Thứ ba, 21/08/2018 2:43 PM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Lợi Răng

Thứ năm, 08/02/2018 11:08 AM

Phương pháp quan sát sự thay đổi về sắc trạch, hình thái và chức năng khác thường... của răng, lợi để phán đoán bệnh tật, gọi là phương pháp chẩn đoán răng lợi. Răng tuy chỉ là phần xương nhỏ ở bên ngoài nhưng lại liền với bên trong, liên thông chặt chẽ với tạng phủ kinh lạc. Phàm là khí huyết qua lại, tân dịch tươi tắn, kinh lạc tưới dồn vào, tất cả đều tụ hợp ở răng. "Vọng chẩn tổn kinh" nói rằng: "Răng là phần dư tiêu cốt của thận, thọ yểu xem ở đó, thịnh suy xem ở đó"; "Xem sự tư nhuận khô táo của nó biết bệnh hàn nhiệt, xem mức độ khô khan sáng sủa của nó mà biết được sinh tử". "Khẩu xỉ loại yếu" cũng nói: "Các kinh đa số tụ hội ở miệng, là răng vậy". Phương pháp chẩn đoán răng lợi có từ "Nội kinh", trong sách này sớm đã nói về sự sinh trưởng của răng lợi để phản ánh mức độ thịnh suy của thận khí, xem răng dài mà bẩn, không có quang trạch để dự báo điềm hung của bệnh tật. Các đời sau đặc biệt là đời nhà Thanh, đã phát triển môn chẩn đoán răng lợi, xem sự thay đổi của răng lợi để dự báo sự tồn vong cửa bệnh ôn nhiệt, dạ dầy, tân dịch thận.

Chẩn đoán bệnh thông qua răng lợi là một trong những phương pháp chẩn lâm sàng rất uyên bác.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Răng quan hệ mật thiết với thận và dạ dầy: Răng là phần dư của cốt, thận chủ cốt, cho nên răng là biểu hiện bên ngoài của thận. Lợi là phần thịt kéo dài mà chủ về dạ dầy. Răng là phần dư của thận, lợi là lạc của dạ dầy. Thận với dạ dầy thì một là gốc của bẩm sinh tiên thiên, một là nguồn của hậu thiên, cùng nhau duy trì sự sinh trưởng và phát dục của răng lợi. Tỳ vị kiện vận, thận tinh sung túc thì lợi khỏe răng chắc, mới có thể phát huy được chức năng nghiền thức ăn, tiêu hóa khỏe hỗ trợ phát âm.... Nếu tinh khí tạng phủ suy nhược, dẫn đến răng kém lợi tụt. Như trong "Tô" vấn. Thượng cổ thiên chốn luận" có nói: "Nữ giới đủ 7 tuổi, thận khí thịnh, răng cứng tóc dài; 21 tuổi thận khí bình quân, vì thế răng thật sinh mà dài... Nam giới 40 tuổi, thận khí suy, nên tóc rụng răng khô... 64 tuổi thì răng tóc rụng". "Nhân trai thực chỉ phương" cũng nói: "Răng là lạc của cốt, là nơi tửy dưỡng, thận thực chủ của nó. Vì vậy thận bại thì rặng sứt mẻ, tinh thịnh thì răng chắc, thận nhiệt thì răng lung lay". Có thể thấy rằng, chẩn đoán răng lợi, có thể phản ánh tình hình thay đổi sinh lý bệnh lý của thận và dạ dầy.

2. Răng lợi ngoài mốì quan hệ mật thiết với thận và dạ dầy, còn có liên quan với đại trăng, nhất là thủ dương minh đại trăng và túc dương minh vị kinh, tách biệt nhập vào trên và dưới răng, kinh khí của nó xuyên suốt vòng răng lợi, có ảnh hưởng rất quan trọng đến sinh lý, bệnh lý của răng lợi. như trong "Linh khu. Kinh mạch" có nói: "Thủ dương minh đại trăng kinh... nhập dưới răng... nếu động tất bệnh răng đau sưng cổ".

3. Răng lợi còn có quan hệ mật thiết với xung mạch, đốc mạch. Do xung mạch và đốc mạch tuần hành ở vòng môi mà đi lên, kinh khí của nó tất nhiên thấm rót vào răng lợi, vì vậy lại có thuyết gốc răng lợi ở xung mạch và đốc mạch.

4. Xét nghiệm răng còn là một trong những phương pháp độc đáo để chẩn đoán bệnh ôn nhiệt. Diệp Thiên Sĩ đời Thanh rất coi trọng và phát triển phương pháp xét nghiệm răng để chẩn đoán bệnh. Ông đã chỉ rõ trong "Ngoại cảm ôn nhiệt luận": "Nói về bệnh ôn nhiệt, sau khi nghiệm lưỡi, cũng cần nghiệm răng, răng là dư của thận, lợi là lạc của dạ dầy, nhiệt tà không tổn thương vị tân, tất hao thận dịch". Vì vậy xét nghiệm răng còn có giá trị tham khảo lâm sàng đối với việc phán đoán nặng nhẹ của tà ôn nhiệt, sự tồn vong của tân dịch và dự báo diễn biến phát triển của bệnh tình.

[Phương pháp quan sát chẩn đoán]

Chẩn sát răng lợi nên hỏi bệnh nhân xem có bị đau răng hay không. Khi kiểm tra để bệnh nhân quay mặt về phía ánh sáng và há miệng, để lộ rõ toàn bộ răng và lợi. Khi cần thiết có thể dùng các dụng cụ hỗ trợ như gương soi miệng, kìm thăm dò hoặc kẹp nhíp.... Chú ý đến sự sắp xếp, số lượng, nhuận táo, hình thái, màu sắc, lỗ sâu răng, khuyết gốc, khuyết đầu của răng, chú ý đến hình thái, màu sắc, cao răng, tràn mủ, mức độ dao động của răng, gõ có bị đau hay không và mức độ gõ đau....

[Vận dụng lâm sàng]

1. Sắc trạch hình thái khác thường

2. Sắc trạch hình thái khác thường của răng:

(1) Răng trắng sạch, nhuận trạch, chắc chắn, là biểu tượng tân dịch nội sung, thận khí sung túc, tuy có bệnh nhưng tân dịch chưa tổn thương, dự báo diễn biến và phát triển tốt; màu răng trắng khô là huyết hư, nếu trắng như xương khô, là thận âm khô kiệt. Tuổi già răng trắng nhuận trạch, là tượng trưng tuổi thọ cao.

(2) Người tuổi cao, răng dần biến màu vàng, là hiện tượng sinh lý bình thường; răng đột nhiên biến vàng, đa số là thận hư; răng như hạt đậu tương (đậu vàng) là thận khí tuyệt; răng màu vàng hoặc kèm màu đen, hoặc tróc rụng từng mảnh, sắc mặt vàng xanh, là trong bụng tích lạnh lâu ngày, dương khí của thái dương dương minh bị khốn mà liên lụy đến xung, đốc mạch; "Thận trúng phong" răng chưa vàng còn có thể trị được, răng vàng đỏ, tóc thẳng dựng, mặt như màu đất là không trị được nữa; răng vàng khô rụng là cốt tuyệt; ôn bệnh răng vàng mà táo, là nhiệt thịnh thương tân, nếu quang táo như đá là dương minh nhiệt thậm, tân dịch đại thương, thường thấy ô ôn bệnh cực kỳ.

(3) Răng màu tím, như hạt đậu chín, mạch táo, là âm dương đều kiệt, hoặc răng bỗng nhiên biến đen, đều là chứng chết, răng đen đau lưng, chân quyết lạnh, là cốt chưng.

(4) Người có răng tư nhuận, tân dịch đầy đủ; hình sắc tươi sáng, tinh khí chưa suy; răng khô táo, tân dịch đã hao, hình sắc khô khan, tinh khí nội kiệt; răng không có chút quang trạch nào, sắc như xương khô, là thận âm khô kiệt; thận thủy không thể thương thừa, khó trị; răng sáng khô đồng thồi thấy hàn nhiệt không có mồ hôi, là biểu hiện vệ dương bị chèn ép; răng nửa 'trên thì nhuận, nửa dưới thì khô táo, là thận thủy hư hao, tâm hỏa thiêu đốt gây nên; răng khô táo, phần gốc có cáu bẩn, là hỏa thịnh thương tân, khí dịch còn chưa khô kiệt, nếu răng khô đét mà không có cáu bẩn, chủ về tinh khí của thận và dạ dầy khô kiệt, khó trị; mặt trước răng khô táo, thân nóng mắt đau, mũi khô không nằm được, là triệu chứng muôn phát ban chẩn và chay máu cam.

(5) Trẻ em răng mọc xiên lệch thưa ít, chủ yếu là bản khí dương minh bất túc; trẻ em lâu không mọc răng, gọi là chậm răng, là một trong 5 điều chậm của trẻ em, chủ về bẩm sinh thiếu hụt, thận khí hư hao; răng thưa lay động, chân răng thông lộ, là thận khí hư hao, hoặc hư hỏa thượng viêm; trung lão niên răng thưa dần, hoặc răng dài mà bẩn, rụng dần, là tiêu chí thận khí suy sốm; răng gẫy vỡ do ngoại thương, gọi là răng đấu, chân răng dao động và lợi bị thối rữa là thận khí hao kèm theo hư hỏa trong dạ dầy.

(6) Chân răng sưng đau, có khi chảy máu mủ, răng biến màu đen là trong răng có sâu, gọi là "sâu răng", do ăn uống bị dắt cặn ở kẽ răng, ăn mòn ngấm dần gây nên, hoặc do vị kinh ứ thấp đàm hỏa ngưng tụ mà thành, nếu đồng thời thấy miệng có mùi hôi thối, là dương minh hỏa thịnh cực thượng công gây ra.

(7) Răng dài mặt bẩn, là uế chất ở trăng vị; răng khô mặt bẩn, là nhiệt kết tụ ở phủ; răng vàng mặt bẩn, là hiện tượng ôn dịch.

(8) Ngoài ra còn có phương pháp xem răng để chẩn đoán triệu chứng sinh tử, như người thủy thũng răng đen, môi thũng, là chứng nguy, lại thêm răng khô tất chết; người bệnh nhiệt, răng vàng đỏ, mặt như màu đất, chết; răng cam, lợi viêm loét rữa, răng rụng, miệng thối mủ đục, hung chứng; răng đen mà sâu mọt, khô mà không có ánh sáng, nguy chứng, do thận âm kiệt mà sinh khí tuyệt.

2. Sắc trạch hình thái khác thường của răng lợi:

(1) Răng lợi bình thường màu hồng mà tân nhuận, chắc chắn chân răng; nếu thâm đỏ thẫm là thái quá, hồng nhạt là chưa tốt; màu lợi trắng nhạt là khí huyết hư hao, không thể tô tươi cho lợi; lợi màu đỏ mà sưng là chứng nhiệt dương minh, đa số là vị hỏa thượng viêm; lợi hồng nhạt mà sưng, đa số là khí hư; lợi xanh tím mà sưng, đa số có kèm ứ huyết; thịt lợi mềm mà lại co rút, màu nhạt, đa số là thận nguyên hư hao hoặc vị âm bất túc.

(2) Lợi nổi mụn lở hoặc sưng đỏ cục bộ nhô cao dầy lên, giống như lợi kép, gọi là "lợi trùng", nguyên do thai độc hoặc tạng phủ tích nhiệt, hoặc ngoại cảm phong nhiệt, ứ kết ở lợi, tụ thấp, hóa đàm, sinh ứ mà dẫn đến bệnh này. Chứng "răng ngựa" ở trẻ em là trước khi mọc răng, ở trên lợi nổi lên những cục cứng to như hạt gạo màu trắng sữa hoặc màu vàng sữa, khác với lợi trùng, thường không có biểu hiện triệu chứng, tự sinh ra và tự mất đi.

(3) Lợi ở khe răng sinh ra thịt thừa, khác với lợi sưng, gọi là "xỉ ung", đa số nguyên nhân có liên quan đến ngoại cảm thấp nhiệt, vị nhiệt hoặc hư hỏa thượng viêm, lợi sưng huyết sưng tấy lâu ngày, hoặc hay ăn các đồ ăn động phong....

(4) Lợi ở khe răng có 1 vết màu lam thành đường dài, đa số là tiêm nhiễm độc chì; nếu do dùng thuốc có chất độc bạc cũng có thể gây nên có đường màu lam.

(5) Lợi sưng đỏ đau, là ngoại cảm phong nhiệt tà độc hoặc vị hỏa thượng viêm; lợi phù mà sưng tấy, không đỏ mà đau, là ngoại cảm phong hàn gây ra; lợi hơi đỏ không sưng, răng phù động, khi cắn nhai đau, sau giờ ngọ thì đau rõ là thận âm thiếu hụt, âm hư hỏa vượng.

(6) Lợi ở khe răng bị chảy máu, gọi là máu răng, máu ra tràn trề, màu đỏ tươi, lợi sưng mà đau, là vị trăng thực nhiệt, thực hỏa xung kích, đốt thương đến lạc của lợi gây ra; thấm chảy máu trong, lợi viêm không đau, là vị thận âm hao, hư hỏa chước lạc; máu nhạt thấm chảy ra không ngớt, màu lợi nhạt, đa số là tỳ hư khí không nhiếp huyết; trẻ em chảy máu răng miệng hôi, chân lạnh đau tả, là thận cam.

(7) Lợi khe răng kết thành vết màu tím như sơn khô là dương minh nhiệt thịnh động huyết; vết như tương đậu vàng, là âm huyết, là thận âm hạ kiệt, hư hỏa thượng viêm động huyết mà thành.

(8) Lợi viêm loét rữa nát, chảy mủ có mùi tanh hôi, vàng đặc và khối lượng nhiều, là phế vị hỏa nhiệt ủng thịnh; dịch mủ trong loãng hôi thôi, là thận âm bất túc, hư hỏa thượng viêm; dịch mủ trong loãng không có mùi vị là tỳ vị hư nhược.

(9) Lợi sinh thịt thừa lật ra như hoa, sưng cứng, ăn mòn rữa nát lõm vào, mùi hôi đau đớn, là tà hỏa độc đàm trọc ngưng kết mà thành, là triệu chứng ác tính.

(10) Lợi sưng tấy, thịt lợi ngày càng rữa hỏng, dẫn đến lộ cả chân răng, răng lung lay, thường thấm máu mủ, gọi là "nha tuyên". Có người do vị hỏa thượng chưng, là nhiệt tích lâu ở vị kinh, tà nhiệt hun chước vào lợi, khiến lợi mất tưới và co rút, có người do thận âm hao tổn, là tình huyết tưới lên không đủ, hư hỏa đốt lên, gây ra co rút thông lộ ra; còn có người khí huyết đều hao, lợi mất nhu dưỡng, kèm theo hư tà thừa hư mà nhập vào giữa lợi răng, lâu ngày lợi bị mềm rữa nát.

(11) Lợi sưng tấy diện rộng, sưng cứng đau đớn, nặng thì hàm má sưng phù, gọi là "nha ung", là vị kinh nhiệt độc công lên gây ra. Lợi sưng tấy cục bộ, nhỏ như hạt kê hạt gạo là nha đinh, là vị kinh hỏa độc công lên hoặc đại trăng kinh thấp nhiệt gây ra; nếu phá loét chảy máu, đau đớn khác thường, gọi là hắc đinh, là thận kinh hỏa độc gây ra.

(12) Lợi viêm loét đỏ đau đớn, miệng hôi chảy máu, người nặng thì ăn loét đến môi, hàm, rãng khô rụng, gọi là "nha cam", trong "Chủ bệnh nguồn hậu luận" gọi là "xỉ lậu", ngày nay gọi là rữa nát lợi. Lợi sưng đỏ loét, cực kỳ đau đớn, loét chảy máu hôi, nặng thì hàn nhiệt giao tác, gọi là phong nhiệt nha cam, là tỳ vị tích nhiệt, hoặc cảm tà phong nhiệt mà phát; nếu đồng thời hạ chi đau đớn, xuất hiện dạng như đám mây màu xanh, màu tựa như xanh đen, cơ bắp cứng, hoạt động không linh hoạt, gọi là "thanh thoái nha cam", do nằm lâu dưới đất ẩm ướt, hàn ức sinh nhiệt, vị trăng uất hỏa thượng viêm mà thành; lợi bị rữa nát tốc độ nhanh, từ màu trắng xám chuyển sang màu đen, chảy máu tím, vết loét đen lâu dài, có khi rụng rữa, hôi thối khó chịu, người nặng thì phá loét đến quai hàm, ngạc, sống mũi tẹt xuống, hàn nhiệt kịch tác, hoặc xuất hiện thần trí hôn mê, gọi là "tẩu mã nha cam", đa số phát sinh ở trẻ em, thường do dư độc của các bệnh như thương hàn, đậu mùa, sốt rét, kiết lỵ... chưa hết, thường do tích nhiệt độc hỏa công lên răng gây ra. Bệnh này phát bệnh bất thường nhanh, bệnh tình hiểm ác, khi đến mức tà thịnh chính suy mà không cứu được. Trong thịt chân răng có xương cứng nhọn đâm ra, đau đớn khác thường, gọi là "toàn nha cam", đa số phát sinh ở trẻ em, do hai kinh can vị tích nhiệt công lên gây ra.

(13) Đoạn cuối hàm răng ở giữa má và lợi răng sưng đau răng khép lại không thể há ra khép vào, nước canh khó vào, tạng hàn thận nhiệt, gọi là "nha ngân ung", do dương minh vị hỏa hun chưng mà thành. Nếu loét không liền miệng, lâu ngày không khỏi, dẫn đến hỏng xương, dẫn đến răng khuyết tổn máng răng, răng và giá răng đều rụng mà chuyển thành "cốt tào phong", là do cao lương mĩ vị uẩn ở vị trăng, và tà phong hỏa ụất kết ở lạc thiếu dương, dương minh mà phát ra.

(14) Lợi sưng tấy kết lại, cao thấp như mầm, màu tím đen, gọi là "nha tẩm", là hỏa thịnh huyết nhiệt kèm theo trệ khí uất kết ở vị kinh mà thành.

(15) Lợi co rút xung quanh viêm loét màu đỏ, là thận âm hao tổn, hư hỏa thượng viêm; viêm loét viền biên màu nhạt, lợi xám nhợt, là khí huyết lưỡng hao.

3. Răng bẩn thay đổi sắc trạch hình thái:

(1) Răng cáu bẩn là khí bẩn đục trong dạ dầy kết thành, mà bệnh sâu động huyết, tất trước hết kết vết ở trên răng. Cáu bẩn vàng dầy là vị nhiệt hun chưng; cáu bẩn trắng dầy đa số là thấp tụ ở trung tiêu; răng cáu vàng, mặt mắt móng tay vàng, là hoàng đản; răng cáu bẩn màu xám là tân dịch thận, vị lương thương, răng khô cháy có bẩn là thận, vị cạn dịch.

(2) Răng bẩn như dính bánh kem, là tân khí thận, vị đều vong, thấp trọc nội thịnh, thuộc dạng khó trị.

(3) Bẩn cứng mà dai, đa số là thực chứng; mềm mà nhão đa số là hư chứng; cáu bẩn nhiều mà miệng hôi, đa số là thực chứng, cáu bẩn ít mà miệng dịu đa số là hư chứng; giũa cáu bẩn có sợi đỏ, là do xuất huyết; cáu bẩn kèm theo hạt cứng, đa số là vị trệ.

2.    Chức năng khác thường của lợi

Chức năng nhai cắn của răng chủ yếu dựa vào sự chắc chắn của răng, có liên quan ít nhiều đến sự thịnh suy của tinh khí của thận và khí huyết của kinh lạc dương minh.

1. Răng không chắc hoặc thưa ít dao động, hoặc giòn yếu, hoặc chân răng phù lộ, đa số là thận hư.

2. Răng mọc chậm, đa số là thận tinh bất túc; lợi sưng đau, răng lỏng lung lay không nhai cắn được, kèm theo bí tiện nước tiểu đỏ, miệng hôi khát là nhiệt tích trăng vị; răng lung lay, nhai cắn kém lực, sau khi lao động vất vả càng nặng thêm, kèm theo cơ thể mệt mỏi, đa số là thận hư.

3. Người lớn đêm nghiến răng cót két đa số do khí kết ở can tỳ, đàm hỏa nội nhiễu, trẻ em xuất hiện triệu chứng này, đa số do bị trùng tích (nhiều giun).

4. Bệnh nhân xuất hiện nghiến răng đơn, đa số do vị nhiệt, khí thoán kinh lạc, nếu hàm răng nghiến chặt khó mở miệng là do phong đàm trở lạc hoặc nhiệt cực động phong, sắp gây co giật; nghiến răng mà mạch chứng đều hư, là vị khí bất túc, gân mạch thất dưỡng, lưỡi không co mà cứng, răng cắn chặt khó mở, phi phong đàm trở lạc, tất là nhiệt thịnh động phong.

5. Ôn bệnh đang hạ mà mất hạ, hàm răng cắn chặt là hỏa độc bế phục, nếu sau khi hạ mà có thể mở khép được hàm răng thì có thể sống; sau khi hạ ra mồ hôi không dừng, hàm răng cắn chặt, là vị tuyệt khó trị.

6. Răng lợi hoàn hảo, hoặc chân răng hơi lộ, không sưng đỏ không dao động; nhưng khi gặp sự kích thích của nóng, lạnh, chua, ngọt thì đau đớn khó chịu đó là dị ứng tửy răng, đại đa số là do đánh răng quá mạnh, làm tổn thương đến men răng.

3. Cảm giác của mình

1. Đau răng đến lạnh buốt là ngoại cảm phong nhiệt hoặc vị hỏa xung lên; bị sốt mà đau là ngoại cảm phong hàn; nếu bất luận là hàn nhiệt đều kích thích đau, gọi là đau răng hàn nhiệt.

2. Bắt đầu đau răng, chỗ đau sưng đỏ nóng rát, là ngoại cảm tà độc phong nhiệt; đau không thể hiện rõ nét, chỗ đau không đỏ hơi sưng là ngoại cảm phong hàn, lợi viêm loét mà đau nhẹ, hoặc mỗi khi ăn bị kích thích đau, đa số là hư hỏa thượng viêm, chỗ bị viêm, chỗ bị viêm loét đau kịch liệt, vết viêm loét đỏ thẫm, là do tâm tỳ tích nhiệt chưng lên.

3. Răng đau liên tục không giảm bớt, chủ về thực chứng; đau khi nặng khi nhẹ là thực hư lẫn lộn; răng đau âm ỉ triền miên không nghỉ là hư chứng; đau răng sáng nhẹ chiều nặng là âm hư, sáng nặng chiều nhẹ là dương hư.

4. Răng trên đau là vị hỏa thượng viêm; răng dưới đau là đại trăng có nhiệt.

5. Lợi đau nhẹ mà sưng tấy rõ răng là thấp nhiệt hun chưng, lợi sưng không rõ rệt mà đau đớn khó chịu là tà thấp nhiệt công lên.

6. Răng đau buốt đến tận đầu, là ngoại cảm tà phong hàn phạm não; đau như kim châm, là ứ huyết công lợi; chân răng có lỗ mà đau, khi đau khi không là sâu răng ăn mòn; lợi má đều sưng liền cả mặt đầu, thường là tà thực nhiệt công lên.

7. Răng đau mỏi, yếu kém lực, là do ăn đồ ăn chua, tỳ vị hư nhược, hoặc cảm thụ phong hàn gây ra.

8. Chảy máu răng mà đau, miệng hôi lợi sưng, là dương minh vị nhiệt công lên, thuộc thực chứng, đa số bệnh nhẹ cạn; chảy máu răng mà không đau, màu máu đỏ nhạt, hoặc răng lung lay không chắc, là thận thủy bất túc, bệnh thế tương đối nặng.

9. Sờ ấn, gõ răng thấy đau rõ rệt, cục bộ sưng đỏ nóng, thuộc chứng thực nhiệt; sò, ấn, gõ răng thấy đau âm ỉ, cục bộ không đỏ không nóng, sưng tấy nhẹ, thuộc chứng hư hàn.

Ngoài ra, theo các báo cáo, hình trạng của răng còn có thể phản ánh khí chất của con người, như người phương đông, hai răng cửa đều là hình xẻng. Nhìn chung mà nói, răng cửa to dài chắc chắn, có tính kiên nghị; răng cửa nhỏ mà giòn bẩm tính hơi nhược; răng cửa như hổ, cá tính hung hãn; răng của như mũi ưng, đa số tính gian hoạt, răng cửa to rộng dầy, tính thành thật; răng của nhọn nhỏ, tính mẫn cảm.

[Nghiên cứu hiện đại]

Có người lại cho rằng, chẩn răng tuy không quan trọng như chẩn mạch, nhưng cũng luôn là điều cần thiết khi khám bệnh của các nhà y. Chú trọng chẩn răng có thể đoán được bệnh, xét nghiệm răng có thể biết được bệnh, quan sát cáu bẩn có thể tìm được bệnh chứng. Cho rằng răng đau má sưng, là phong hỏa uất bế; đau răng đến cả tai là hỏa đến thiếu dương; răng đau môi sưng, là thấp uất thái âm; răng đau sốt cáo, là nhiệt tụ thái dương; răng đau ác hàn, đa số là chứng có liên can đến đại tràng; khe răng chảy máu, là dương minh táo hỏa; sinh đau cạnh răng, là tỳ kinh thấp nhiệt; bệnh mới cắn lưỡi đa số là kinh phong, bệnh lâu cắn lưỡi là thận tuyệt; cáu bẩn vàng là dương minh nhiệt thịnh, cáu bẩn trắng là thấp tụ thái âm; lợi loét môi sưng, là phong nhiệt nội ủng; lợi viêm loét, tạng phủ uẩn nhiệt; răng lợi co rút, khí huyết khốn trở; lợi sinh u nhỏ là đàm hỏa nội tụ; răng đỏ mà sưng là uất hỏa, nhạt mà sưng là khí hao; sưng mà bộc lộ nhanh đa số là thực, tấy mà chậm đa số là hư; sưng mà cứng là tạng phủ tích nhiệt; sưng mà mềm là hư hỏa vọng động; tấy mà màu nhạt, thường kèm theo đờm; sưng mà xanh tím đa số kèm theo ứ; tấy mà đau là khí thịnh dương minh; sưng mà ngứa là huyết hư tâm gia....

Qua nghiên cứu điều tra về mối quan hệ khuyết răng với thận hư đối với 1210 người già từ 60 tuổi trở lên, đã phát hiện:

(1) Trong các chứng ngũ tạng hư của các cụ già rụng răng, thì tỷ lệ thận hư là cao nhất, chiếm 31,3%, thứ tự đến là gan hư là 19%, tâm hư là 13,6%, phế hư là 12,5%, tỳ hư là 9,4%, không có chứng hư là 14,2%. Trong đó đối với 478 cụ rụng trên 50% răng và 732 cụ rụng dưới 50% răng, cũng đều là thận hư chiếm hàng đầu, tỷ lệ khác nhau là 45,6% và 22%.

(2) Trong các chứng hư khí huyết âm dương của các cụ già rụng răng thì dương hư chiếm hàng đầu, chiếm 26,2%, thứ tự đến là âm hư chiếm 19,8%, khí hư 18,8%, huyết hư 16,8%, không có chứng hư 18,4%. Trong đó đối với các cụ già rụng răng trên 50% và dưới 50% cũng có tỷ lệ thận hư là cao nhất, tỷ lệ khác nhau là 28,1% và 25%. Từ đó chứng minh các cụ già có thận hư và dương hư là tình trạng rụng răng nghiêm trọng nhất. Tiến hành nghiên cứu về môi quan hệ của sự thay đổi của lợi răng với bệnh niêm mạc dạ đầy của 130 bệnh nhân bị bệnh dạ dầy, kết quả cho thấy có 4 người niêm mạc dạ dầy bình thường thì lợi bình thường; trong 65 người viêm bề cạn dạ dầy, có 48 người lợi bình thường, 11 người bị co rút (10 người nhẹ và 1 người nặng), 8 người có biểu hiện viêm lợi; trong 35 người viêm dạ dầy dạng co rút, có 33 người lợi bị co rút (7 người nhẹ độ, 17 người trung bình, 9 người nặng độ), có 2 người có biểu hiện viêm lợi; trong 8 người bị viêm loét dạ dầy, có 2 người lợi bình thường, 6 người bị co rút (5 người nhẹ và 1 người nặng); 1 người bị viêm cầu bộ hành tá trăng thì lợi bình thường; 5 người viêm loét hành tá trăng, có 4 người lợi bình thường, 1 ngươi có biểu hiện viêm lợi; trong 4 người có khôi u dạ dầy lợi bình thường, co rút trung độ, các tăng sinh khác là 1 người, 1 người khác có biểu hiện viêm lợi, 6 người bị ung thư dạ dầy đều bị co rút lợi (1 người nhẹ độ và 5 người nặng độ).

Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ tương quan giữa răng, môi, mũi, ngón tay, đã phát hiện độ rộng của răng, bề rộng ngón út, bề rộng đế mũi và độ dầy của môi tương đôi bằng nhau, có giá trị quan trọng cho việc thẩm mỹ chỉnh hình trong lâm sàng.

Nguyên nhân đau răng thường do bị sâu ăn mòn đến tủy răng, viêm quanh răng gây nên, lâm sàng thường biện chứng bệnh đau răng phân làm 3 loại là phong nhiệt, vị hỏa và hư hỏa, loại phong hàn, chứng thấy đau răng, gặp gió hoặc uống nưóc lạnh thì đau kịch liệt, kèm theo biểu chứng phong hàn. Có người lại phân làm 8 loại, tức là: (1) Phong nhiệt; (2) Phong hàn, (3) Vị hỏa cực thịnh; (4) Vị âm bất túc, hư hỏa thượng viêm; (5) Khí hư; (6) Đàm trọc lưu trú; (7) ứ huyết trở trệ; (8) Tâm tỳ lưỡng hư. Đồng thời chỉ rõ nếu người bệnh có kèm theo cốc chứng có liên quan đến kinh nguyệt không đều, thời kỳ tắt kinh hoặc liên quan đến tình chí, có thể theo chứng uất mà biện trị, đây là điều cung cấp để có thể tham khảo đốĩ với chứng huyết nhiệt ứ trở của bệnh đau răng, thì vừa cần tả lại vừa cần khu ứ (trừ ứ) mới có thể nâng cao công hiệu, phương pháp biện chứng luận trị chứng đau răng rất là phong phú.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 1: Chương 5.

Quan tâm  
4

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Xô Thơm - Salvia Officinalis
Từ xưa, cây Xô thơm (Salvia Officinalis) được xem là một loại thảo mộc thiêng liêng, đặc biệt là người La Mã tin rằng cây xô thơm có thể chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, kéo dài cuộc sống con người. Người Trung Quốc cũng đánh giá...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.