Thứ sáu, 23/02/2018 1:33 AM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Nhân Trung

Thứ ba, 06/02/2018 8:43 PM

Nhân trung, còn có tên là thủy câu, vị trí của nó ở chính giữa dưới mũi và môi trên. Trong các y tịch cổ đại thường lấy vị trí "dưới mũi" để biểu thị nhân trung. Trong lâm sàng thông qua phương pháp quan sát hình thái, sắc trạch, ôn độ, khô ưót... của nhân trung để chẩn đoán bệnh tật, gọi là phương pháp chẩn nhân trung. Phương pháp chẩn nhân trung thấy sớm nhất trong "Nội kinh", trong sách đã có ghi cách nhìn sắc trạch, hình thái nhân trung để suy đoán bệnh tật ở bàng quang và tử cung. Như trong "Linh khu. Ngũ sắc" có nói: "Phía dưới diện vương, là bàng quang tử cung vậy""môi dầy nhân trung dài dĩ hậu tiểu tràng", Trương Cảnh Nhạc có nói rằng: "Phía dưới diện vương là nhân trung, là nơi đổi ứng bàng quang, tử cung". Các nhà y cổ đại chẩn sát nhân trung thường phụ thêm phạm trù miệng, môi và mũi, như "Khẩu oa thần chẩn" trong "Linh khu. Kinh mạch"; "Chính khí dẫn tà, oa tịch bất toại" trong "Kim quỹ yếu lược. Trúng phong bệnh mạch chứng tính trị"; "Thần (môi) chính xích giả sinh, thần diện đều xanh giả tử" và "Bệnh phong, dưới mũi đỏ đen lẫn lộn, sùi bọt mép thâm thẳng đơ, 7 ngày chết" ghi trong "Trung tạng kinh".... Hậu thế từ Đường, Tông đến Minh Thanh cũng có những trình bày tương tự. Như trong "Y học cương mục" nêu lên bệnh méo mồm lệch mắt là do phong, bệnh của nó thuộc dạ dầy.... Từ giữa thế kỷ 20 đến nay có 2 bản tài liệu cao cấp "Trung y chẩn đoán học" đề cập đến sự thay đổi dài ngắn của nhân trung, dự báo sự lành dữ của bệnh tật, đồng thời cũng có một số tài liệu nêu lên vấn đề quan sát nhân trung để dự đoán tình trạng tử cung. Nhân trung chẩn pháp ngày càng được mọi người coi trọng.

Quan sát thay đổi của nhân trung, có thể phản ánh tình trạng của hệ thống tiết niệu và sinh dục của
 nam nữ.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Vị trí nhân trung là nơi quan trọng giao nhau của kinh lạc, là nơi kinh khí xuyên suốt, có quan hệ mật thiết với kinh mạch. Như thủ dương minh đại tràng kinh "giao nhân trung"; túc dương minh vị kinh "kẹp sát vành môi"; túc quyết âm can kinh "trong vành môi"; thủ thối dương tiểu tràng kinh "từ dưới mũi lên đến khóe trong mắt".... Do bởi mối quan hệ lạc thuộc của kinh mạch, làm cho nhân trung có mối liên hệ với kinh mạch và các tạng phủ tương ứng của nó, vì vậy, sự thay đổi của chức năng tạng phủ cơ thể và khí huyết tân dịch..., có thể phản ánh qua sự thay đổi về sắc trạch, hình thái, nhiệt độ... của nhân trung.

2. Do bởi 3 mạch xung, nhâm, đốc đều khỏi ở trong bao của phần hội âm cơ thể, khi tuần hành đi lên thì 2 mạch nhâm, đốc đều trực tiếp giao hội ở nhân trung, xung mạch cũng có 1 chi lạc mạch vòng quanh ở môi mà có liên quan tới nhân trung. Mà nhâm mạch là bể của âm kinh, thống lĩnh các âm; đốc mạch là bể của đường kinh, thống lĩnh các dương, khí của nó thông với thận, do vậy nhân trung là nơi hội tụ của kinh khí cơ thể, nó không chỉ phản ánh bệnh tật của tạng phủ kinh lạc, mà còn phản ánh sự tồn vong của đương khí và sự thịnh suy của thận khí. Nhân trung là nơi trọng yếu phản ánh thận, mệnh môn và dương khí, quan sát chẩn đoán nhân trung có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc chẩn đoán bệnh tật của hệ thống tiết niệu, sinh dục.

3. Nhìn từ góc độ phát sinh học cơ thể, nhân trung và tử cung về phương diện phát sinh học có mối liên hệ nhất định. Do sự hình thành khác thường của tử cung có liên quan đến sự phát triển khác thường của trung thận bàng quang, mà thời kỳ hình thành của trung thận bàng quang cũng vừa đúng vào thời kỳ hình thành của môi trên (nhân trung) (tuần thứ 6 - 7 của sự sinh trưởng phôi thai). Nếu trong thời kỳ này phôi thai bị ảnh hưởng của một nhân tố nào đó, thì sự hình thành của trung thận bàng quang và sự hình thành của môi trên, đều có thể chịu sự ảnh hưởng của nhân tố đó mà phát sinh sự biến dị đồng bộ về mặt hình thái. Do vậy mới nói, quan sát thay đổi của nhân trung, có thể phản ánh tình trạng của hệ thống tiết niệu và sinh dục của nam nữ.

[Phương pháp chẩn đoán]

Quan sát chẩn đoán nhân trung, lấy vọng chẩn là chính, bao gồm nhìn về sắc trạch (màu trắng, đỏ, đen...), độ dài của nhân trung, độ sâu cạn của nhân trung, trong rãnh nhân trung có nốt lồi lên hay đường vân nhăn rõ rệt hay không, thứ đến là xúc chẩn (sờ) cảm nhận nhiệt độ (nóng, lạnh...) và thấp độ (ra mồ hôi, khô táo...) của nhân trung.

1. Phương pháp trắc lượng độ dài nhân trung với tiêu chuẩn: Có thể tham khảo so sánh với những quy định có liên quan trong "Sổ tay trắc lượng nhân thể", lấy từ điểm dưới mũi (giao điểm giữa vách ngăn của mũi với phần đỉnh của môi trên đến trung điểm đường viền của môi trên là độ dài của nhân trung. Nhân trung dưới 12mm là nhân trung ngắn; từ 12 - 19mm là trung bình, dài hơn 19mm là nhân trung dài.

2. Phương pháp quan sát độ sâu cạn của rãnh nhân trung so với tiêu chuẩn: Người được kiểm tra ngồi đối diện với người kiểm tra, dùng đèn tụ tiêu chiếu mặt cạnh của rãnh nhân trung, tia sáng chếch với mặt bằng môi trên thành góc từ 30 - 45°, quan sát 2 cạnh viền bên của rãnh nhân trung cao lên có rõ ràng hay không. Nếu viền cạnh nhân trung không cao rõ ràng, đường rãnh nhân trung bằng hoặc môi trên bằng đầy, thì bóng tối trong rãnh nhân trung không rõ rệt, là rãnh nhân trung cạn bằng; viền bên nhân trung cao lên rõ rệt, giữa hai đường viền rãnh lõm xuống rõ ràng, bóng tốì trong đường rãnh có thể nhìn thấy rõ ràng, là rãnh nhân trung sâu; ở giữa hai dạng trên là trung bình.

3. Phương pháp quan sát hình thái của rãnh nhân trung so với đặc trưng khác thường. Phương pháp quan sát giông như cách (2), quan sát trong đường rãnh nhân trung có nốt hoặc đường gờ lồi lên hay đường vân nhăn dọc hoặc ngang rõ rệt hay không, đường gò nhỏ lồi cao lên dạng giông như vết sẹo trên da, độ dài bất nhất, phần lớn có các đường gò dọc hoặc gờ xiên nằm trong rãnh nhân trung; dạng chấm, nốt lồi lên có dạng khoảng bằng nốt kim châm, sắc trạch da bình thường, không có hiện tượng sung huyết sưng đỏ, có thể phân biệt với viêm túi chân lông; đường vân nhăn dọc đa số hiển thị rõ ràng khi chiếu đèn mặt bên; đường vân nhăn ngang thì đa số nhìn thấy khi mỉm cười. Rãnh nhân trung phân chia đều môi trên làm 2 phần, là đường cơ chuẩn trái phải của cơ thể, sẽ định hình cơ thể đã phát triển ổn định. Nhân trung của người bình thường thẳng ngay ngắn không xiên lệch, đường viền hai bên rãnh rõ ràng, trong hẹp ngoài rộng, độ dài khoảng bằng đốt ngón tay trở. Người thân cao mặt dài, nhân trung hơi dài, người thấp mặt ngắn nhân trung hơi ngắn; người béo mặt rộng, nhân trung hơi rộng; người gầy mặt nhỏ hẹp, nhân trung hơi hẹp. Ôn độ và màu sắc của nó cùng với ôn độ và màu sắc toàn bộ khuôn mặt như nhau. Loại hình nhân trung chủ yếu có mấy loại như hình 1-54 theo "Trung y tật bệnh dự trắc học".

[Vận dụng lâm sàng]

1. Nhân trung chỉnh tề ngay ngắn, hơi có hình thang trên hẹp dưới rộng, độ sâu rãnh vừa phải, đường viền rõ ràng đều đặn, đôi xứng, là hình thái bình thường. Biểu thị tử cung, âm kình, hệ sinh dục phát triển tốt, nữ giới có chức năng của âm kinh, rụng trứng và sinh dục bình thường.

2. Nhân trung ngắn cạn: Nhân trung quá ngắn, đường rãnh bẹt bằng, đường viền lờ mờ, màu sắc của nó nhạt, nói chung biểu thị tử cung nhỏ, (thường là kiểu tử cung ấu trĩ), cổ tử cung ngắn phát dục kém, đa số không sinh trưởng màng trong; hoặc cổ tử cung mềm nhão, sau khi có thai dễ sẩy thai; hoặc âm kinh ngắn nhỏ, tinh hoàn bẩm sinh phát triển không tốt. Theo quan sát lâm sàng, tính dục của loại người này khá thấp hoặc không phát dục, nữ giới có thể có kinh nguyệt lần đầu tiên chậm, lượng kinh ít; nam giới có thể có liệt dương, di tinh, kiểm tra tinh dịch có thể thấy tinh trùng thường hoạt động dưới 50%, số lượng tinh trùng ít. Theo báo cáo, độ dài nhân trung ngắn hơn đốt ngón giữa 0,5cm trở lên, nam giới có thể xuất hiện chứng liệt dương, di tinh, bất dục, kiểm tra tinh dịch thấy tinh trùng chết chiếm 70%.

3. Nhân trung hẹp dài: Đường rãnh nhân trung nhỏ hẹp mà dài, đường viền rãnh rõ ràng, hoặc đoạn giữa nhỏ, trên dưới hơi rộng, màu của nó ám tối, là loại dài hẹp. Biểu thị thể hiện tử cung nhỏ hẹp, cổ tử cung hẹp dài, nam giới có thể bao da quá cáng hoặc quá dài, nữ giới đa số hay bị thông kinh. Theo báo cáo, độ dài nhân trung dài hơn dôtd ngón tay giữa thường thấy sa tử cung, rãnh sâu đa số là tử cung lùi về sau, rãnh cạn thì nghiêng về phía trước, người rộng là tử cung có khối u co.

4. Nhân trung trên rộng dưới hẹp, tựa như hình lê đảo: Là nhân trung kiểu lê đảo, đa số tử cung nghiêng về phía trước hoặc dịch về phía trước, thường có biểu hiện hành kinh trướng đau.

5. Nhân trung trên hẹp dưới rộng, có hình chữ bát (八). Đa số biểu thị tử cung nghiêng về sau hoặc hậu vị, thường biểu hiện hành kinh đau mỏi lưng, người nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sự thụ thai, thường thấy ở người có dáng thấp béo.

6. Nhân trung không ngay ngắn: Đường rãnh nhân trung hoặc một bên đường viền lệch sang trái hoặc sang phải (loại trừ do bẩm sinh, bị tổn thương hoặc do thần kinh gây biến dạng mũi và rãnh môi), là loại nhân trung lệch, nhân trung lệch sang trái, biểu thị thế tử cung thiên về bên trái, nhân trung xiên sang phải, biểu thị thế tử cung thiên về sau.

7. Nhân trung có khuyết hãm: Gọi là loại nhân trung lõm hãm, theo báo cáo thì biểu thị xương chậu khác thường hoặc xương chậu nhỏ hẹp, sinh đẻ khó.

8. Nhân trung có 2 rãnh, gọi là song nhân trung, biểu thị bên trong có 2 tử cung, thậm chí 2 âm đạo hoặc 2 hoành cách âm đạo.

9. Đường rãnh nhân trung cạn mà bằng phẳng, viền rãnh không rõ, gọi là loại cạn phăng, rộng hẹp đều thấy có. Cạn mà hẹp là biểu thị tử cung bị co rút do hậu thiên, chất cứng, hoạt động kém, thường biểu hiện là kỳ kinh rốì loạn, lượng kinh dần dần bị giảm sút dẫn đến bế kinh; cạn mà rộng là biểu thị tử cung phát triển không tốt do bẩm sinh, hoặc chức năng sinh dục thấp kém, hoặc tử cung co rút (đa số thấy ở người già).

Căn cứ vào quy luật đã trình bày trên đây để quan sát kinh nguyệt và bệnh tật của phụ nữ:

(1) Thời gian có kinh nguyệt lần đầu tiên tương đổi sớm đốỉ với kiểu bình thường và kiểu chữ bát (八) (từ 12-14 tuổi), tương đối chậm đối với kiểu cạn bằng và cạn ngắn (15 - 18 tuổi);

(2) Hành kinh; Kiểu chữ bát 八, kiểu hình lê đảo khi hành kinh kèm theo đau bụng, đau lưng rõ rệt;

(3) Bế kinh; Đa số là kiểu ngắn cạn, kiểu dài hẹp, và hình xiên lệch;

(4) Bất dục; Phần lớn là kiểu ngắn cạn do bẩm sinh, kiểu dài hẹp, kiểu cạn bằng. Người do bệnh kế phát thì phần lớn là kiểu xiên lệch, kiểu hỗn hợp (cùng đồng thời tồn tại các kiểu).

10. Nhân trung lồi lên: Trong rãnh nhân trung có vật tăng sinh lồi cao lên ở vị trí khác nhau, thậm chí làm thay đổi hình thái nhân trung, gọi là đường rãnh nhân trung kiểu lồi lên.

Biểu thị tình trạng tương đối phức tạp, thường là cổ tử cung viêm loét. Tăng sinh một bên hoặc biến dạng, thì đa số có một bên đau bụng hoặc ấn đau hoặc đau mỏi lưng và kinh nguyệt không đều, khám phụ khoa đa số viêm phụ kiện hoặc tăng dầy, tử cung có u hoặc thịt thừa, túi sưng....

11. Nhân trung nổi nốt mẩn: Đa số biểu thị cổ tử cung viêm rữa, viêm phụ kiện, nam giới thì đa số viêm tuyến tiền liệt, viêm dây tinh....

12. Nhân trung có ban ứ: Biểu thị lao màng trong tử cung, lao tinh hoàn, tĩnh mạch dây tinh giãn nở....

13. Kiểu nhân trung hỗn hợp: Là nhân trung có nhiều loại dị dạng cùng xuất hiện giao nhau, biểu thị ý nghĩa lâm sàng như trên đã trình bày.

14. Nhân trung mềm nhão biến dạng dài: Đa số là sa tử cung.

15. Phụ nữ có thai nếu nhân trung ngắn hơn đốt ngón giữa, đa số là thận khí thiếu hụt bẩm sinh, thường là khó đẻ, đẻ non; nếu nhân trung vốn đang bình thường, mà sau khi có thai một thời kỳ nhân trung đột nhiên trở nên ngắn lại, mà còn kèm theo đau mỏi sống lưng, khí hư ra nhiều, thì khó tránh khỏi đẻ non, hiện tượng này thường xuất hiện trước khi sẩy thai từ 7 - 15 ngày.

16. Phụ nữ có thai nhân trung xuất hiện khô vàng mà cạn bằng, mà rãnh nhân trung có dạng lê đảo trên rộng dưới hẹp, biểu thị thai nhi ngừng phát triển, nặng thì thai chết trong bụng.

17. Phụ nữ có thai nhân trung biến dạng dài hơn trước khi có thai, mà khí sắc vàng hoạt; đa số thai nhi là con trai. Có ngươi vận dụng phương pháp phân biệt thai nhi trai gái của Đông y đã thông kê 264 trường hợp, trong đó trong 126 trường hợp thai nhi con trai có 94 trường hợp trong thời kỳ có thai nhân trung biến dạng dài ra, chiếm 78%.

Qua quan sát rãnh nhân trung và tình hình phát dục tử cung của 70 trường hợp không có thai nguyên phát và 100 trường hợp đã qua sinh đẻ, đã xác thực giữa nhân trung và tử cung là có môi liên hệ. Đem nhân trung quy nạp thành 5 kiểu hình thái, tức là kiểu ngay thẳng, kiểu lê đảo, kiểu bằng đầy, kiểu rãnh ngang và kiểu nhỏ hẹp. Và phát hiện thấy trong 70 bệnh nhân không có thai nguyên phát, chỉ có 10 người có rãnh nhân trung ngay ngắn và hình lê đảo, chiếm 14,29%; còn bằng đầy, rãnh ngang và kiểu nhỏ hẹp tới 60 người, chiếm 85,71%. Trong nhóm so sánh 100 người đã qua sinh đẻ thì rãnh nhân trung ngay ngắn và hình lê đảo có tới 97 người, đạt 97%. Qua xử lý thống kê học, p < 0,001, có sự khác biệt vô cùng rõ rệt. Chứng minh chứng không có thai nguyên phát có quan hệ rất mật thiết với loại hình rãnh nhân trung. Mà trong 170 người được kiểm tra, số tử cung bình thường lớn hơn, tới 110 người, trong đó số người có rãnh nhân trung ngay thẳng và hình lê đảo có 105 người, chiếm 95,45%; còn 3 kiểu nhân trung khác chỉ có 5 người, chiếm 4,55%. xử lý thống kê học p < 0,001, có sự khác biệt rất rõ ràng. Chứng minh tử cung bình thường thì rãnh nhân trung đa số là ngay ngắn và hình lê đảo, mà tử cung không bình thường thì rãnh nhân trung đa số là kiểu bằng đầy, kiểu rãnh ngang và kiểu nhỏ hẹp.

18. Những bệnh chứng của hệ tiết niệu thường biểu hiện ở nhân trung. Như là bệnh nhân bí đái, nếu thường thay đổi cạn mà có màu sáng trắng, là thận hư khí hóa không tới bàng quang; nếu nhân trung trước mềm kém, tiếp đến cạn và co ngắn, là thận hư cực độ, thủy độc nội chiếm, tà có xu thể xung tâm; nếu bị bệnh thận mà xuất hiện khí nitơ trong máu, nhân trung có hiện tượng mềm yếu kém, tiếp đến chuyển sang nhiễm độc nước tiểu thì sẽ co rút lại, đến khi hôn mê lâm nguy thì môi sẽ lật ra ngoài.

19. Nhân trung cũng biểu hiện bệnh của hệ thông tiểu tràng và tâm. Nếu người bị bệnh động mạch vành ẩn tính mà khi triệu chứng lâm sàng còn chưa biểu lộ rõ rệt, nhân trung có dạng dài hẹp, màu sắc tối trệ, để đến khi phát tác đau thắt cơ tim, thì nhân trung màu tím tối, nặng thì co ngắn.

20. Nếu người bệnh nặng, nếu nhân trung co ngắn, môi trở nên mỏng, là tỳ âm tuyệt; nếu ngắn tựa như không có là chứng nguy kịch âm dương ly quyết; nhân trung co cong lên, gọi là môi lật, là khí tạng phủ sắp tuyệt, nhất là hiện tượng tỳ khí bại kiệt. Ngược lại, nhân trung đầy lên, là hiện tượng tỳ dương sắp tuyệt; nếu nhân trung đầy lên mà môi lật ra ngoài, cũng là triệu chứng âm dương ly quyết. Cho nên "Trung tạng kinh" có nói: "Mặt xanh, nhân trung lật, 3 ngày thì chết"; "Người môi lật nhân trung đầy thì chết".

21. Sự thay đổi hình thái của nhân trung: Trong chứng bệnh nghiêm trọng, thường thấy nhiều ở bệnh trúng phong. Phong tà trúng vào kinh lạc, thì thấy mồm mắt méo lệch; phong trúng tạng phủ, có thể thấy miệng co giật, môi lật ra; người môi bị run, có thể do huyết hư phong động hoặc tỳ mất nhu dưỡng gây ra, đa số thấy ở phụ nữ tuổi già do sinh đẻ quá nhiều, thiếu máu do sẩy nạo thai nhiều lần, hoặc di chứng của trúng phong.

22. Sắc trạch của nhân trung với của cả khuôn mặt như nhau, khi bệnh tình nghiêm trọng, có thể thấy ở nhân trung xuất hiện sắc trạch khác thường, sắc trạch nhân trung vàng mà hồng nhuận, da co đầy nhuận, là tỳ thận khỏe mạnh, hậu thiên sung túc thịnh vượng; ngược lại, nhân trung màu vàng héo; da cơ mềm mỏng, là tỳ thận hư nhược, âm huyết thiếu hụt; nhân trung màu vàng đất là tỳ vị hư hàn; phụ nữ có thai nhân trung vàng là sẩy thai băng huyết, là thai chết trong bụng.

23. Nhân trung màu trắng là bệnh nguy khó trị; nhân trung màu trắng nhạt, có thể thấy ở chứng hư hàn tiết tả (viêm kết tràng ở dạng viêm loét mạn tính); màu trắng nhạt mà khô đa số là huyết khô bế kinh; nhân trung trắng sáng, mồ hôi lạnh đầm đìa, đa số là ho, khạc ra máu (phế quang giãn, lao phổi khạc ra máu); đoạn trên gần với mũi của nhân trung màu trắng sáng, là khí hư băng lậu.

24. Nhân trung hơi có màu đỏ thẫm, đa số là bệnh phát ung thư; đoạn dưới gần môi của nhân trung có màu đỏ lựng, đa số là huyết nhiệt băng lậu, hoặc rong huyết do bàng quang thấp nhiệt; đoạn dưới gần với môi của nhân trung có màu tím nhạt, nặng thì rãnh nhân trung co ngắn, đa số thấy ở bệnh đau dạ dầy thực nhiệt (viêm loét cầu bộ hành tá tràng); nhân trung ẩn hiện màu tím đỏ, đa số là ứ nhiệt thông kinh. Phát sinh ở nhân trung tựa như đinh, to bằng hạt đậu đỏ, màu tím đỉnh khô, gọi là nhọt long tuyền, do thượng tiêu phong nhiệt công vào đốc mạch gây ra.

25. Nhân trung màu xanh chủ về chứng hàn; nhân trung ẩn hiện màu xanh, đa số là tính hàn thông kinh.

26. Nhân trung màu đen, có thể thấy ở các bệnh tổng hợp về thận và chứng nhiễm độc đường niệu (nước tiểu); nhân trung khi đen khi xanh, chủ về bệnh gan và bệnh thận; nhiếp khẩu màu xanh, nhân trung rung động, là can phong hiếp tỳ; nhân trung hơi đen chủ về chứng nhiệt. Nhân trung màu xám tối không tươi, đa số thấy ở bệnh liệt dương, nam giới bất dục, tình dục quá độ, mất tinh và bệnh hệ thống tiết niệu nam giới, nữ giới viêm cổ tử cung, viêm phụ kiện, u nang buồng trứng, u sơ tử cung..., nhân trung xanh đen, có thể thấy ở bệnh nhân viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, sỏi ống dẫn niệu khi bệnh phát đau. Người bị lỵ bỗng bị đau dưới rốn, nhân trung màu đen, là bệnh nguy kịch.

27. Nhân trung có màu xanh tối, đa số là bị viêm túi mật nghiêm trọng, sỏi mật, đau thắt mật.

28. Nhân trung xuất hiện màu nâu đen, hoặc có dạng vết ban đen, là khí thiên quý kiệt, mạch xung, nhâm không đủ; sắc trạch nhân trung tối trệ mà khô khan, hoặc có sắc tố lắng dọng, đa số là thận hư không có thai; nhân trung sáng sủa tươi nhuận rõ ràng, biểu thị khí huyết thai phụ thịnh vượng, mẫu tử an khang. Cho nên sự thay đổi sắc trạch của phần nhân trung, có thể coi là tài liệu tham khảo để chẩn đoán thai sớm.

29. Nhiệt độ của nhân trung và nhiệt độ khuôn mặt đều như nhau, khi sờ bề ngoài nhân trung có cảm giác nóng bỏng, là bệnh ngoại cảm ôn nhiệt, ấn vào thấy nóng là âm hư hỏa uất tiềm tàng; người bị tả lâu, tỳ dương hư hãm, từ sáu giờ tý đến trước giờ ngọ nhân trung nóng bỏng, là hiện tượng âm hỏa thương thặng. Nhân trung lạnh giá là dương hư âm hàn quá thịnh hoặc hàn quyết, động kinh quyết nghịch.

30. Nhân trung đổ mồ hôi như chưng mà nóng, cần phân biệt có phải do uống quá thuốc gây đổ mồ hối hay dương minh trào nhiệt đổ mồ hôi; nhân trung lạnh ướt lâm ly, đa số là chứng hư dương vượt thoát ra ngoài.

31. Người bị huyết nhiệt băng lâu thường tự cảm thấy nhân trung nóng bỏng; người bị khí hư băng lâu thì cảm thấy giống như có nưóc trong muốn ra, mà thường dùng khăn để thấm.

32. Thời kỳ đầu nhiệt quyết, can phong..., nhân trung thường co giật hoặc tê dại.

33. Quan sát các triệu chứng cục bộ, có liên quan đến nhân trung, cũng có thể cung cấp thêm một số bằng chứng để chẩn đoán bệnh chứng ở nhân trung. Như phụ nữ có thai nhân trung luôn có màu đỏ mà có lúc sinh mẩn đỏ, đa sổ là thai độc khá nặng, đứa trẻ sau khi sinh ra thường bị mụn lở; nhân trung thiên lệch, mà thể lưỡi hoạt động bình thường, biểu thị bệnh ở kinh mạch; bệnh tình nhẹ, nếu thể lưỡi hoạt động kém linh hoạt, tức là bệnh ở tạng phủ, bệnh nặng mà sâu.

Nghiên cứu hiện đại

Các nhà y học cho rằng ý nghĩa của môn chẩn đoán nhân trung học, không chỉ nói về dự báo tình hình nghiêm trọng của bệnh tật và sự phục hồi, mà còn có thể cung cấp những bằng chứng về sự phản ánh khá sớm về hệ thông tiêu hóa, những thay đổi về bệnh lý của hệ thống tim mạch, và hệ thống tiết niệu, sinh dục, từ đó có được chẩn đoán và phòng trị đôi với bệnh tật.

Theo kinh nghiệm lâm sàng của danh lão Đông y ở Giang Tô, Trung Quốc là Chu Lương Xuân, trong lâm sàng phàm là độ dài của nhân trung khác với độ dài đốt ngón tay giữa, bất luận là nam nữ, đều có bệnh ở bàng quang tử cung, độ dài khác biệt càng lớn thì triệu chứng càng rõ ràng, nam giới thì có bệnh chứng về phương diện dương sự và sinh dục..., nữ giới thì thấy khác thường về kinh đối thai sản và sa tử cung. Đồng thời đã trắc lượng độ dài đốt ngón tay giữa và nhân trung của 150 bệnh nhân nam nữ, phát hiện thấy ngoài 1 bệnh nhân nam trong số 98 người có độ dài đốt ngón tay giữa vượt quá độ dài nhân trung 0,3cm, đều có bệnh chứng ở hệ thông sinh dục, độ dài khác biệt với mức bình thường là 0,2cm thì không có bệnh chứng ở hệ thống sinh dục. Trong đó độ dài đốt ngón tay giữa lớn hơn nhân trung 0,5cm là 29 người nam giới, chiếm 19,33% số người được kiểm tra, các bệnh chúng được phân biệt khác nhau như liệt dương, phóng tinh sớm, không phóng tinh, bất dục, thoát vị...; có 69 bệnh nhân nữ có độ dài đốt ngón tay giữa lớn hơn nhân trung 0,5cm chiếm 46% số bệnh nhân được kiểm tra, mắc các chứng bệnh như thống kinh, băng lậu, trước hành kinh đau bụng, sẩy thai thành thói quen, đẻ non, không có thai, bế kinh, trở ngại thai, bạch đới.... Mà nói chung những bệnh nhân qua điều trị có hiệu quả, thì những màu sắc khác thường của nhân trung như màu đen, đỏ, xanh..., cũng dần trở lại bình thường cùng với sự chuyển biến của bệnh, nhưng độ dài nhân trung thì không thể thay đổi.

Có người phát hiện thấy châm chích ở huyệt nhân trong có thể làm cho kinh nguyệt giảm bớt dần, đồng thời kế phát thống kinh, bế kinh...; châm ở huyệt thừa tương có thể làm cho kinh nguyệt hồi phục bình thường mà có thể có thai, từ đó nhận thấy nhân trung và tử cung có mối liên hệ nhất định.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 1: Chương 4.

Quan tâm  
3

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Kỹ Năng Sơ Cứu Khi Bị Bỏng, Nghẹt Thở, Chảy Máu, Mất Nước, Ngất Xỉu, Hạ Thân Nhiệt Hoặc Bị Vật Sắc Nhọn Đâm
Những kỹ năng sơ cấp cứu cơ bản có thể cứu sống người khi cần thiết. Hô hấp nhân tạo, sơ cứu người bị chết đuối, sơ cứu người bị đau tim, bỏng, cháy máu nhiều, tắc thở vì dị vật, cách di chuyển nạn nhân là các kỹ năng...
6 Phép Ngoại Trị Về Thương Hàn Của Thần Y Hoa Đà
Để điều trị Thương hàn theo phương cách của thần y Hoa đà thì ngoài 32 bài thuốc với chứng bệnh khác nhau vị thầy thuốc tài ba này còn hướng các bạn tới 6 phép ngoại trị nữa. Rất công hiệu. Mời cả nhà...
Cây Nấm Phiến Đốm Chuông - Panaeolus Campanulatus
Nấm Phiến Đốm Chuông mọc trên phân hoại mục ở các bãi cỏ từ tháng giêng tới tháng 9, thường riêng lẻ hoặc họp thành nhóm nhỏ. Có gặp ở Hà Nội, Hải Hưng. Lớp thịt mỏng, màu da sơn dương. Thịt không mùi, chứa những chất...
Cây Mi Hồ Đào - Actinidia Pilosula
Theo Đông y, Mi Hồ Đào (Actinidia Pilosula) có vị ngọt, chua, tính hàn; tác dụng giải nhiệt, chỉ khát (làm hết khát nước), thông lâm (giúp thông tiểu tiện, ngừa sỏi niệu), tiêu viêm, lưu thông khí huyết. Thường dùng chữa sốt nóng,...
4 Bước Thải Độc Bằng Nước Lọc Của Người Nhật Giúp Da Đẹp, Dáng Thon Và Cơ Thể Căng Tràn Sức Sống
Gần đây bạn thấy cơ thể mệt mỏi, da xạm và bắt đầu mọc mụn... đó là một trong những dấu hiệu báo cơ thể bạn cần thải độc rồi đấy. Mà cách làm các loại nước Detox thì rất tốn kém và chiếm nhiều...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Niềm Ngư Vĩ (Đuôi cá nheo) cắt lấy đoạn nhọn của đuôi cá, để tươi, dán ngay vào má và môi để chữa miệng mắt bị méo xệch.
7 Bài Thuốc Tự Nhiên Giúp Giải Độc Gan Vô Cùng Hiệu Quả Mà Bác Sĩ Khuyên Dùng
Việc uống nhiều rượu bia quá mức và có thói quen sinh hoạt không điều độ khiến gan của bạn luôn trong tình trạng quá tải. 7 bài thuốc từ tự nhiên dưới đây sẽ giúp bạn thải toàn bộ độc tố cho gan, duy trì...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.