Chủ nhật, 24/06/2018 9:08 PM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Môi Miệng

Thứ hai, 05/02/2018 6:10 PM

Là phương pháp thông qua quan sát sắc trạch, hình thái của môi miệng, ngửi khí vị trong miệng, hỏi về tình hình khát nước hay khẩu vị khác thường để chẩn đoán bệnh tật, gọi là phương pháp chẩn đoán môi miệng. Phương pháp chẩn đoán môi miệng thấy sớm nhất ở trong "Nội kinh" là một thành phần không thể thiếu trong vọng chẩn của Đông y, các tác phẩm chuyên ngành Đông y chẩn đoán học xưa nay, hầu hết đều có trình bày vấn đề này, và luôn được các y gia lâm sàng các thời đại rất coi trọng. Do bởi môi miệng ở vị trí lộ rõ trên mặt, niêm mạc môi mởng mà trong suốt, những thay đổi vể sắc trạch, hình thái của nó lộ rõ rất dễ thấy, vọng chẩn rất thuận tiện, vì vậy có tác dụng cực kỳ quan trọng trong biện chứng chẩn bệnh lâm sàng.

Quan sát những biểu hiện của môi có thể biết được chứng trạng của người bệnh.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Môi quan hệ mật thiết giữa môi miệng với trung tiêu tỳ vị: Môi miệng là thành vách của răng, là gốc của cơ bắp, là cung của tỳ. Tỳ chủ miệng, khai khiếu ở miệng, hoa của nó ở môi. "Tố vấn. Lục tiết tang tương luận" nói rằng: "Tỳ... hoa của nó ở tứ bạch môi". "Tố vấn. Ngũ tạng sinh thanh" nói: "Tỳ hợp với thịt, tươi vinh của nó ở môi". "Tố vấn. Kim quỹ chân ngôn luận" nói: "Tỳ khai khiếu ở miệng". "Linh khu. Âm đường thanh trọc" nói: "Thanh khí của vị, xuất ra ở miệng". Trong "Linh khu. Kinh mạch" nói về mạch túc dương minh vị kinh quanh vành môi sát miệng, dưới giao với thừa tương. Cho nên môi miệng có liên quan mật thiết với trung tiêu tỳ vị. Mà tỳ vị là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết, có ảnh hưởng to lớn đối với các bộ phận toàn thân. Do đó, môi miệng không chỉ phản ánh tình trạng chức năng của tỳ vị, mà còn phản ánh tình trạng chức năng của toàn thân.

2. Quan hệ mật thiết giữa môi miệng với khí huyết: Môi miệng có xung mạch vòng quanh, xưng mạch lại là bể của huyết, vừa là bể của 12 kinh, môi miệng bình thường màu hồng nhuận trạch, là khí huyết dinh dưỡng đầy đủ, cho nên môi là bộ phận quan trọng phản ánh tình hình thịnh suy của khí huyết toàn thân.

3. Môi miệng cũng có quan hệ với các tạng phủ và kinh lạc khác: Môi miệng còn gọi là phi môn, là cánh cửa âm thanh; miệng có tác dụng khép mở, là cánh cửa ngoài của tim. Từ sự vận động khép mở của nó, âm thanh từ miệng mà ra, ăn uống từ miệng mà vào, tứ thông ngũ đạt; là nơi xung yếu của tạng phủ. Về kinh lạc mà nói, "Linh khu. Kinh mạch" nói về mạch thủ dương minh đại tràng kinh "hoàn xuất hiệp khẩu, giao nhân trung"; mạch túc quyết âm can kinh "vòng trong môi"; đốc mạch lên má vòng môi, xung quanh lạc môi miệng; nhâm mạch lên đến thừa tương, vòng quanh môi miệng .... Do đó, những biểu hiện sinh lý, bệnh lý của những kinh mạch và những tạng phủ này, đều có thể từ môi mà phản ánh ra ngoài.

Như "Linh khu. Kinh mạch" nói: "Mạch túc dương minh vị kinh... hoàn xuất soát miệng vành môi, hạ giao thừa tương, là nơi chủ yếu sinh bệnh về máu". Y học hiện đại cũng cho rằng, mao mạch ở môi vô cùng phong phú, có thể phản ánh rất nhậy cảm bệnh tật của nội tạng.

[Phương pháp quan sát chẩn đoán]

Dưới ánh sáng tự nhiên, để bệnh nhân hơi há miệng, người khám bệnh ngồi đối diện với bệnh nhân, quan sát tỷ mỉ về màu sắc của môi miệng (trắng, vàng, đỏ, xanh, đen...), độ khô ướt, tươi khô, đường vân, và sự động tĩnh của môi miệng, chú ý về tình trạng các triệu chứng như sưng đỏ, mụn nước nhỏ, ghẻ lở, lật ra ngoài, co rúm..., ngửi hơi trong miệng xem có mùi vị đặc biệt khác thường không, hỏi về tình hình khô khát, khẩu vị (như thích ăn ngọt, chua, cay...). Phương pháp quan sát hệ dải môi là dưới ánh sáng tự nhiên đầy đủ, dùng ngón tay lật nhẹ môi trên, môi dưới của bệnh nhân, kiểm tra xem ở phần dải môi và nơi ràng tiếp giáp với lợi có bị kết đốt, xoắn thừng, hay không, nếu có thì xem vị trí sắc trạch của nó và ghi lại cẩn thận tỷ mỉ.

Môi miệng của người bình thường đầy dặn, tươi nhuận hồng, cân đối ngay ngắn, trong miệng không có mùi vị đặc biệt và khẩu vị bình thường, bề mặt sáng bóng, không bị kết đốt, xoắn và các vật tăng sinh khác.

[Vận dụng lâm sàng]

1. Màu môi.

1. Màu môi hồng nhuận: Là biểu hiện người khỏe mạnh, nói lên khí của tỳ vị đầy đủ, huyết mạch đều, ngoại cảm môi hồng nhuận biểu thị không có nội nhiệt. Trẻ em môi đỏ dầy, là tỳ vị khỏe, dễ nuôi. Phụ nữ môi đỏ dầy, là xung mạch thịnh, dễ đẻ. Môi miệng bệnh nhân sáng nhuận và có màu máu là tốt, là bệnh nhẹ dễ chữa, nhưng bệnh lâu ngày mà môi đỏ là khó trị.

2. Màu môi hồng nhạt: Là bất cập, chủ hư, chủ hàn. Màu môi nhạt, khí ẩn hiện màu đỏ, nếu khô tối mà không có sắc máu là triệu chứng ác tính. Thường là khí huyết hư tổn đã kiệt. Màu môi đỏ nhạt thường thấy ở người bị tỳ vị hư nhược hoặc khí huyết hao hụt, phụ nữ có thai nếu thấy triệu chứng này là bị thiếu máu hoặc khó đẻ.

3. Màu môi đỏ thâm: Môi đỏ thâm là thái quá, chủ nhiệt, chủ thực chứng; đỏ tím, đỏ thẫm đen cũng chủ về nhiệt. Môi trên đỏ, môi dưới trắng là tâm thận bất giao, môi đỏ mà nôn mửa là vị nhiệt, môi đỏ thâm mà hen suyễn là phế nhiệt, môi đỏ thẫm tươi, quai hàm đỏ mà nóng mắt như say, ngậm nước mắt, ho và hắt hơi, ngón tay hơi lạnh là sắp phát mẩn đậu. Màu môi đỏ tươi, chủ về âm hư hỏa vượng; môi đỏ tươi như bôi mỡ là biểu hiện chứng giun, đa số do tạng phủ bị chứng thấp nhiệt lâu ngày, uẩn uất không giải được, sinh ra giun đũa. Môi miệng đỏ thẫm nặng mà khô táo lại còn rạn nứt, chủ vể tà nhiệt nhập sâu vào doanh huyết. Bệnh lâu hoặc kiết lỵ nặng xuất hiện môi đỏ như tô son, là hư dương ngoại việt, dự báo diễn biến và phát triển của bệnh theo chiều hướng xấu. Môi đỏ như quả anh đào, là triệu chứng ngộ độc khí than. Môi màu đỏ khô cháy, đỏ khô lấn sâu vào trong môi, là triệu chứng huyết táo sinh nhiệt. Môi trong (là phần cơ môi dính liền với răng; lật nhẹ môi ra ngoài mới có thể nhìn thấy) nếu xuất hiện màu đỏ thâm tím, là hiện tượng hỏa cướp âm dịch, hoặc là chứng thực dạ dầy, môi ngoài đỏ thâm, môi trong lại trắng nhạt không tươi, đa số là hiện tượng tỳ hàn vị lạnh. Môi dưới đỏ thẫm, môi trên trắng nhạt là biểu thị vị lạnh tỳ táo. Môi dưới đỏ như nhuộm máu, là tỳ kinh uất nhiệt không giải. Môi trên đỏ tím sưng đau, là hỏa tà thượng tiêu tim phổi không được tuyên phát; môi dưới sưng đỏ lam tím là tỳ kinh uẩn nhiệt; môi dưới đỏ thâm nhưng đỏ mà ám tối không tươi, là tỳ hư vận hóa không tốt. Màu môi đỏ đen, vẻ ám tối là huyết ứ trở trệ gây ra dương tâm phế bế uất không được tuyên hóa, còn kèm theo hiện tượng đờm đục tắc trở khí cơ.

4. Màu môi chuyển vàng, là hiện tượng tỳ hư thấp khốn, thường thấy kèm theo môi khô héo. Nếu môi vàng mà chảy nước dãi, là tỳ dương cực hư, là triệu chứng âm hàn nội thịnh. Nếu môi vàng xuất hiện ở chỗ thịt môi lõm xuống (tức là chỗ mọc râu), là ăn uống tổn thương tỳ vị, kèm theo hiện tượng thấp nhiệt uất ở gan mật, hai góc môi vàng tối là hiện tượng hàn thấp tổn thương đến tỳ; chỗ thịt trắng ở góc môi chuyển vàng da cam mà sáng nhuận, là tỳ thấp hóa nhiệt. Môi màu sáng nhạt, tối mà không sáng tươi, chất môi khô héo, là triệu chứng trung thổ đại hư, cần hết sức chú ý.

5. Màu môi trắng nhạt: Là chứng hư, chủ thoát huyết đoạt khí, trong lâm sàng tất cả các chứng mất máu (xuất huyết nhiều, xuất huyết mạn tính...) và cả dùng sức quá độ, bệnh nặng hao tổn, khí hư không hồi phục..., đều có thể xuất hiện môi màu trắng. Phụ nữ bị bạch đới lâu không khỏi, môi trắng nhợt. Nếu người thường bỗng cảm phong hàn, dương khí nhất thời bị bế tắc, màu môi bỗng trắng, đổ mồ hôi. Môi màu trắng nhạt, màu của nó ám tối không sáng, đa số do khí huyết hư hàn, không thể sung dưỡng cho môi. Màu môi trắng nhợt, đa số do khí hư không thể vận huyết, hoặc do bạo nộ khí nghịch trở huyết. Nếu bị chứng xơ gan cổ trướng ở giai đoạn cuối, màu môi trắng nhợt không tươi, mà chất môi khô héo, là chính khí của 2 tạng can và tỳ sắp tuyệt, nguy trong sớm tối. Nếu màu môi trắng nhạt, nhợt nhạt, không một chút sắc máu, là khí huyết đã hư cực độ, hoặc dương hư sinh hàn. Môi nhợt nhạt mà nôn mửa là vị hư; môi trắng mà ăn ít, hao suyễn là tỳ phế khí hư; nữ có thai môi trắng là thiếu máu hoặc khó đẻ; môi trắng mà mạch đập nhanh mà sác, đa số là tâm huyết hao hụt. Môi trắng chi lạnh, sáng ãn chiều nôn, đa số là nôn hàn; màu môi hoặc trắng hoặc đỏ, dạ dầy lúc đau lúc không. Nhiều lần nôn nước trong, đa số là nôn giun. Tỳ cam môi không có màu máu, đi lỵ liên tục, là chứng bất trị; môi trắng như xương khô là sắp chết; môi trắng mà sưng là tỳ tuyệt, sản phụ góc miệng trắng khô, là bệnh sắp đến.

6. Màu môi xanh đen: Môi xanh nhạt là hàn, trắng nhạt mà đen là hàn nặng, xanh mà thâm là chủ về đau, môi miệng đều xanh đen là cực lạnh. Người môi đen, đa số là dạ dầy bị nhiệt; màu môi xanh đen chủ về hàn nặng cực lạnh, còn thấy ở chứng đau nặng. Cũng có khi nhiệt uất mà thấy màu môi xanh, trong màu xanh thấy màu thâm tím; môi đen thảm hại là khí huyết đại hao. Cấm khẩu môi xanh, lưỡi co rút là tiểu tràng hư hàn; người cấm khẩu môi đen, tứ chi bất cử, tiểu tiện vô độ, là tỳ hư hàn thậm không thể trị khỏi. Môi xanh lưỡi co cuộn, đau quặn thắt trong bụng, móng tay chân đều đau là gân hư cực độ. Môi miệng xanh đen, nôn mửa bụng đau, thất khiếu tóe máu, là bị ngộ độc thạch tín, bệnh nhân trúng phong môi miệng xanh đen xen lẫn, phèo bọt mà thân thẳng đừ, thì khó sống. Phụ nữ có thai môi miệng đều xanh, thổ ra nước miếng trong liên tục, là mộc khắc thổ, mẫu tử đều nguy. Đột nhiên tứ chi mất cảm giác, thân lạnh, môi miệng chuyển xanh, là chứng tử vong do tà khí nhập tạng; nếu thâm nóng đổ mồ hôi, là tà khí nhập phủ, có thể trị được. Môi màu xanh, tứ chi dao động, hơi có đổ mồ hôi, là can bị tuyệt. Người dịch tả, môi xanh đen là triệu chứng chết, bị ung thư môi mũi xanh đen, sắc thoát phù thũng, là triệu chứng ác tính; bệnh nhân bị thủy khí môi miệng chuyển màu đen, là tổn thương gan khó trị. Màu môi đen như sơn, là tỳ vị sắp tuyệt. Vành miệng đen cháy, là tỳ thận tuyệt. Môi xanh cơ thể lạnh, đái dầm đái dắt, là bàng quang tuyệt; mặt xanh môi đen hoặc mặt đen môi xanh, đều là triệu chứng tử vong.

7. Môi có màu tím: Đa số là vị khí hư hàn, cũng có thể thấy ở triệu chứng ứ huyết. Môi màu tím mà khô cháy, có ứ nhiệt bên trong; trên niêm mạc môi dưới xuất hiện vết ban màu tím đỏ, bất luận là to nhỏ hay số lượng nhiều ít, cần phải cảnh giác cao về khả năng ung thư đường tiêu hóa. Môi miệng tím tối hoặc tím nhạt, hoặc thấy kèm theo móng tay màu tím và bạch tinh tím tôi, là ứ huyết nội đình, thường thấy ở trường hợp ngoại thương hoặc nội thương. Màu môi đột nhiên chuyển màu tím như gan lợn, là hiện tượng ứ huyết công tâm.

8. Màu môi xanh ban: Trong lâm sàng rất ít gặp. Trường hợp đột nhiên cảm nhiễm thời dịch, ngoài môi có biểu hiện màu lam nhạt, da môi khô nứt, là hiện tượng hỏa độc cực thịnh. Chứng bế thử, trên môi cũng có thể thấy có màu lam. Nếu bệnh mạn tính mà môi xuất hiện màu lam, là chân khí gan sắp bại. Niêm mạc môi có màu lam tím, biểu thị tâm phế hư suy.

9. Ngũ sắc lẫn tạp: "Linh khu. Vệ khí thất thường", có nói: "Người có màu môi xanh, vàng, đỏ trắng, đen, bệnh ở cơ nhục". Tình huống ông này tuy ít thấy, nhưng trong hiện đại mỗi bộ phận nội phân tiết nào đó bị bệnh, thường thấy sắc tố lắng đọng. Vì vậy mới thấy ngũ sắc tạp loạn, cổ nhân xưa sớm đã có ghi lại, nay xin cung cấp để tham khảo. Như trong "Vọng chẩn tôn kinh, điều mục chẩn khí sắc môi" cho rằng, người bị rối loạn thần kinh, cười rũ rượi, rồi lại trở lại buồn, bồn chồn mạo muội, nhiệt mà còn cuồng, là tâm đã tổn thương. Nếu môi có màu đỏ thẫm thì còn có thể chữa được, nếu môi có màu xanh, vàng, trắng đen, thì không thể trị được.

10. Môi tứ bạch: Là bốn bên xung quanh môi màu trắng, nếu trắng mờ mờ có thể thấy được lại là bình thường, nếu thấy màu này thay đổi có giá trị tương đôi lớn trong việc chẩn đoán bệnh về tỳ vị. Nhìn chung mà nói, môi tứ bạch ngũ sắc thì "vàng đỏ là nhiệt, trắng là hàn, xanh đen là đau" ("Vọng chẩn tôn kinh"). Trong "Hình sắc ngoại chẩn giản mô" của Chu Học Hải có trình bày "môi nhạt mà 4 xung quanh môi trắng là vong huyết, xanh đen là hàn".

2. Thần môi

Nhìn thần môi, tức là xem tình trạng tốt xấu của chất môi, để phán đoán khả năng tử sinh của bệnh tật. Khi giải thích về thần môi, Uông Hồng đời nhà Thanh đã nói trong "Vọng chẩn tôn kinh": "Môi có thần, sáng nhuận tinh sáng mà có sắc máu, được nó thì sống, mất nó tất chết". Chất môi vinh nhuận hồng hoạt, có sinh khí, quang trạch, gọi là có thần. Người mà chất môi khô héo, không có sinh khí quang trạch, tức là vô thần, là triệu chứng chết.

3. Nhuận táo

1. Môi miệng khô cháy rạn nứt, hoặc rạn nứt chảy máu, gọi là môi nứt, chủ về tân dịch đã tổn thương; môi mất tự nhuận, thường thấy ở người bị ngoại cảm tà táo nhiệt hoặc kỳ kinh có nhiệt; môi miệng khô khan là nhiệt trong rất thịnh, môi miệng khô cháy đen rạn nứt, phiền khát uống nước, chủ về nhiệt độc cực thịnh.

2. Môi trên khô cháy mà tiêu khát uống nước, biểu thị bệnh vị ở trên, chủ phế nhiệt; môi trên khô mà không tiêu nước, biểu thị tà nhiệt ở phần dưới, chủ đại tràng có phân táo; môi dưới khô mà tiêu khát uống nước, biểu thị nhiệt tại dương minh vị; nếu môi dưới khô mà không tiêu nước, nhiệt ở thái âm.

3. Môi miệng khô táo mà màu đỏ là bệnh còn nhẹ, dự báo diễn biến và phát triển tốt; màu đen là bệnh nặng, dự báo diễn biến xấu; người bình thường sắc mặt ám tối, da môi khô là triệu chứng yểu mạng.

4. Lượng tiết nước bọt trong khoang miệng nhiều, chảy ròng ròng không dứt, nhổ nước bọt liên tục, gọi là đa thóa, trong "Thưởng hàn luận" gọi là "miệng thổ dãi", đa số do dương khí tỳ thận hao hụt, nước không tiêu, chảy ngược lên mà thành; sau khi khỏi bệnh hay nhổ nước bọt, biểu thị trong dạ dầy bị hàn; góc miệng rỏ dãi, thường thấy ở người trúng phong bị méo miệng, không thể thu nhiếp, hoặc do tỳ hư thấp thịnh ở trẻ em gọi chứng này là trệ di.

4. Hình thái

1. Môi thũng: Có phân biệt hai loại hư và thực. Hồng, đỏ thẫm mà thũng, phần lớn là thực là nhiệt; trắng mà thũng, đa số là hư là hàn. Nếu môi miệng đều đỏ thẫm mà thũng, là cơ nhục nhiệt thậm; môi trên thũng to, môi dưới nhỏ là trướng bụng; môi lưỡi đều thũng, đại tiện lởng, đỏ thẫm, tiểu tiện ra máu chân thũng là nhục tuyệt; môi thũng răng khô cháy, là tỳ thận tuyệt.

2. Môi héo co tóp: Tức là thịt môi khô tóp, đa số thấy ở người khí huyết hao tổn; nếu môi khô tóp mà kèm theo màu vàng, là tỳ hư thấp khốn; môi tóp kèm theo thấy lưỡi xanh, miệng táo, nhưng chỉ muốn ngậm nước mà không muốn nuốt, là bên trong có ứ huyết.

3. Môi phản: Là môi trên lật ngược lên trên che lấp cả nhân trung. Môi phản mà nhân trung đầy, là triệu chứng tỳ bại, là tỳ khí tuyệt, mạch không dưỡng được môi gây ra. Uông Hồng nói trong "Vọng chẩn tôn kinh" rằng: "Người môi phản, là đoan kết của thái âm"; "người môi phản không có vân, tỳ bại. Người môi phản nhân trung đầy, 3 ngày chết".

4. Môi trên sinh sang (mụn, nhọt): Đa số là triệu chứng tỳ vị uẩn nhiệt, sinh sang môi trên chất môi dầy màu tím, phần lớn âm phế uất nhiệt; sinh sang môi dưới, chất môi thô ráp màu đen, đa số tỳ kinh uẩn nhiệt sang sinh ở 4 góc môi, đa số là ăn quá rihìều cao lương mĩ vị tà hỏa uẩn tích ở dạ dầy và đại, tiểu tràng. Trên môi sình sang còn có thể chẩn đoán chứng giun và thương hàn, hoặc ký sinh ăn bám thức ãn dinh dưỡng; trong môi dưới có sang như hạt kê gọi là hồ, ký sinh ăn bám ở hậu môn.

5. Sinh đinh trên môi: Là chỉ môi trên môi dưới hoặc ở góc miệng sinh những đinh nhỏ như hạt kê, đau ngứa không yên, đa số là triệu chứng hỏa độc. Sinh đinh môi trên môi dưới, đa số là tỳ vị hỏa độc; sinh đinh ở góc miệng, là tâm tỳ hỏa độc cực thịnh. Sinh đinh ở góc môi, không thể mở được miệng, gọi là đinh khóa khẩu. Loại đinh này nếu sinh ở môi trên môi miệng lật ra ngoài, gọi là đinh lật môi. Hai loại đinh này mới sơ khởi, hình bằng hạt kê hạt gạo, màu tím, cứng, sưng nặng, tê ngứa đau, nhiệt hàn giao tác, đều thuộc chứng nguy hiểm, do tà hỏa độc thượng công gây ra. Đinh sinh ở trên nhân trung, gọi là đinh long tu (đinh râu rồng); đinh sinh ở bên cạnh nhân trung, gọi là đinh râu hổ, người bị nhẹ là do phong nhiệt mà kết, người bị nặng thì to bằng hạt kê hạt gạo. Nếu đinh chạm tới xương, vùng gốc sưng chậm, mặt mắt phù thũng, hàn nhiệt đều thấy, là tà hỏa độc vây lên mà thành. Nếu xuất hiện cấm khẩu hôn mê, thì gọi là tẩu hoàng đinh, là đinh sang tẩu hùng, tà độc nội hãm tâm bào gây nên.

6. Kén môi: sơ khởi trên môi như đậu, lớn dần như chiếc kén tằm; cứng và đau, đa số do tỳ vị tích hỏa kết tụ mà thành, ban đầu là thực hỏa, lâu dần thành âm hư, cũng có trường hợp đờm theo hỏa đổ dồn vào môi gây nên. Nếu trị lâu không khỏi, sau khi lở loét ra như hoa, chảy nước chảy máu, đau đớn khó chịu, là nghịch chứng, phải xét đến khả năng ung thư môi.

7. Khẩu sang: Trong môi miệng sinh ra những mụn nước nhỏ màu trắng, sau khi vỡ loét có màu trắng hoặc màu vàng nhạt bằng hạt đậu, xung quanh sưng đỏ nóng rát đau, trong thời gian này có sốt nhẹ, gọi là khẩu sang, cũng gọi là khẩu phá, có quan hệ đến trẻ em và những người bị bệnh cam thì gọi là khẩu cam. Người thực chứng vết lở khắp miệng; màu đỏ tươi, đa số do tâm tỳ tích nhiệt thượng chưng lên miệng gây ra. Người hư chứng, điểm ban trắng nhỏ khắp miệng màu đỏ nhạt, đa số do âm hư, tâm thận bất giao, hư hỏa thượng công; hoặc trung khí thiếu hụt, nội sinh âm hỏa gây ra. Loại này dễ phát tác nhiều lần.

8. lở miệng: Niêm mạc khoang miệng rữa nát màu trắng, kiểu như râu nấm, màu đỏ gây đau, gọi là khẩu mê (lở miệng), thường có mùi vị đặc thù, đa số do âm hư dương vượng, tỳ thịnh thấp nhiệt nội uất, dẫn đến tà nhiệt hun chưng vị khẩu mà thành.

9. Lở mồm ngỗng: Niêm mạc khoang miệng trẻ em lở loét, màng trắng khắp miệng, dạng giống như mồm ngỗng, gọi là "lở mồm ngỗng"; nếu mùn trắng rải đầy, dạng như hoa tuyết, gọi là "miệng tuyết", đa số do nhiệt ở 2 kinh tâm tỳ gây ra, hoặc trong thời kỳ thai nhi phục nhiệt uẩn tích ở tâm tỳ, theo kinh lên khiếu miệng gây nên. Nếu mùn trắng lan dài tới cổ họng, lớp lớp nổi lên, giữa họng có tiếng đòm, mắt xanh môi tím, có thể do tắc thở mà dẫn đến tử vong, không thể xem thường.

10. Phong môi: Môi miệng phát ngứa, sưng đỏ chảy nước, đau như lửa đốt, rạn nứt sùi mùn, giống như không có da, đa số phát sinh ở môi dưới, gọi là phong môi, còn có tên là phong miệng lừa, đa số do phong hỏa công lên dương minh vị kinh gây ra.

11. Thư môi (nhọt môi): Trên dưới trái phải môi sinh ra vật sưng màu tím có đầu, to bằng hạt táo, cứng như sắt, đau đớn, thậm chí hàn nhiệt giao tác, gọi là thư môi, do tỳ vị tích nhiệt mà thành.

12. Cam lưỡi môi: ở 4 góc miệng trẻ em, sinh ra vết đỏ thâm không có da, rạn vỡ bất kỳ lúc nào, gọi là cam môi, là do dương minh bị thấp nhiệt vây lên mà thành.

13. Mộc môi: Môi trên hoặc dưới bỗng nhiên sưng tấy, sờ thấy nóng rực, đau đớn hoặc có cảm giác tê dại, không cứng, không có đầu nhọt, gọi là mộc môi, do nhiệt tỳ vị công lên mà thành.

14. Hạch môi: Môi sưng sinh hạch, màu đỏ thẫm, ấn thấy cứng, gọi là hạch môi, do tỳ kinh thấp nhiệt ngưng kết mà thành.

15. Khuẩn môi: Môi miệng sưng to, lật lồi ra như nấm, sờ không có cảm giác đau, gọi là khuẩn môi, do tâm tỳ tích nhiệt, khí trệ huyết ứ mà thành.

16. Sùi môi: Trên môi sinh ra hiện tượng sùi đa như vẩy cá lật lên, da môi có cảm giác căng ngứa khó chịu, bóc ra thì đau và chẩy máu, sùi rụng vẩy cũ lại tái sinh vẩy mới, triền miên khó khỏi, gọi là sùi môi, là do phong táo ở tỳ, huyết không nhu táo gây ra.

17. Co môi: Môi trên dưới co lại lộ răng ra, da môi bỗng nhiên co ngắn, hoặc hai môi ngày càng co rút, cơ môi có hiện tượng co tóp, gọi là co môi. Người già co môi là hiện tượng bình thường. Đột nhiên bị co môi đa là số thực chứng; môi co rút dần, cơ môi co tóp, bệnh đa số hư chứng. người thực chứng đa số là chứng trúng phong bế, hoặc trúng thử (cảm nắng), hoặc đàm bế; người hư chứng do trong tâm âm có hàn, hoặc do kinh quyết (kinh giật) hoặc do động kinh; hoặc do nguyên khí tỳ vị suy yếu, hoặc bạo thoát; phần lớn dự báo diễn biến xấu.

18. Phồng rộp môi: Trên môi phát sinh những nốt phồng nhỏ như hạt gạo hoặc hạt cao lương màu vàng trong suốt hoặc vẩn đục có máu, tụ tập thành đám, gọi là phồng rộp phần môi, da xung quanh nốt phồng không đỏ không sưng không đau, chỉ có hơi ngứa khó chịu. Chứng này đa số cùng phát tác với phong nhiệt cảm mạo; sởi, phế nhiệt ho, chứng nhẹ dễ trị.

19. Nứt môi: Phần môi nứt ra thành miệng khuyết, gọi là "Nứt môi", đều phát sinh ở môi trên, người nhẹ chỉ nứt đến phần tứ bạch của môi, người nặng nứt tới tận lỗ mũi, làm cho lỗ mũi có hình cánh quạt, đó là dị dạng bẩm sinh, do trong kỳ thai nhi phát triển không tốt gây ra.

20. Ung thư môi: Môi dưới đỏ, viền ngoài môi có các nốt sưng lồi lõm không bằng, gốc rễ chắc chắn, dễ chảy máu, sau khi phá loét bề mặt có mùi hôi thối, cần phải xét đến khả nàng ung thư môi.

21. Môi sưng nứt phá, lở loét chẩy nưổc hoặc lở loét thành mảng, bề mặt như cháo nát, đa số do tỳ không hóa thấp, thấp nhiệt chưng lên; điểm lở loét có màu vàng đục, niêm mạc xung quanh đỏ thẫm, đa số là chứng thấp nhiệt; điếm lở loét có màu xám trắng hoặc bẩn đục, niêm mạc xung quanh màu đỏ nhạt, đa số là chứng âm hư. Người bị sốt rét môi miệng sinh lở, là triệu chứng tà bệnh muốn giải.

22. Môi miệng đột phát sưng tấy, không đỏ không đau, thường gặp ở chứng thủy thũng do mạch máu thần kinh.

23. Môi miệng xuất hiện vết ban màu đỏ, ấn vào thì mất màu, thường thây ở chứng mao mạch giãn nở do di truyền.

24. Ung thư môi: Bề mặt niêm mạc môi dưới xuất hiện vêt ban màu tím đen hình tròn hoặc hình elip, không cao hơn bề mặt da, ấn vào không mất mầu, triệu chứng này có thể trợ giúp thêm để chẩn đoán ung thư đường tiêu hóa. Theo kết quả kiểm tra, tỷ lệ dương tính ung thư dạ dầy là 50%, tỷ lệ dương tính ung thư thực quản là 48%, tỷ lệ dương tính ung thư gan là 39%, tỷ lệ dương tính ung thư ruột là 38%.

25. Ban giun đũa: Bề mặt niêm mạc môi dưới xuất hiện các nốt mẩn đỏ nhạt hoặc màu trắng nhạt to bằng hạt kê, nổi lồi lên nửa trong suốt, gọi là ban giun đũa (hoặc mẩn giun đũa), biểu thị có bệnh giun đũa. Có người quan sát trong 155 người bệnh có ban giun đũa trên môi, thì có 90,47% được xác thực là có giun đũa đường ruột; mà trong 186 người bị giun đũa đường ruột thì có 93,55% số người có ban giun đũa trên niêm mạc môi dưới. Tỷ lệ dương tính của triệu chứng này về cơ bản gần với các phương pháp kiểm tra khác như phương pháp thử nghiệm miễn dịch dưới da (90,86%).

26. Khi trẻ em xuất hiện các triệu chứng như bụng trướng, rốn lồi, phần bụng nổi gân xanh, tứ chi tiêu gầy, đại tiện lỏng, có thể lật xem niêm mạc môi dưới của trẻ, nếu có xuất hiện các điểm trắng nhỏ như hạt tấm, có thể chẩn đoán là bệnh cam tích, mà mật độ điểm trắng thưa dầy tương ứng với số lượng trùng cam nhiều hay ít, nếu không có xuất hiện các điểm trắng, tức là không phải bệnh cam tích.

27. Trên dải môi trên xuất hiện điểm nhỏ màu trắng hoặc màu xám, có thể chẩn đoán bệnh trĩ, theo kiểm tra tỷ lệ chính xác đạt 80%.

28. Trên dải môi trên xuất hiện một hoặc nhiều vật to nhỏ khác nhau, kiểu dạng khác nhau (kết đốt hoặc dạng xoắn thừng), bề mặt màu xám tro hoặc màu phấn hồng, biểu thị đang tồn tại bệnh trĩ lậu, vị trí kết đốt ở đường giữa môi, đa số là trĩ ngoại, điểm kết đốt ở bên cạnh giải môi, đa số là trĩ nội, ở bên trái dải môi, đa số hạt trĩ phát sinh bên trái hậu môn; kết đốt ở bên phải môi, đa số hạt trĩ phát sinh ở bên phải hậu môn. Kết đốt ở vị trí 1/3 chính giữa môi, biểu thị hạt trĩ ở vị trí khoảng từ 4 - 8 giờ. Xuất hiện xoắn thừng, biểu thị thành ông rò, xoắn thừng xuất hiện càng gần đường chính giữa môi, biểu thị lậu quản càng gần sát ngoại vi hậu môn; cách hơi xa đường giữa, biểu thị đường Ống lậu quản càng sâu. Mà số lượng kết đốt hay xoắn thừng trên môi nhiều hay ít có tương ứng với số lượng hạt trĩ và lậu quản. Kết đốt màu trắng mà cứng, biểu thị thời gian sinh trưỏng của hạt trĩ tương đối dài, kết đốt màu đỏ mà mềm, biểu thị thời gian sinh trưởng của hạt trĩ khá ngắn; nếu nhiều kết đốt đỏ mà ít trắng, dạng mềm xốp, biểu thị cơ thắt hậu môn mềm, hoặc do hạt trĩ gây ra thoát hậu môn. Người tuổi cao thường đồng thời tồn tại hạt trĩ và lòi dom, trên dải môi thường xuất hiện kết đôt màu đỏ thẫm, trên kết đốt hơi phớt màu trắng; mà trên dải môi trẻ em càng phản ánh rõ nét hơn so với tuổi già. Các nhà y học đã căn cứ điều này để kiểm tra 41 người, tỷ lệ phù hợp dương tính đạt 98%. Quan sát 730 người, kiểm tra 430 người có bị trĩ lậu ở hậu môn, trong đó 388 người có kết đốt và thay đổi xoắn thừng ở dải môi, chiếm 90,23% trong 730 người, có 427 người có thay đổi dải môi, trong đó 400 người bị rách trĩ lậu, tỷ lệ dương tính phù hợp là 93,67%.

29. Trên xung quanh dải môi, trên niêm mạc gần vòm môi có những nốt mẩn bằng hạt kê hình tròn bằng đầu kim, hơi nhô cao hơn bề mặt niêm mạc, màu sắc trong suốt, phần chân đế hơi dơ, gọi là ban giun đũa, căn cứ vào đó có thể chẩn đoán trẻ em bị bệnh giun đũa, tỷ lệ đương tính của nó phù hợp tới 96%.

30. Trên dải môi xuất hiện những vật thừa có dạng như hạt gạo màu trắng, là triệu chứng để chẩn đoán đau lưng cấp và mạn tính. Có người đã quan sát trong 27 bệnh nhân bị tổn thương khớp xương eo mông, có 22 người xuất hiện triệu chứng này; trong 77 bệnh nhân bị cơ gai xương eo tổn thương, thì có 18 người xuất hiện triệu chứng này.

31. Căng môi: Môi miệng nhỏ hẹp, khó khép mở, ăn uống khó khăn, gọi là căng môi, đa số là do phong đàm nhập lạc gây ra.

32. Há miệng: Miệng há ra không thể khép lại, gọi là chứng há miệng, chủ về hư chứng. Miệng há ra mà khí chỉ ra không trở lại, là phế khí sắp tuyệt. Miệng há ra như miệng cá, không thể khép lại được, là tỷ vị sắp tuyệt; người bị trúng phong xuất hiện triệu chứng há miệng là tâm khí sắp tuyệt. Há miệng lắc đầu, kêu như dê kêu là bị động kinh; người bị động kinh há miệng trợn mắt, hôn mê bất tỉnh, là triệu chứng cực nguy.

33. Cấm khẩu: Miệng khép mà không thể mở ra, răng cắn chặt, gọi là cấm khẩu. người bị cấm khẩu không nói đồng thời bị co giật là bệnh, kinh phong; cấm khẩu mà kèm theo bán thân bất toại là triệu chứng nguy hiểm trúng phong nhập tạng.

34. Nhiếp khẩu: Môi miệng co rút trở nên nhỏ hẹp, không thể mở hoặc khép miệng, gọi là nhiếp khẩu, thường thấy ở bệnh nhân thương phong, ở trẻ em đa số thấy ở các trường hợp phong rốn, là do can phong ép tỳ gây ra, là chứng cực nguy hiểm. Nếu đồng thời thấy miệng phèo bọt trắng tứ chi tê lạnh, môi miệng co rút căng cứng, thể lưỡi cứng thẳng, phần lớn là khó trị.

35. Cấm khẩu, đột nhiên không thể nói được, tay chân cứng đơ bất toại, gọi là "phong phị". Phụ nữ sau khi đẻ bị cấm khẩu kinh giật, choáng ngã sùi bọt mép, hôn mê bất tỉnh, gọi là trúng gió độc. Phụ nữ có thai bị cấm khẩu không nói được, gân mạch nổi hằn loạn xạ, hôn mê co giật, lúc phát lúc không, gọi là "tử nhàn" (bệnh động kinh). Bị bệnh 6 - 7 ngày, 3 bộ mạch tay chân đều đến, phiền táo, cấm khẩu không nói năng, đó là biểu hiện bệnh tà muôn giải.

36. Khẩu tịch: Góc miệng méo biến dạng bên trái hoặc phải, gọi là khẩu tịch, còn gọi là khẩu oa (méo mồm), thường thấy ở bệnh nhân bị trúng phong, là can kinh phong đàm trở lạc gây ra.

37. Khẩu chấn, khẩu động: Là môi trên dưới chấn động, dạng như rét run cầm cập, gọi là khẩu chấn, là do dương khí bất chấn gây nên, thường thây ở bệnh nhân sốt rét thời kỳ đầu. Miệng đóng mở liên tục không thể tự khống chế được, gọi là khẩu động, là vị khí sắp tuyệt vong.

38. Nháy môi: Môi miệng rung động không thể tự kìm chế được, gọi là nháy môi, đa s do huyết hư phong táo gây nên, hoặc tỳ hư huyết táo, môi mất nhu dưỡng, hoặc vị hỏa kèm phong quấy nhiễu lên môi. Người môi, mắt nháy liên tục, là dương minh tuyệt tận.

39. Lạc giá phong: Xương hàm dưới hạ xuống khiến miệng há ra không khép lại được, gọi là lạc giá phong, là do mạch dương minh bị hoãn dọc không thu lại được gây nên.

40. Nhìn môi chẩn thương: Ở phần môi xuất hiện gân đỏ cong tập, điểm ứ huyết hoặc mụn màu trắng, có thể làm chứng cứ báo thương của sự tổn thương cơ thể. Thường biểu hiện ở đoạn cuối của gân đỏ cong gập có điểm ứ huyết.

Điểm ứ huyết đa số có hình vuông, sắc trạch đỏ tươi hoặc xuất hiện mụn nước ở dạng dải giống như điểm mụn nước, ở giữa hơi nhô ra như đầu mủ, có màu đỏ hoặc màu trắng. Nếu triệu chứng thương xuất hiện ở môi trên, biểu thị bị thương ở phần lưng, ở môi dưới biểu thị bị thương ở phần ngực, ở 2 bên là biểu thị bị thương ở phần nách.

5. Khí vị

Miệng thở khí nóng, khẩu khí hôi thối là vị tràng thực nhiệt; miệng phả mùi thối rữa đồng thời khạc ra máu mủ, thân nóng, là phế ung đã thành (ung nhọt, ung thư); miệng phả khí tanh hôi có kèm theo mùi máu tanh, đa số là chứng huyết; miệng thường xuyên phả khí uế, là tỳ vị tí) vận thấp nhiệt, trọc khí thượng xung; trong miệng tỏa ra mùi táo nát, là chứng tiêu khát nặng; miệng phả mùi rượu thối là dạng nát rượu hoặc thấp nhiệt nội uẩn; người bị bệnh thủy khí miệng có mùi khai nước tiểu, buồn nôn, nôn mửa, chán ăn, là bệnh tình có biểu hiện ác tính hóa; nếu người bệnh có tích tụ dưới sườn phải, thân có biêu hiện hoàng đản, trong miệng thở ra mùi mốc, biểu thị bệnh tình tiến triển ác tính hóa, dự báo diễn biến và phát triển xấu.

6. Khâu vị

1. Trong miệng không khô, không khát, ăn mà không biết vị, là miệng trung hòa, biểu thị chức năng tỳ vị bình thường, tân dịch đầy đủ.

2.   Miệng tỏa mùi nhạt, không muốn ăn, gọi là khẩu sảng, chủ tỳ vị khí hư, chức năng vận hóa kém; miệng tràn nước trong, chủ trung tiêu có hàn; miệng ngọt còn gọi là khẩu cam, trong miệng dính nhầy, chủ trung tiêu bị thấp nhiệt nội uẩn; miệng tỏa vị chua, chủ can, vị uẩn nhiệt; khẩu vị chua thiu là triệu chứng thương thực; miệng đắng là gan mật có nhiệt thượng phạm hoặc uất hỏa gây bệnh; khẩu vị cay hoặc thể lưỡi có cảm giác tê cay, chủ phế vị tích nhiệt; miệng mặn là thận dịch thượng thừa, chủ thận hư và chứng hàn; tự cảm thấy miệng thơm, là chứng tiêu khát nặng; miệng lưỡi tê dại, vị giác giảm sút, là miệng tê dại; trẻ em khẩu vị gàn dở, thích ăn bùn đất, lạc..., là tỳ hư nội nhiệt, có trùng tích bên trong.

7. Miệng khát

1. Miệng khát muốn uống nước là miệng khát, miệng khát mà không muôn uống nước là miệng khô, hay còn gọi là miệng táo, đều do tân dịch trong cơ thể thiếu hụt hoặc do tân dịch không thể thượng thừa cổ họng mà nên.

2. Miệng không khô khát là tân dịch chưa tổn thương, thường thấy ở người bình thường hoặc hàn chứng; miệng khát uông nhiều là tân dịch tổn thương. Trong đó, chứng thực nhiệt khát nặng, thích uống nước lạnh, mặt đỏ nóng mạch thực, thường thấy ở trường hợp nhiệt ở phần khí nhiệt kết dương minh.

3. Bệnh nhân tiêu khát uống nhiều nước, đồng thời thấy àn nhiều mà tiêu gầy, tiểu tiện nhiều lần hoặc thấy vẩn đục, nước tiểu có vị ngọt, là do phế táo thương tân, hoặc riêng tâm hỏa vượng, âm khí phế thận bị tiêu tán gây nên; nếu phế hàn khí không hóa thủy, có thể uống 1 thải 2, khó trị.

3. Miệng khát không uống nhiều nước hoặc miệng khô chủ tà nhiệt nhẹ, thương tân nhẹ, hoặc do tân địch vận bố bị trở ngại; miệng khô đêm nặng, uống nước không nhiều, đa số là âm hư nội nhiệt.

4. Miệng khô không uống nước hoặc khát không uống nhiều, hoặc thích uống nước nóng, là thấp trọc thủy ẩm nội trở, tân dịch không thượng thừa gây nên, khát muốn uống nước, nước vào lập tức nôn ra, tiểu tiện bất lợi, là chứng thủy nghịch; người bị thủy thấp vốn không khát, sau khi dùng thuốc thì miệng khát, là biểu hiện thủy thấp đã giải; bệnh nhân thủy ẩm sau khi nôn mửa miệng khát, là tà thủy ẩm sắp được giải.

5. Miệng khát không muốn uống nước, hoặc uống nước không nhiều, kèm theo thấy sốt đậm sau giờ ngọ, phiền táo mê sảng, đa số do tà nhiệt thâm nhập doanh huyết, bốc lên doanh âm, làm cho tân dịch trong máu trào lên miệng mà nên; sau thời kỳ bệnh ôn nhiệt miệng khát liên tục, là hư nhiệt dư tà nội trệ, hao thương tân dịch.

6. Đổ mồ hôi liên tục, miệng khát ít rêu lưỡi, tâm bồn chồn, mạch hư sác, là hiện tượng vong âm.

7. Miệng khô, nhưng chỉ ngậm nước không muốn uống là triệu chứng ứ huyết nội trở.

8. Miệng hơi khát, uống nước không nhiều, mạch hư lưỡi nhạt dầy, là khí hư không lên, tân dịch không thể thượng thừa.

9. Miệng khát thậm là biểu thị nội nhiệt thậm; hơi khát là nhiệt hơi nhẹ, không khát là không nhiệt, biểu thị tà nhiệt đã hết; thực nhiệt tức là miệng khát mà tiêu nước, tuy uông nhiều mà tiểu tiện không nhiều; chứng tiêu khát là uống 1 gầy 1, không tiêu thủy.

[Nghiên cứu hiện đại]

Trong quá trình tiến hành tham khảo đặc điểm chẩn môi của "Chủ bệnh nguồn hậu luận" thấy, trong "Chủ bệnh nguồn hậu luận" trình bày về chẩn môi tuy không có các chương chuyên ngành, nhưng lại thấy ở hơn 30 luận và hơn 60 triệu chứng. Nó đã phát triển các lý luận có liên quan trong "Nội kinh", trên cơ bản đã phản ánh các nội dung và đặc điểm chủ yếu về chẩn môi của Đông y. Đặc điểm về chẩn môi của sách này chủ yếu thể hiện ở chỗ; Hiện tượng môi là bộ phận cấu thành của triệu chứng; từ hiện tượng của môi có thể phản ánh được bệnh cơ bệnh tính; từ hiện tượng của môi có thể phán đoán được diễn biến và phát triển của bệnh tật; chẩn môi không chỉ giới hạn ở bệnh của tỳ vị, nó còn có thể là chứng cứ quan trọng để chẩn đoán các triệu chứng bệnh ngộ độc và chứng ứ huyết.... Có người đã dùng hai tiêu chí là màu môi và chất môi để chẩn đoán, biện chứng trong chẩn môi, kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng của mình để trình bày, đồng thời căn cứ vào đó để xử lý phương thuốc và dùng thuốc trong lâm sàng, đã thu được hiệu quả điều trị khá tốt. Người ta cho rằng màu môi đen ám tối, là tâm dương trở tắc, là có ứ tích kèm theo tà thủy vây hãm bất hành; màu môi đột nhiên biến đen, là hiện tượng ứ huyết công tâm. Sản hậu choáng ngất vì mất nhiều máu và tổn thương do ngã, đánh nhau thì màu môi đa số biến đen; màu môi xám đen, màu của nó ảm đạm không tươi, đa số là tỳ thận hao hụt, kèm theo các hiện tượng đàm thấp; màu môi xanh hơi đen, da môi nhãn thô khô táo không nhuận, là bên trong tích thực nhiệt, kèm ứ ở phủ; nếu ngoài môi đen như quả cà, trong môi khô đỏ, là hiện tượng tà phạm tâm bào.

Có người quan sát phát hiện ở niêm mạc môi dưới xuất hiện châm hạt màu hồng, ẩn hiện ở trong niêm mạc, kết hợp với vết dạng hoa hoặc chấm đỏ trên mặt chính của lưỡi, vết màu lam trên củng mạc, có thể chẩn đoán bệnh giun đũa. Đối chiếu với xét nghiệm phân, quan sát trong 89 người nằm viện, tỷ lệ chính xác đạt 99,5%; quan sát 712 bệnh nhân ngoại trú, tỷ lệ chính xác đạt 100%. Học viện Trung y Nam Kinh báo cáo về quan sát đột xuất ở bề mặt niêm mạc môi dưới xuất hiện những hạt có đường kính khoảng 0,5mm kết hợp với vết ban trên củng mạc, ban trắng trên mặt, điểm đỏ ở mặt lưỡi để chẩn đoán bệnh giun đũa ở trẻ em, tổng kiểm tra trong 674 em nhi đồng, phát hiện thể chứng dương tính là 529 cháu, chiếm 78,5%, mà trong chẩn đoán 611 người có giun đũa, xuất hiện thể chứng dương tính là 496 người, chiếm 81,1%, cao hơn so với chẩn đoán phân trên kính soi (71,6%). Nhưng cũng có người cho rằng, quan sát hạt trên niêm mạc môi dưới không có giá trị chẩn đoán bệnh giun đũa. 

Có người trong chiến tranh phát hiện ở thương binh ứ huyết, môi miệng của họ đa số màu tím tối hoặc tím nhạt.

Có người lại cho rằng, ở người bị trĩ sang có thể nhìn thấy "điểm phản ứng trĩ". Tức ỉà ở vị trí khác nhau trên viền trước dải môi trên có một hoặc nhiều vật dư thừa có hình dạng và kích thưốc khác nhau, bề mặt của nó có màu xám hoặc màu phấn hồng. Trong lâm sàng cắt bỏ những điểm phản ứng trĩ này, thì có thể chữa khỏi bệnh trĩ. Qua điều trị 278 bệnh nhân, kết quả chữa khỏi 217 người, 55 người có chuyên biến tốt, 6 người không có hiệu quả, tỷ lệ hữu hiệu đạt 97,85%. Qua kiểm tra mặt cắt bệnh lý của điểm phản ứng trĩ, phát hiện dạng vẩy cá tăng sinh trên da, tầng da thật có tế bào thấm nhuận do viêm, ở bộ phận còn có hình thành mụn nước ở tầng da thật, tế bào tầng gai tàng sinh và thủy thũng, mao mạch cũng tăng sinh, dùng phương pháp các kết đốt bằng hạt vừng ở trên dải môi của bệnh nhân trĩ, trích máu 1 giọt đối với 26 người bị trĩ xuất huyết, mỗi ngày 1 lần, qua 1 - 3 lần điều trị, toàn bộ trĩ xuất huyết của bệnh nhân đều chấm dứt. Người ta gọi những hạt màu trắng hoặc màu xám bằng hạt kê ở trên dải môi là "ngân giao ban", lấy đó để chẩn đoán bệnh hậu môn. Kiểm tra 92 trường hợp bệnh hậu môn, tỷ lệ dương tính là 45,6%, trong đó tỷ lệ dương tính rò hậu môn cao nhất là 50%, hạt trĩ là 40,8%, các bệnh khác về hậu môn là 40%. Mà tỷ lệ dương tính cao ở bệnh trình từ 1 tháng đến 1 năm và ở độ tuổi từ 40 - 60 tỷ lệ của hai dạng trên là 67,3% và 52,1%.

Mấy năm gần đây, cùng với sự thâm nhập nghiên cứu lý luận và lâm sàng, nghiên cứu thực nghiệm về chẩn môi cũng thu được một số tiến triển, biện chứng của nó từ vĩ mô đã dần dần phát triển theo hướng vi mô, mà chủ yếu thể hiện trong nghiên cứu vi tuần hoàn niêm mạc môi. người ta đã kiểm tra vi tuần hoàn niêm mạc môi của 168 bệnh nhân bị đau xoang dạ dầy và 40 người bình thường đã phát hiện, vi tuần hoàn niêm mạc môi của bệnh nhân đau xoang dạ dầy có sự thay đổi khác thường, nhất là chứng ứ huyết là rõ ràng nhất. Biểu hiện là sự sắp xếp mạch máu rối loạn, tế bào hồng cầu tụ tập, thấm ra rõ rệt, màu máu đỏ tối, máu lưu thông rất khác thường, các mạch máu bị ứ huyết tăng nhiều, (> 45%), mạch máu dị dạng tăng nhiều (> 90%)), mà đa số là biến đổi cong gập, huyết mạch máu nở tăng nhiều (> 40%), số mạch máu bị giảm sút (< sợi/mm)..., có sự khác biệt rõ ràng so với nhóm bình thường và nhóm không có huyết ứ (P < 0,05 hoặc < 0,01); làm chứng cứ tham khảo cung cấp cho chẩn đoán bệnh đau xoang dạ dầy ứ huyết. Qua so sánh giá trị phân tích vi tuần hoàn niêm mạc môi khác thường giữa các nhóm bệnh trình khác nhau đã phát hiện, bệnh trình đau xoang dạ dày càng dài, thì trở ngại vi tuần hoàn càng nghiêm trọng. Về sự sắp xếp mao mạch, số lượng, trạng thái lưu thông của các bệnh nhân đau xoang dạ dầy có loại hình khác nhau, đều có sự thay đổi khác nhau về mức độ của chỉ tiêu các loại, ngoài sự thay đổi của chứng ứ huyết đã trình bày trên đây, chứng khí trệ chủ yếu biểu hiện là đường kính của mạch máu khá nhỏ, mạch máu cong gập chiếm tỷ lệ khá nhiều, số mạch máu giảm bốt, mạch máu thiên về ngắn...; chứng hư hàn chủ yếu biểu hiện là, màu máu đỏ nhạt, đường kính của mạch máu nhỏ, mạch máu phân nhánh nhiều; chứng hỏa uất chủ yếu biểu hiện là, mạch máu giãn nở phổ biến (đường kính đa số lớn hơn 30pm) huyết quản phân nhánh nhiều, khá dài, nhưng màu máu đa số là đỏ tươi, máu lưu thông có dạng dây mà chưa thấy tế bào hồng cầu tụ tập; chứng dương hư đa số biểu hiện là, mạch máu phân nhánh nhỏ, màu máu đỏ nhạt...; chứng âm hư biểu hiện là các sợi mạch máu tăng nhiều, màu máu đỏ tươi, máu lưu thông tăng nhanh. Kết quả kiểm tra vi tuần hoàn niêm mạc môi đối với 270 trường hợp các loại bệnh khác nhau, bao gồm 115 người bị viêm loét đường tiêu hóa trên, 60 bệnh nhân các dạng viêm dạ dầy mạn tính, 21 bệnh nhân viêm do tắc mạch máu (gọi tắt là TAO), 31 bệnh nhân bệnh phổi do tắc trở mạn tính, 22 bệnh nhân cao huyết áp dạng nguyên phát và 21 bệnh nhân bệnh động mạch vành đã cho thấy, sự thay đổi vi tuần hoàn môi của bệnh viêm loét đường tiêu hóa trên là tương đối rõ rệt, đặc điểm chính là giãn nở ứ huyết, các mạch máu biến dị tăng nhiều, trạng thái lưu thông khác thường, thấm ra...; trở ngại vi tuần hoàn môi của TAO là nghiêm trọng nhất, mà phát hiện khi quan sát so sánh với vi tuần hoàn nếp nhăn móng tay thì sự thay đổi chủ yếu của nó là vi tuần hoàn giãn nở và ứ huyết, mà đặc điểm vi tuần hoàn nếp nhăn móng tay là sợi thay đổi ngắn nhỏ; sự thay đổi vi tuần hoàn môi của bệnh cao huyết áp và bệnh động mạch vành là các mạch máu nhỏ. Sợi, cơ bản phù hợp với sự thay đổi của vi tuần hoàn nếp nhăn móng tay; sự thay đổi vi tuần hoàn môi của bệnh phổi do tắc trở mạn tính là mạch máu giãn nở tăng nhiều, màu máu đỏ tối.... Có thể làm chỉ tiêu tham khảo để biện chứng, biện bệnh trong lâm sàng.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 1: Chương 3.

Quan tâm  
2

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Xô Thơm - Salvia Officinalis
Từ xưa, cây Xô thơm (Salvia Officinalis) được xem là một loại thảo mộc thiêng liêng, đặc biệt là người La Mã tin rằng cây xô thơm có thể chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, kéo dài cuộc sống con người. Người Trung Quốc cũng đánh giá...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.