thấy dạng rêu lưỡi này, là tà nhiệt tụ ở tràng vị, tràng vị bất hòa.

- Rêu lưỡi nửa trắng nửa vàng; Rêu lưỡi phân dọc lưỡi thành 2 nửa, nửa màu trắng, nửa màu vằng, vô luận là màu rêu lưỡi sâu cạn hay đậm nhạt, dầy hay mỏng, đa số là triệu chứng tà nhiệt uất ở gan, mật.

(3) Rêu lưỡi xám: Tức là màu rêu lưỡi đen nhạt, thường do rêu lưỡi trắng ám tối chuyển hóa mà thành, chủ về thực chứng, nhiệt chứng; cũng có thấy ở triệu chứng hư và hàn thấp, tóm lại đều thuộc lý chứng, bệnh tình tương đối nặng. Quan sát độ nhuận, táo của rêu lưỡi để phân biệt mức độ sâu cạn, hàn nhiệt, hư thực của bệnh.

- Rêu lưỡi xám nhuận: màu rêu lưỡi xám mà thấp nhuận có nước bọt, đa số chủ về triệu chứng đàm ẩm nội đình, hàn thấp trung trở. Rêu lưỡi màu xám kèm theo thấy mặt đen, thần chí cuồng loạn, là chứng súc huyết.

- Rêu lưỡi xám khô: Rêu lưỡi màu xám mà thiếu nước bọt, nặng thì khô táo. Nếu thấy ở bệnh ngoại cảm, đa số là truyển kinh nhiệt chứng, nhiệt xí thương tân. Nếu thấy ở tạp bệnh, đa số là âm hư hỏa vượng gây ra.

- Rêu lưỡi quầng xám: Rêu lưỡi màu xám thành quầng tròn lồng nhau thành 2 - 3 tầng lớp. Là triệu chứng nguy của bệnh thấp nhiệt độc chuyển biến tam âm, độc tà nội truyền 1 lần, rêu lưỡi lập tức thêm một tầng quầng xám.

Độc thịnh gây nên quầng nặng. 1 quầng là nhẹ, 2 quầng là nặng, 3 quầng thì đã báo diễn biến rất xấu.

- Rêu lưỡi xám vàng: Trong màu xám của rêu lưỡi có màu vàng. Vị trí khác nhau biểu thị bệnh khác nhau. Nếu rêu xám kèm vàng ở phần gốc lưỡi, là hiện tượng chuyển quyết âm; nếu tạp bệnh thấy hiện tượng này, là lý nhiệt thực chứng. Nếu giữa lưỡi xám mà viền biên vàng, là nhiệt ở tạng phủ, bệnh dịch độc phục trong tỳ vị gây ra. Nếu trong màu xám sinh gai, đa số là cảm thụ dịch tà hoặc người bị thực nhiệt dùng nhầm thuốc bổ cay, táo, ôn gây ra. Nếu gốc lưỡi màu xám, giữa lưỡi đỏ thẫm, đầu lưỡi vàng, đa số là vị tràng táo nhiệt gây ra.

- Rêu lưỡi xám bóng: Rêu lưỡi màu xám nhạt, ở giữa có rêu bóng như mực, đó là tà nhiệt truyền lý kèm theo thức ăn đêm chưa hóa.

(4) Rêu lưỡi đen: Là rêu lưỡi thâm đen hơn so với rêu lưỡi xám, đa số do rêu lưỡi xám hoặc rêu lưỡi vàng cháy chuyển hóa mà thành, trong lâm sàng có các triệu chứng như hàn, nhiệt, hư, thực đều có thể xuất hiện loại rêu lưỡi này, đều thuộc giai đoạn bệnh nghiêm trọng. Từ trắng chuyển sang vàng, hoặc từ vàng chuyển sang đen là thuận chứng; nếu từ trắng chuyển sang xám, từ xám chuyển sang đen mà không phải từ vàng sang đen, gọi là rêu lưỡi hắc hãm, là nghịch chứng. Cho nên, khi thấy rêu lưỡi đen, phải tìm hiểu trạng thái thay đổi của nó, để giúp cho việc phán đoán sự thuận nghịch của bệnh tật. Ngoài ra, khi lâm chứng cần phân biệt màu xám đen và màu đen nhạt. Màu xám đen là trong màu đen của rêu lưỡi có mang màu tím, là tà nhiệt ở kinh tam âm; màu đen nhạt là trong đen có trắng, đa số là hàn thấp tại lý.

- Rêu lưỡi đen mỏng: là dạng rêu lưỡi cực mỏng, có màu đen nhạt, giống như khói than mờ mờ. Nếu thấy triệu chứng tứ thi phát lạnh, miệng không khá, là trung tiêu âm hàn gây ra.

- Rêu lưỡi đen táo: Rêu lưỡi màu đen mà khô táo, bất kể dầy mỏng, đa số là tà nhiệt thương tân. Nếu giữa lưỡi đen táo, 4 bên không có rêu, là tân dịch bị tổn thương, hư hỏa phát tác; nếu táo mà sinh gai, là nhiệt cực tân khô, thực chứng.

- Rêu lưỡi đen bóng nhầy: Rêu lưỡi màu đen tràn khắp mặt lưỡi, hoặc ở phần giữa lưỡi, gốc lưỡi có rêu lưỡi dầy, nhuận, bóng, là biểu hiện tà thấp trọc đình ở vị tràng; nếu đen mà bóng nhuận, là dương hư hàn thấp nội thịnh; nếu dầy nhầy mà dính, là đàm thấp kèm nhiệt, phục ở trung tiêu; nếu trúng thử (cảm nắng) mà thấy loại rêu lưỡi này, là thấp đàm kèm uất nhiệt.

- Rêu lưỡi trắng gai đen: Trong rêu lưỡi trắng sinh ra đầy gai màu đen. Nếu gai rêu lưỡi đều, nhuận, sờ không vướng tay, bóc thấy sạch ngay, là chân hàn giả nhiệt; ngược lại trên lưỡi không có nước bọt, gai rêu lưỡi thô ráp, sờ thấy vướng tay, đa số là hiện tượng hàn tà hóa nhiệt.

- Rêu lưỡi giữa đen bên cạnh trắng bóng: Loại rêu lưỡi này thấy phần giữa lưỡi đen nhuận bóng, bên cạnh đều trắng bóng. Là hư hàn kèm thấp, đa số là tỳ dương bất chấn, hoặc thủy ẩm nội đình.

- Rêu lưỡi song hắc: dạng này thường thấy rêu lưỡi đen 2 mảng 2 bên, còn những nơi khác màu trắng. Màu lưỡi bình thường, khô ướt vừa phải. Đa số là trung tiêu hư nhược, hàn thấp nhập vị, ẩm thực đình tích gây ra, thuộc hàn thực chứng. Ngoài ra cũng có thể thấy ở trường hợp hàn tà nhập lý hóa hỏa, nhiệt bức tỳ vị. Điểm khác nhau của hai chứng là ở chứng trước thì thấy thủ túc quyết lạnh, trong ngực kết đau, còn chứng sau thì không.

- Rêu lưỡi trắng điểm đen: Là rêu lưỡi màu trắng, xuất hiện rải rác các điểm đen hoặc ban đen đa số là tà nhiệt tại lý, hoặc tà nhập lý hóa nhiệt, hoặc thấp nhiệt nội thịnh.

- Rêu lưỡi nửa đen vàng nửa trắng bóng: Rêu lưỡi chia 2 nửa một bên đen vàng hoặc tráng bóng, là hiện tượng tà nhiệt nội kết gan mật, biểu hiện bệnh chủ yếu ở phần rêu lưỡi vàng đen, hữu là mật, tả là gan.

- Rêu lưỡi đen nhầy vàng biên: Phần đầu và cạnh lưỡi đều màu vàng, chỉ có ở giữa lưỡi màu đen nhầy, là thấp nhiệt nội uẩn ở trung tiêu, người nghiện rượu cũng thấy hiện tượng này.

(5) Rêu lưỡi màu xanh: Rêu lưỡi màu xanh đa số chuyển hóa từ rêu lưỡi trắng mà thành. Vô luận là màu xanh đậm hay nhạt, ý nghĩa của nó cũng giống như rêu lưỡi màu xám đen, nhưng trái lại chủ về nhiệt, không chủ về hàn. Nếu rêu lưỡi bóng nhầy, ở giữa thấy màu xanh, là thấp nhiệt đàm ẩm, là triệu chứng âm tà hóa nhiệt, do thấp nhiệt uất chưng, thường gặp ở bệnh ôn dịch, thấp ôn.

(6) Rêu lưỡi màu tương mốc: Rêu lưỡi trong màu đỏ phát đen, lại kèm màu vàng, tựa như màu tương mốc.

Thường là do vị tràng trước có chỗ cáu bẩn thấp trọc, tích lâu hóa nhiệt mà thành.

2. Chất rêu lưỡi: Tức là hình chất của rêu lưỡi. Chủ yếu quan sát quá trình hình thành và thay đổi của nó, bao gồm các dạng như dầy mỏng, nhuận táo, nhầy nát, lệch hay toàn diện, bong tróc, tiêu trưởng, thật giả....

(1) Dầy mỏng: Mức độ dầy mỏng của chất rêu lưỡi là lấy loại nhìn thấy đáy và không nhìn thấy đáy làm tiêu chuẩn, loại rêu lưỡi mỏng là nhìn thấu qua rêu lưỡi vẫn thấy thể lưỡi hiện ra mờ mờ, còn không thể nhìn thấy lưỡi là loại rêu lưỡi dầy. Qua mức độ dầy mỏng của rêu lưỡi để chẩn đoán độ sâu cạn của tà khí.

Rêu lưỡi mỏng vốn là vị khí sinh ra, thuộc dạng bình thường; nếu có bệnh mà thấy dạng này, thì bệnh cũng ở mức độ nhẹ cạn, chính khí chưa tổn thương, tà khí chưa thịnh. Vì thế loại rêu lưỡi mỏng chủ về biểu chứng ngoại cảm, hoặc bệnh nội thương nhẹ.

Rêu lưỡi dầy là vị khí kèm theo tà khí thấp trọc hun chưng gây nên. Cho nên rêu lưỡi dầy chủ về tà thịnh nhập lý, hoặc bên trong có đàm ẩm thấp thực tích trệ. Nếu rêu lưỡi trắng mà dầy, là trung tiêu hư hàn, đàm thấp bất hóa; rêu lưỡi vàng mà dầy là trong có thấp nhiệt; nếu rêu lưỡi dầy như tráng bột nước, 2 bên lưỡi cũng không mỏng dần đều được, bất luận là màu trắng hay màu vàng, đa số là vị khí giao tuyệt.

(2) Nhuận táo: Mặt lưỡi nhuận trạch là biểu tượng lưỡi bình thường của dạng rêu lưỡi khô ướt vừa phải. Nếu thủy phần quá nhiều, sờ thấy ướt mà bóng, người bị nặng thò lưỡi ra thì nước dãi chẩy ra, đó là rêu lưỡi bóng. Nếu nhìn thấy khô khan, sờ không thấy nước bọt, là rêu lưỡi táo, người bị nặng thì sờ thấy thô ráp như cát; nếu chất khô táo, mặt cứng, khô táo rạn nứt gọi là rêu lưỡi khô nứt, dựa vào mức độ nhuận táo của rêu lưỡi để tìm hiểu về những thay đổi của tân dịch. Rêu lưỡi nhuận trạch là biểu hiện tân dịch thượng thừa, biểu thị tân dịch chưa bị tổn thương. Rêu lưỡi bóng là biểu hiện hàn và thấp, do dương khí tam tiêu suy thiếu, không thể vận hóa thủy thấp, thấp tụ gây nên đàm ẩm, theo kinh mạch tràn lên rêu lưỡi, vì vậy rêu lưỡi bóng nước. Trong lâm sàng thường gặp ở trường hợp dương hư mà đàm ẩm thủy thấp nội đình.

Khan táo là tân bất thượng thừa gây ra, hoặc do nhiệt thịnh thương tân, hoặc do âm dịch hư hao, cũng có trường hợp dương hư khí hóa không được nên tân bất thượng thừa hoặc táo khí thương phế. Vì vậy rêu lưỡi táo chủ về bệnh nhiệt thịnh thương tân.

(3) Rêu lưỡi nát nhầy; Chất rêu lưỡi hạt tơi xốp, thô to mà dầy, chất thành đống như bã đậu phụ trên mặt lưỡi, lột có thể ra, gọi là rêu lưỡi nát. Nếu màu rêu lưỡi ám tối bẩn đục, thì gọi là rêu lưỡi phù cấu (nổi bẩn); nếu trên mặt lưỡi dính thành từng tầng dầy, trông như loét mủ, thì gọi là rêu lưỡi rữa mủ; nếu lưỡi sinh ra một lớp màng trắng, hoặc xuất hiện những điểm nát như hạt cơm, gọi là rêu lưỡi nấm rữa. Nếu hạt chất rêu lưỡi mịn, bóc không ra, cạo không mất, trên mặt lưỡi như phủ một lớp dịch dính như dầu, gọi là rêu lưỡi nhầy. Nếu các hạt nhỏ dính kểt chặt chẽ với nhau, phía trên có những cáu bẩn bóng nhầy, gọi là rêu lưỡi dính nhầy. Nếu các hạt rêu lưỡi không rõ ràng, các cáu bẩn được dính kết với nhau, thì gọi là rêu lưỡi bẩn đục, quan sát mức độ rêu lưỡi nát nhầy, có thể biết được sự tiêu trưởng của dương khí và thấp trọc.

Rêu lưỡi nát đa số do dương nhiệt có dư, chưng bốc tà khí hủ trọc trong vị lên mà thành, đa số thấy ở trường hợp thực tích đàm trọc, cũng thấy trong trường hợp bị nội ung và thấp nhiệt. Nói chung trong bệnh trình, rêu lưỡi từ bản trệ không tuyên mà hóa hủ (nát), từ hủ mà thoái dần, rồi sinh rêu lưỡi mới phù bạc (mỏng) là biểu tượng chính khí thắng tà, là bệnh tà giải hết; nếu phế ung, vị ung, gan ung và hạ cam kết độc, thấy rêu lưỡi dạng mủn nát, là tà thịnh bệnh nặng. Rêu lưỡi nấm nát cũng do khoang vị hủ bại, tân dịch hóa hết thành trọc hủ thượng phiếm mà thành.

Rêu lưỡi nhầy đa số là thấp trọc nội uẩn, dương khí bị ách gây ra. Bệnh của nó thường chủ về thấp trọc, đàm ẩn, thực tích, thấp nhiệt.... Phàm rêu lưỡi vàng, dầy, nhầy thì đa số là đàm nhiệt, thấp nhiệt, thử ôn, thấp ôn, thực trệ và cả thấp đàm nội kết, phủ khí bất lợi.... Nếu rêu lưỡi trắng bóng nhầy, tất là thấp trọc, hàn thấp; nếu dầy nhầy mà không bóng, trắng như tích bột, đa số là thời tà kẹp thấp, tự lý mà phát, nếu trắng mềm mà không táo, tự cảm thấy bức bối khó chịu, đa số là tỳ hư thấp nặng; nếu trắng nhầy dính nhầy, cảm thấy ngọt miệng, là tỳ vị thấp nhiệt khí tụ thượng phiếm gây ra.

Tóm lại rêu lưỡi nát là dương nhiệt có dư, rêu lưỡi nhầy là dương khí bị ách.

(4) Thiên toàn: Rêu lưỡi rãi đầy mặt lưỡi mỏng mà đều, hoặc ở phần giữa và gốc lưỡi hơi dầy, là hiện tượng bình thường. Cái gọi là toàn, là rêu lưỡi rải khắp toàn mặt lưỡi. Rêu lưỡi toàn chủ về tà khí tản mạn, đa số là thấp đàm trở trệ ở trung tiêu.

Gọi là thiên, là chỉ rêu lưỡi chỉ có ở một bộ phận nào đó trên mặt lưỡi, như là thiên về phía trước, phía sau, trái, phải, trong, ngoài.... Do bởi thiên về vị trí khác nhau, ý nghĩa biểu thị bệnh tật cũng khác nhau, thiên về đầu lưỡi là tà khí nhập lý chưa sâu, mà vị khí lại tổn thương trước; thiên về phần gốc lưỡi, là biểu tà tuy giảm, vị trệ vẫn y nguyên; thiên về bên trái hoặc phải là tà ở nửa biểu nửa lý, bởi vì cạnh lưỡi thuộc gan mật, cho nên bệnh đa số là bán biểu bán lý, hoặc gan mật thấp nhiệt. Nếu phần giữa và gốc lưỡi ít rêu, là vị dương không thể thượng chưng, thận âm không thể thượng nhu, âm tinh khí huyết đều thương.

(5) Bong rụng: Lưỡi vốn có rêu lưối, bỗng nhiên toàn bộ hoặc một bộ phận bị bong rụng, chỗ bong thấy đáy, sự hình thành rêu lưỡi bong rụng, là vị khí thiếu hụt, không thể thượng hun về lưỡi; hoặc vị âm khô kiệt, không thể thượng trào lên miệng mà thành. Nguyên nhân và mức độ hao tổn của vị khí, vị âm khác nhau. Trong lâm sàng cũng có thể xuất hiện rêu lưỡi bong tróc ở vị trí và phạm vi to nhỏ khác nhau.

Nếu rêu lưỡi dạng hoa bị bong tróc kèm theo nhầy, đa số là đàm trọc chưa hóa, chính khí đã tổn thương, bệnh tình càng phức tạp hơn. Nếu rêu lưỡi bong tróc từng đám không có quy luật, rêu ở viền biên dầy có ranh giới rõ ràng, trông giống như bản đồ, gọi là lưỡi địa đồ, đa sờ thấy ở trẻ em, có liên quan đến thể chất bị âm hư bẩm sinh. Nếu rêu lưỡi ở phần giữa lưỡi bong tróc thành một đường đỏ, gọi là lưỡi tim gà, là khí huyết bất túc, âm huyết hư nặng.

(6) Tiêu trưởng: Tiêu là rêu lưỡi tiêu thoái từ dầy mà mỏng dần, từ nhiều chuyển sang ít dần; trưởng là rêu lưỡi tăng trưởng dần từ không đến có, từ mỏng đến dầy lên. Sự tiêu trưởng của rêu lưỡi, phản ánh quá trình tương tranh của tà chính, có thể phán đoán diễn biến tiến thoái của bệnh tật theo tỷ lệ thuận của tiêu trưởng. Nếu bỗng tăng bỗng thoái là hiện tượng bệnh tình thay đổi đột biến, nếu rêu lưỡi mỏng đột nhiên tăng dầy, chứng minh chính khí bạo suy, tà khí cấp kịch nhập lý. Nếu rêu lưỡi toàn mặt lưỡi đang dầy đột nhiên, tiêu thoái, thường là phản ánh vị khí bạo tuyệt.

Sự tiêu thoái của rêu lưỡi có giả có thật. Thoái thật là từ dầy mà mỏng dần, từ mau đến thưa dần, sau khi thoái thì sinh rêu lưỡi trắng mỏng mới, là vị khí đã hồi phục dần. Thoái giả là bỗng nhiên thoái mất, không sinh rêu lưỡi mới, dẫn đến xuất hiện lưỡi mặt kính, đây là triệu chứng ác tính của âm khí dạ dầy bị suy kiệt.

Một loại khác là có nhiều chỗ bị bong tróc, hình thành dạng rêu lưỡi hoa, cũng là triệu chứng không tốt, vẫn thuộc nghịch chứng, là khí tân của dạ dầy đều tổn thương; một loại khác là rêu lưỡi dầy đầy mặt lưỡi, bỗng nhiên mất đi, trên lưỡi vẫn còn những chất bẩn nhầy ướt, hoặc thấy có điểm chu sa hoặc có vân, qua một hai ngày, rêu lưỡi lại sinh dầy ra, đó là thấp trọc tà thịnh, tà chính đều tồn tại; một loại khác là toàn mặt lưỡi rêu dầy, bong tróc bắt đầu từ giữa lưỡi, mặt lưỡi đỏ táo, cần để phòng tân dịch thoát hết, trung khí suy kiệt; một loại khác là rêu lưỡi dầy bỗng nhiên thoát, lưỡi sạch sáng mà táo, là vị khí tuyệt dần. Trên đây là các dạng rêu lưỡi thoái giả, là hiện tượng bệnh tình nặng thêm.

(7) Thật giả: Phán đoán rêu lưỡi thật hay giả, ta lấy rêu lưỡi có gốc hay không có gốc làm tiêu chuẩn. Phàm rêu lưỡi chắc gọn dính chặt vào mặt lưỡi, cạo khó đi, tựa như mọc ra từ chất thể lưỡi, gọi là rêu lưỡi có gốc, thuộc rêu lưỡi thật. Nếu rêu lưỡi không bền chắc, như lớp phù du trên lưỡi, cạo lập tức bong hết, là rêu lưỡi không có gốc, tức là rêu lưỡi giả. Phân biệt được sự thật giả của rêu lưỡi, có thể phán đoán được mức độ nặng nhẹ và dự báo diễn biến của bệnh tật.

- Rêu lưỡi thật: Phàm là bệnh ở giai đoạn sơ kỳ và trung kỳ, rêu lưỡi hữu căn là bệnh sâu và nặng hơn so với rêu lưỡi vô căn. Bệnh ở hậu kỳ và rêu lưỡi có gốc là tốt hơn so với không có gốc, bởi vì vị khí vẫn còn tồn tại. Nếu rêu lưỡi nổi một tầng dầy trên mặt lưỡi, nhìn tựa như không có gốc, dưới chân nó đã sinh ra một lớp rêu lưỡi mới, đó là điểm tốt bệnh có xu hướng khỏi. Rêu lưỡi có gốc, là khí của tỳ vị hun chưng sinh ra, tụ lên ở mặt lưỡi mà thành, chủ về thực chứng, nhiệt chứng. Nếu rêu lưỡi mỏng có gốc, phủ đều mặt lưỡi, là bình thường, là vị có sinh khí; rêu lưỡi dầy có gốc 4 bên tất có rêu lưỡi mỏng phù đều, tuy rằng có tà khí, nhưng khí của tạng phủ vẫn chưa tỏ ra suy kiệt.

- Rêu lưỡi giả: Rêu lưỡi không có gốc là trước có vị khí hun chưng, lưỡi sinh ra rêu có gốc, sau khi bị bệnh, vị khí thiếu hụt, không thể tiếp tục sinh rêu lưỡi mới, mà rêu lưỡi đã có lại dần dần bong rụng khỏi mặt lưỡi, dẫn đến không thể thông nhau với vị khí mà thành không có gốc. Có 3 ý nghĩa lâm sàng của loại rêu lưỡi giả: một là sáng sớm thì rêu lưỡi phủ đầy, sau khi ăn uống thì lập tức thoái mất, tuy thuộc rêu lưỡi giả, nhưng hoàn toàn không phải là loại không có gốc, đó không phải là có bệnh. Nếu sau khi giảm ít rêu hoặc không có rêu lưỡi, tất là lý hư. Hai là có rêu lưỡi có màu, cạo dễ đi, là có bệnh nhẹ mà cạn; nếu bóc lập tức mất, thì bệnh càng nhẹ cạn hơn. Ba là rêu lưỡi dầy một mảng mà không có gốc, phía dưới nó không sinh rêu lưỡi mới, là vốn có vị khí, sau đó vị khí hư kém, không thể thượng trào. Đa số do dùng nhiều thuốc có tính lạnh gây tổn thương, hoặc dùng nhiều thuốc có tính nhiệt gây tổn thương âm mà gây nên.

3. Phương pháp chẩn đoán lưỡi các bệnh nguy nặng

Bệnh đến mức nguy nặng, khí, huyết, tinh, tân âm dương tỏ ra suy kiệt, thì chất lưỡi và rêu lưỡi cũng có biểu hiện hình sắc đặc thù.

1. Sáng sớm lưỡi đen, giống như lưng lợn cạo đi lớp màng, là âm thịnh dương suy, vị khí sắp tuyệt.

2. Lưỡi đỏ sáng bóng, mềm nhũn không nước bọt như mặt kính, là bệnh nhiệt thương âm, vị khí vị âm sắp tuyệt.

3. Lưỡi thô ráp như gai, như da cá nhám, mà lại khô khan táo nứt, là nhiệt cực tân khô.

4. Đầu lươi co rụt có dạng như cùi vải, hoàn toàn không có tân dịch, là tân dịch khô kiệt.

5. Lưỡi đỏ như quả hồng chín, hoặc khô tối như màu gan lợn, là khí huyết bại hoại, hoặc âm tinh can thận sắp tuyệt.

6. Lưỡi cong mà âm nang co, là can khí sắp tuyệt.

7. Chất lưỡi màu đỏ nâu hơi đen, là thận âm sắp tuyệt.

8. Rêu lưỡi trắng từng mảng như hoa tuyết, là tỳ đương sắp tuyệt.

9. Lưỡi như bánh nướng là nhiệt cực tân khô.

10. Đáy lưỡi khô táo mà rêu lưỡi nở như hạt cơm, hoặc như nấm trắng, hoặc có điểm men mốc, là vị khí suy bại.

11. Lưỡi khô héo tối mà không có thần, là tinh khí tạng phủ đã kiệt.

12. Lưỡi giáng không có rêu khô khan nhỏ dài đồng thời có vềt nứt, là tâm khí nội tuyệt.

13. Phụ nữ có thai mặt lưỡi xanh hoặc mạch dưới lưỡi xanh đen, mẫu tủ đều nguy.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 1: Chương 6.

Quan tâm  
4

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Xô Thơm - Salvia Officinalis
Từ xưa, cây Xô thơm (Salvia Officinalis) được xem là một loại thảo mộc thiêng liêng, đặc biệt là người La Mã tin rằng cây xô thơm có thể chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, kéo dài cuộc sống con người. Người Trung Quốc cũng đánh giá...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.