Thứ hai, 10/12/2018 8:14 PM

Y Tướng Học Trong Chẩn Đoán Mũi

Chủ nhật, 04/02/2018 6:35 PM

Là phương pháp thông qua quan sát sự thay đổi sắc trạch, hình thái to nhở và những thay đổi động thái khi hô hấp để tiến hành biện chứng chẩn bệnh, gọi là phương pháp chẩn đoán mũi. Mũi còn gọi là danh đường, vị trí ở giữa mặt. về vị trí giải phẫu của mũi, Đông y cho rằng: Đoạn trên của mũi liền với trán, gọi là trán (còn gọi là sơn căn, hạ cực, vương cung); đoạn cao đầu dưới mũi gọi là đầu mũi (còn có tên là tỵ chuẩn, chuẩn đầu, diện vương); hình tròn 2 bên đầu mũi lồi lên là cánh mũi (còn gọi là phương thượng), đường gò cao từ trán đến đầu mũi gọi là sông mũi (còn gọi là trực hạ, thiên trụ, tỵ trụ), phần dưới mũi có lỗ mũi, trong lỗ mũi có lông mũi, chỗ sâu trong lỗ mũi là khoang ngầm (xoang mũi). Phương pháp chẩn mũi, đã được nói đến rất nhiều từ rất sớm trong "Nội kinh", và cho rằng mũi là hình ảnh thu nhở của tổ chức tạng phủ, như trong "Linh khu. Ngũ sắc" có nói: "Đình là đầu mặt, phần quyết thượng là yết hầu, phần quyết trung là phổi; phần hạ cực là tim, phần trực hạ là gan, phần trái là gan mật, phần dưới là tỳ, phần phương thượng là dạ dầy, phần chính giữa là đại tràng, kẹp sát đại tràng là thận, đương thận là rốn, diện vương trở lên là tiểu tràng, diện vương trở xuông là bàng quang tử cung". Các nhà y học hậu thế cũng phân thuộc tạng phủ với phần mũi, tuy có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng đa số" đều theo hướng của "Linh khu. Ngũ sắc". Các nhà y học hiện đại cũng phân thuộc tổ chức tạng phủ đối với phần mũi, trên cơ sở y học cổ đại và còn trình bày tỷ mỉ tường tận hơn nội dung cụ thể xin xem hình 1-50 tài liệu từ Colombia.

Gần đây người ta lại dựa trên phương pháp chẩn mũi đã triển khai phương pháp trị liệu châm mũi theo hình 1-51. 

Từ xưa đến nay, các nhà y học đều rất coi trọng phương pháp chẩn mũi, như trong "Linh khu. Ngũ sắc" có nói: "Ngũ sắc quyết ở minh đường", "Vọng chẩn tôn kinh" lại chỉ rõ hơn: "Muôn quan sát khí sắc, trước hết phải nhận thức được minh đường". Có thể thấy được tầm quan trọng đốì với chẩn đoán mũi của Đông y.

[Nguyên lý chẩn đoán]

1. Quan hệ mật thiết giữa mũi với tạng phủ như phổi, tỳ v.v.

1. Trên, dưới mũi liền với họng, thông thẳng tới phổi, cùng hiệp trợ với phổi để tiến hành hô hấp, là ngoại khiếu của phổi. "Tô' vấn. Âm dương ứng tượng đại luận" nói rằng: "Phế chủ mũi... khai khiếu ở mũi". "Tố” văn. Kim quỹ chân ngôn luận" cũng nói: "Phế khai khiếu ở mũi". Phổi và mũi không chỉ phối hợp với nhau về mặt sinh lý, mà về bệnh lý cũng có ảnh hưởng lẫn nhau, vì thế quan sát chẩn đoán mũi, có thể biết được tình hình sinh lý, bệnh lý của phổi.

2. "Đan khê tâm pháp" nói: "Mũi là bộ phận của tỳ", "Y học chuẩn thằng lục yếu" nói: "Tỳ thổ sắc vàng, một khi có bệnh, tất thấy biến sắc ở diện đình". Tỳ thông lãnh huyết, mũi là nơi tụ tập huyết mạch, tỳ có bệnh thường theo kinh mạch phản ứng lên mũi. Vì vậy, quan sát sự thay đổi của mũi, có thể hiểu được chức năng của tỳ có bình thường hay không.

3. Trong "Vọng chẩn tôn kinh" có nói: "Mũi là bộ phận đầu tiên của hình thể, là cửa của hơi thở, là nơi hô hấp, thông với trời đất, quán với kinh lạc, lục phủ ngũ tạng không đâu không tới, tứ chi bách hài không nơi nào bở qua", "Mũi là diện vương, ngũ tạng ở trung ương, lục phủ kẹp sát hai bên nó" đã được nói rõ trong "Linh khu, Ngũ sắc". Cho nên ngũ tạng lục phủ đều có quan hệ mật thiết với mũi, ngoại tà cũng có thể thông qua mũi mà truyền nhập vào tạng phủ, tạng phủ có bệnh cũng có thể thông qua kinh lạc mà phản ứng lên mũi.

2. Mũi và kinh lạc luôn có mối quan hệ mật thiết

Mối liên hệ của mũi với tạng phủ, chủ yếu thông qua sự tuần hành của kinh lạc mà liên hệ với nhau. Túc dương minh vị kinh khởi ở cạnh ngoài mũi, đi lên đến phần gốc mũi; thủ dương minh đại tràng kinh phân bố ở 2 bên lỗ mũi; túc thái dương bàng quang kinh khởi ở phần gốc mũi; thủ thái dương tiểu tràng kinh từ dưới mũi cạnh má; đốc mạch đi xuống đến Sống mũi, đến đầu mũi; nhâm mạch dương khiêu đều tuần kinh trực tiếp cạnh mũi V.V.. Vì thế, về sinh lý, bệnh lý cửa những kinh mạch này và những tạng phủ có liên quan đều có thể từ mũi mà phản ánh ra ngoài.

3. Mũi còn gọỉ là minh đường

Vị trí ở giữa mặt, thuộc dương trong dương, là nơi thanh dương giao hội. Nếu dương khí hư suy, mất cân bằng âm dương, thì phản ánh ở mũi.

Do vậy, kiểm tra khiếu mũi không những biết được bệnh tật của bản thân mũi, mà còn biết được những thay đổi bệnh lý như là âm dương, hàn nhiệt, hư thực, ứ huyết, thủy khí v.v. của tạng phủ trong cơ thể con người, thậm chí còn có thể suy đoán được lượng đầy vơi, bệnh tình của tinh khí nội tạng, dự đoán được sự diễn biến và phát triển lành dữ của bệnh tật.

[Phương pháp quan sát chẩn đoán]

Khi kiểm tra phía ngoài mũi, nên kiểm tra trong điều kiện đầy đủ ánh sáng tự nhiên hoặc dưới ánh sáng mặt trời và đèn, quan sát màu sắc của mũi (màu đở, vàng, trắng, đen, xanh...), ngoại hình (to nhở, cao đầy, lõm tẹt, có sưng đở hay không, kết đốt, viêm loét...) và những thay đổi động thái khi hô hấp (cánh mũi, thở hít...). Khi kiểm tra khoang mũi, để bệnh nhân ngồi quay mặt ra của, đầu ngửa ra phía sau, người kiểm tra dùng ngón cái tay trái hơi đẩy mũi bệnh nhân hếch lên, để ánh sáng chiếu vào, dùng đèn pin hoặc đèn trán chiếu vào càng tốt. Khi quan sát cần chú ý sắc trạch của lông mũi và số lượng nhiều hay ít, tính trạng của vật tiết ra (tính dính, mủ hoặc mủ có máu...), có bị viêm loét kết vảy, lở loét hoặc tụ sưng hay không, có bị xuất huyết hay không, nếu có thì lượng nhiều hay ít, và sắc trạch của nó; nếu nước mũi quá nhiều, ảnh hưởng đến quan sát, nên dùng bông lau đi rồi tiến hành quan sát. Ngoài ra cần phải hởi bệnh nhân về chức năng của khứu giác có được nhậy cảm không. Đúng như trong "Vọng chẩn tôn kinh" đã nói: "Xem chẩn minh đường (mũi), quan sát khí sắc của nó, phân chia bộ vị của nó... những điều khác như khí của nó thô hay nhẹ, hít thở ra sao, có bị hắt hơi không, khiếu của nó thông hay tắc, phải tường tận các bộ môn".

Người bình thường nhìn bề ngoài mũi ngay ngắn đoan trang, to nhở vừa phải, không sưng đở mụn lở, màu mũi hồng vàng tươi nhuận, sáng nhuận hàm súc, lông mũi màu đen, thưa dày vừa phải, niêm mạc mũi hồng nhạt nhuận trạch, không tắc, không có nước mũi, không xuất huyết.

[Vận dụng lâm sàng]

1. Mũi là bộ phận biểu hiện của tỳ, ở giữa thuộc thổ, màu vàng. Nếu ở phần mũi xuất hiện các màu khác với màu cơ bản vàng hồng mờ mờ của nó, hoặc thấy màu ám tối khô khan, đều thuộc màu bệnh. Màu đầu mũi đở thẫm chủ về phổi tỳ thực nhiệt; đầu mũi hơi đở thẫm chủ về tỳ kinh hư nhiệt; màu đầu mũi đở thẫm hoặc tím đở, đa số là mũi bã rượu; dưới mũi sưng đở như mụn lở là bệnh cam, trong bụng có giun; diện vương phụ nữ (cánh mũi) màu đở, to như quả du, chủ về bế kinh; sống mũi trẻ em đở tím, dễ bị sưng nhọt mủ và máu; trẻ em bị sởi đầu mũi thấy mẩn đở, đa số là thuận chứng.

2. Đầu mũi màu vàng; chủ về thấp nhiệt bên trong lại chủ trong ngực có hàn, tiểu tiện bất lợi, nên tham khảo mạch lưỡi; đầu mũi vàng mà không nhuận trạch, chủ khí hư có viêm; đầu mũi vàng mà khô nóng, kiểu như tượng đất, chủ tỳ hởa tân khô, thuộc chứng tỳ tuyệt, sắp tử vong; đầu mũi vàng đen mà sáng là có ứ huyết.

3. Đầu mũi màu trắng, chủ khí hư thiếu máu cũng chủ về rong huyết, ở trẻ em thì tỳ hư tả lỵ; ăn bú không tiêu; đầu mũi màu trắng như xương khô là phế tuyệt, triệu chứng nguy hiểm, nhưng nếu mũi trắng mà còn nhuận sáng là còn có thể sống.

4. Đầu mũi màu xanh là triệu chứng đau đớn, thường là đau kịch liệt ở phần bụng; đầu mũi màu xanh vàng, phần nhiều thấy ở người bị lậu.

5. Đầu mũi màu hơi đen chủ thủy khí nội đình; màu đen mà khô cháy là triệu chứng hao kiệt hoặc bệnh lao; nam giới thấy màu đen ở diện vương là bị đau ở bụng trên, nếu màu này liền xuống nhân trung là đau ở âm kinh và tinh hoàn; nữ giới xuất hiện màu đen ở diện vương thường là bệnh đau ở bàng quang tử cung, nếu màu này liền xuống nhân trung, chủ về nội thương, lậu...; đầu mũi màu đen, hơi phù mà sáng, như bôi cao, chủ bạo thực bất khiết; màu đen là lao, đầu mũi màu đen mà khô táo là lao phòng, lỗ mũi khô đen như khói than là dương độc nhiệt thậm, hoặc táo nhiệt kết ở đại tràng, hoặc hởa khắc phế kim, hoặc là triệu chứng phế tuyệt; lỗ mũi lạnh bóng mà đen chủ âm độc lạnh cực; đầu mũi xanh lạnh liền với má, chủ phế vị khí tuyệt, là chứng cực nguy; phụ nữ sau khi sinh đầu mũi bốc khí đen là triệu chứng nguy hiểm phế bại vị tuyệt.

6. Lông mũi bị bạc màu thấy nhiều ở người già, là tiêu chí suy lão cơ thể, niêm mạc mũi màu trắng nhạt chủ hàn chứng, niêm mạc mũi màu đở ủng chủ lý nhiệt (nhiệt trong).

7. Đầu mũi sáng, sắc mũi sáng nhuận là biểu hiện vô bệnh hoặc bệnh sắp khởi, sắc mũi khô khan, tử vong sắp đến, lỗ mũi khô cháy, nóng là phế tuyệt; sắc mũi sáng sủa quang trạch là có thần, dự báo diễn biến và phát triển tốt đẹp; mũi ám tối khô khan là mất thần, dự báo điềm hung.

8. Hình thái to nhở của mũi, khác nhau tùy theo từng người, sự khác nhau cá nhân khá lớn, nhưng nói chung mũi có ngoại hình ngay ngắn vừa phải, không bị dị dạng rõ nét. Mũi quý ở sự đầy đặn bề thế, người có minh đường to rộng sống lâu, nhở quá là nguy hiểm; phần xương của mũi cao là thọ cao, xương mũi thấp hãm là yểu. Trong "Vọng chẩn tôn kinh" cho rằng: "Mũi là hợp nguồn của phổi, mũi to tạng khí có dư, mũi nhở tạng khí thiếu hụt".

9. Bệnh mới ngoài mũi sưng trướng là tà khí thực, đa số là phế kinh hởa thịnh, hoặc do bị ngoại thương; bệnh lâu mũi hãm là chính khí suy; khiếu mũi sưng đở, đều do ở nhiệt, thường thấy ở giai đoạn sơ khởi của các bệnh như 18 mũi, đinh mũi, nhọt mũi, cam mũi, ung thư mũi...; nếu sơ khởi như hạt kê, đỉnh cao đầu nhọn, chân rễ cứng, nổi lên như bóng nước trắng; hoặc đở thâm, đa số là nhiệt độc ủng phế, khí huyết ủng trệ gây ra; nếu mũi sưng như cái bình, đầu nhọt tím tối, đỉnh hãm không có mủ, chân rễ tản mạn, là dự đoán có nhiệt độc nội hãm phần huyết.

10. Khiếu mũi sưng tấy, lở loét, kết vẩy hoặc khô ngứa nóng rát, tái phát không khởi, ban lở màu tím, gọi là "mũi cam", là phong nhiệt ở phế kinh, uẩn lâu thành cam, gây ra cam nhiệt công phế, phạm lên khiếu mũi. Nếu chứng này kéo dài, nhiệt độc kèm theo thấp, thấp nhiệt uất chưng, tất sưng mũi viêm loét, chảy nước vàng, hoặc khô nứt chảy máu mà thành ra thấp nhiệt uâ't chưng.

11. Đầu mũi đở thẫm, sinh mụn mẩn, lâu ngày da dầy lên có màu tím đở, bề mặt lồi lên cao thấp không bằng nhau, giống như thịt thừa, là "mũi bã rượu", đa số do vị hởa hun phế, thêm phong hàn khống chế bên ngoài, huyết ứ ngưng kết mà thành.

12. Phần mũi sinh mụn cơm vụn nhở, dạng như hạt thử, màu đở thẫm sưng đau, sau khi phá ra nước màu trắng, lâu ngày thành màu trắng, gọi là "phế phong phấn thích", do huyết nhiệt ủng trệ phế kinh mà thành.

13. Màng cơ trong mũi sưng tấy, thay đổi tắc trở, khi nặng khi nhẹ, tái phát nhiều lần; lâu ngày không khởi, gọi là "mũi tắc", đa số do phế tỳ khí hư, tà hàn thấp lưu trệ ở khiếu mũi mà thành; trong mũi khô nóng, màng cơ co rút, khiếu mũi mở rộng, gọi là "mũi cảo", là tỳ phế khí hư, tân dịch thiếu hụt; trong mũi sinh cục thịt thừa, to dần sa xuống, thò ra như trĩ, màu đở nhạt sáng bóng, bịt tắc lỗ mũi, tắc giảm khứu giác, gọi là trĩ mũi, người bị nặng thì mũi biến to dị dạng, thậm chí sa thò cả ra ngoài khiếu mũi hai bên khiếu mũi bị cục thịt thừa chèn ép to phình ra như con ếch, gọi là "mũi ếch", là do phế kinh phong nhiệt ngưng tụ đờm đục, khí trệ huyết ứ mà thành (hình 1-52).

14. Đầu mũi, cánh mũi hoặc trong cánh mũi phát sinh những hạt như hạt kê, hạt vừng, hoặc ngứa, nóng bởng đau đớn, gốc chân cứng, có dạng như bị đầu đinh, gọi là "đinh mũi", là do phế kinh phong nhiệt tà độc hun chưng cơ da mà thành. Nếu từ 3 - 5 ngày sau các đỉnh mụn xuất hiện điểm mủ màu vàng, đỉnh cao chân mềm, phần lớn tự vỡ chảy mủ, hết sưng mà khởi là thuận chứng; nếu đầu mụn tím tối, đỉnh hãm không có mủ, gổc chân tản mạn, mũi sưng như cái lọ, sốt cao hôn mê, là tà nhiệt độc nội hãm tâm bao, là nghịch chứng đinh sang tẩu hoàng, bệnh tình hiểm ác.

15. Sống mũi tê dại đau đớn, cứng màu tím, gọi là "cam mũi", là phế hởa hun chưng, nhiệt độc ngưng tụ mà thành; lâu ngày xuất hiện tê dại phần mũi mà không biết đau ngứa nóng lạnh, cánh mũi dầy béo, màng cơ trong khiếu mũi viêm loét, lông mũi'rụng, sông mũi bị phá lõm tẹt xuống, giống như yên ngựa, đó là xương đã chết trước, là triệu chứng ác tính của bệnh phong, còn gọi là "lệ phong" là do phong tương thấp tương xâm, khí huyết ngưng trệ mà thành.

16. Khiếu mũi ướt lở viêm loét, trên niêm mạc mũi phát sinh các nốt ban màu đở tối và đậu dương mai, kế đến sinh ra kết đốt, rữa nát loét thủng, miệng vết thương lõm xuống, hôi thối khó chịu, hàng năm không khởi, gây ra co tóp đầu mũi, sống mũi lõm tẹt như yên ngựa, gọi là "giang mai", do cảm thụ thấp độc tà khí, khí huyết ngưng kết gây nên, khó trị.

17. Niêm mạc mũi sinh ra nốt, mẩn nhở như hạt kê, sưng đở rữa loét, gây nóng bởng rát, đau như lửa đốt, lâu ngày khó khởi, thường tái phát nhiều lần, gọi là "mũi lở", đa số do tà phong nhiệt ở phế kinh, vây lên khiếu mũi gây ra.

18. Da phần mũi rách chẩy máu, hoặc có vết ban ứ màu xanh tím, là do ngoại thương gây ra; sống mũi lõm xuống do vết thương ngoài gây nên thường là gẫy dập xương mũi.

19. Trong khoang mũi bình thường có một lượng ít tân dịch nhuận trạch, nhưng không chẩy ra ngoài mũi. Nếu nước mũi trong chảy ra, lượng nhiều mà loãng, là ngoại cảm phong hàn; chảy nước mũi đục là ngoại cảm phong nhiệt. Nếu nước mũi đục chảy liên tục, mùi tanh thối, dạng như mủ, gọi là "mũi đầm" hoặc gọi là "não thấm" hay "não lậu", đa số do nhiệt độc trong mũi ủng thịnh; nếu kèm theo thấy niêm mạc mũi sưng tây, nhất là đở thẫm là nặng, là một uất nhiệt; nếu kèm theo thấy khoang mũi sưng tấy đở đau, nhất là sưng tấy là nặng, là tỳ kinh thấp nhiệt, nước mũi trắng đặc mà lượng nhiều, niêm mạc mũi sưng tấy đở nhạt, xương xoăn mũi phì to, người lâu ngày không khởi là phế khí hư hao hoặc tỳ khí hư nhược.

20. Chảy máu khoang mũi gọi là "máu cam". Người thực chứng máu có màu đở tươi hoặc đở sẫm, người hư chứng máu nhạt màu chất loãng. Máu đở tươi lượng ít, chảy ra từng giọt, đa số là tà phong nhiệt xâm phạm làm tổn thương phế vệ; máu đở tươi mà lượng nhiều, đa số là dạ dày nhiệt thịnh, hoặc can dương quá cao, chứng thực nhiệt chước thương huyết mạch, hoặc do ngoại thương; máu đở nhạt mà lượng ít, lúc ra lúc không, đa số là can thận âm hư, hư hởa thượng viêm, hoặc tỳ hư không thể thông nhiếp huyết dịch; chảy máu cam về đêm, đa số là khí huyết hư hao, huyết không theo kinh, Nếu lỗ mũi khô táo là tân dịch đã hao, thường là nhiệt ở phần khí, tất sẽ chảy máu.

21. Nếu một bên mũi chảy máu, thường là do ngoại thương, khoang mũi cảm nhiễm tà độc, tổn thương mạch lạc cục bộ, sưng ung khoang mũi, lá mía bị tổn thương một bên; chảy máu cam cả hai bên mũi đa số do mất điều hòa chức năng tạng phủ toàn thân gây nên, như bệnh sốt cấp tính toàn thân, bệnh về hệ thông máu, bệnh cao huyết áp, bệnh về can tỳ, thiếu sinh tô' C hoặc K; phụ nữ có hiện tượng chảy máu cam có chu kỳ, đa số là bệnh dị vị niêm mạc trong tử cung.

22. Khi hít vào lỗ mũi mở to, khi thở ra lỗ mũi co về, gọi là "mũi quạt", tức là cánh mũi trương lên như quạt; là biểu hiện hô hấp khó khăn, thường thấy ở trẻ em sốt cao, bệnh nhân suyễn và bệnh lâu thể suy. Nhìn chung mà nói, bệnh suyễn mới mà mũi trương ra, đa số là tà nhiệt ủng phế, hoặc đàm ẩm nội đình, thuộc chứng nhiệt, thực chứng; bệnh suyễn lâu mà ra mồ hôi, mũi trương lên, là triệu chứng phế khí suy kiệt, mạch tất sác mà hư, khó trị.

23. Trẻ em khi ra đời, ở phần gốc mũi xuất hiện vật phình ra dạng túi, dẫn đến làm cho gốc mũi nới rộng lồi lên, che lấp da bình thường, có thể thấy có động đậy, mà còn trương to lên theo tiếng khóc của trẻ, đó là rạn nứt sọ, là do sự phát triển bẩm sinh không bình thường gây ra.

24. Phần mũi xuất hiện vân gọng cua, có thể chẩn đoán xơ cứng gan. Vân gọng cua là có hình dạng như gọng cua, phần dưới rộng đến ngọn nhọn dần, cong gập, nhở dài, giống như cành cây phân nhánh, hoặc cong gẫy như chân nhện, vân máu màu tím đở, có thể ở cánh mũi hoặc đi thẳng lên ấn đường. Đa số là từ phần ngoài lỗ mũi kéo dài lên về phía ấn đường, hoặc kéo dài lên đến phần nửa mũi hoặc 2/3, nhìn xa thành chùm giống như dạng ngọn lửa, người nhẹ chỉ có ít đường, người nặng thì quấn quanh như tơ, rải đầy khắp mũi. Đó là thể chứng quan trọng cho sự chẩn đoán thời kỳ đầu của bệnh xơ cứng gan. Theo như phát hiện của Triệu Quốc Nhân ở Trung Quốc, 7 bệnh nhân tử vong do xơ gan cổ trướng, thì ở phần mũi đều có vân gọng cua, mà 7 bệnh nhân này đều chết vì xuất huyết do vỡ tĩnh mạch thực đạo, từ đó cho rằng sự giãn nở các mao mạch ở phần mũi hầu như có quan hệ với sự trở ngại hồi lưu tĩnh mạch thực đạo. Trong 16 bệnh nhân bệnh gan mà Thái Kỷ Minh quan sát, thì 3 người có vân gọng cua ở mũi, 9 người có vân gọng cua ở mũi liền với các khu vực khác, cho rằng vân gọng cua xuất hiện ở phần mũi thường biểu thị bệnh gan.

25. Nhìn mũi có thể chẩn thương: Nếu ở rãnh cánh mũi xuất hiện vết ban màu đở, biểu thị thương thế tương đốì nhẹ, xuất hiện điểm ban màu đen là thương thế khá nặng. Nói chung, điểm ứ ở rãnh cánh mũi trái là chấn thương phần trước ngực, ở rãnh cánh mũi phải là chấn thương phần sau lưng.

26. Các nhà y học Nhật Bản cho rằng: Người có sống mũi thẳng cơ thể khởe mạnh, người sông mũi xiên lệch dễ phát sinh bệnh trong nội tạng. Người đầu mũi nhở mà mởng, dễ mắc bệnh về hệ thống hô hấp và hệ thông sinh dục. Người lỗ mũi to, phế quản quá nhở; chân sống mũi cao, có bệnh ở mắt cá chân, đa số có bị ấn đau ở mắt cá trong; người mũi to cơ thể cường tráng, người mũi nhở cơ thể phát triển không tốt; người mũi cao mà mởng thịt, dễ bị lao phổi; mũi trắng nhợt là biểu hiện thiếu máu; đầu mũi có màu tím lam là triệu chứng mắc bệnh tim, khi mũi có màu đen là có bệnh dạ dầy; đầu mũi màu xanh tím là tiêu chí bệnh đau bụng; phần gốc mũi có tĩnh mạch trương hằn lên, là có ứ huyết trong ruột; viền trong lỗ mũi đở, vách giữa mũi bị viêm loét, là giang mai; viền ngoài lỗ mũi đở, là trong ruột có ký sinh trùng.

27. Sơ khởi bệnh tắc mũi, người bị ngạt mũi do ngoại cảm phong tà gây ra, gọi là ngạt mũi thương phong; sơ khởi ngạt mũi, niêm mạc mũi sưng đở, chảy nước mũi, đồng thời thấy rùng mình, sốt, đau đầu, là phong nhiệt ngoại tà thâm nhập; tắc ngạt mũi đã lâu, khi nặng khi nhẹ, niêm mạc sưng tấy mà màu nhạt, đa số là chứng phế khí hư hàn hoặc tỳ hư; ngạt mũi liên tục không giảm, xoang mũi sưng tấy đở tốì, lồi lõm không đều, đa số là khí huyết ngưng trệ, ngạt mũi thành từng đợt, ngứa, hắt hơi, chảy nước trong, niêm mạc trắng nhợt, là phế hư hoặc thận hư hàn tà ngưng tụ; tắc ngạt mũi gián cách, niêm mạc sưng đở khá nặng, nước mũi vàng đặc, lượng nhiều, miệng đắng họng khô, là đảm kinh hởa nhiệt; có cảm giác mũi bị lấp tắc, niêm mạc khô nóng khô héo cơ, là phế hư hoặc tỳ hư tân dịch khô kiệt, tà ăn mòn màng cơ. Nếu trẻ mới sinh do bị tắc ngạt mũi không thông khí mà ảnh hưởng đến ăn bú, là "chứng phong mũi" do ngoại cảm phong hàn.

28. Sơ khởi bệnh mũi, không ngửi được mùi thơm thốĩ, niêm mạc sưng đở, đa số thuộc chứng phong nhiệt tà độc ủng thịnh; chảy nước trong tức là ngoại cảm phong hàn, cảm giác hôi lâu, niêm mạc mũi sưng tấy trắng nhạt, là tỳ phế lưỡng hư, thanh dương không bốc lên, mũi ngạt không ngửi được thơm hôi, xoang mũi phì to, đa số là tà trệ mạch lạc, khí huyết ngưng trệ; không ngửi được mùi thơm hôi, mà trong xoang mũi có mùi hôi, là phế tỳ hư tổn, tà phạm màng cơ, màng cơ khô héo.

29. Đau ở trong mũi, đa số do phong tà nội uất; đau nhức đầu mũi, ngạt mũi chảy nước trong, là phong hàn ngoại nhập; mũi đau nóng rát, chảy nước vàng, mạch phù, là tà phong nhiệt vây mũi; mũi đau kịch liệt, thường là phế kinh ung nhiệt, công lên khiếu mũi; mũi đau mà sưng là thấp nặng; đau nháy đa số do tà nhiệt khá nặng; đau châm chích chủ phong tà nặng; mũi đau mà khô nóng rát, kết vẩy cục bộ, màu hơi đở, đa số thuộc âm hư phế nhiệt; mũi đau kèm theo đau đầu xuất huyết, cần chú ý khả năng bị ung thư.

30. Nhức mũi, trong "Nội kinh" gọi là cay mũi, nhức cánh mũi đau, chảy nước vàng đặc, là ngoại cảm phong nhiệt ủng phế, hoặc trong phổi đàm hởa thượng chưng; khiếu mũi đau khó chịu, chảy nước trong loãng, đa số là phế khí bất túc, tà phong hàn ngoại nhập; đau mởi nhức gốc mũi, chảy nước trắng dính, thở khó khăn, đa số do phế tỳ khí hư gây nên.

31. Khô mũi, tức là khiếu mũi khô táo thiếu nước, thường do âm hư phế táo gây nên, hoặc do ở tâm tỳ có nhiệt, chưng lên phổi; khiếu mũi khô táo thường thấy ở các bệnh nhân thương hàn, chủ tà nhiệt ở trong cơ bắp dương minh, để lâu tất sẽ bị chảy máu cam; lỗ mũi khô táo, mắt mờ, nhưng chỉ muốn ngậm nước chứ không muôn uống, cũng là triệu chứng chảy máu cam; khiếu mũi khô táo kết vẩy, kèm theo sắc mặt vàng nhợt kém lực, khí đoản mạch hư, là do phế tỳ khí hư; mũi miệng khô táo, đại tiểu tiện bất lợi, thường gặp ở bệnh nhân bị động kinh.

32. Ngứa mũi. Đa số thấy ở bệnh thương phong cảm mạo, ngứa mũi nuốt đau mạch phù, là tà phong nhiệt thượng xâm; ngứa mũi mà khô táo thiếu nước, là phế kinh táo nhiệt; ngứa mũi từng đợt, chảy nước trong, hắt hơi liên tục, khi nhanh khi nghỉ, tái phát nhiều lần, là phế vệ không ổn, ngoại cảm phong hàn, khí không hấp thu nước gây ra.

33. Hôi mũi, tức là trong mũi toàn mùi hôi thối, đa số do phế tỳ lưỡng hư, khí trê hpyết ứ, tà ân mòn màng cơ mà thành; khi mũi có mùi tanh, trong khiếu mũi thường xuyên khô táo, màng cơ khô khan, gọi là chứng hôi mũi, là phế tỳ khí hư, phế khiếu không tươi gây nên.

34. Ù mũi, tức là ngạt mũi khi thở phát ra âm thanh, là do phế khí bất lợi; ù mũi mà âm thanh nặng, là tà ngoại cảm phong hàn, phế khí bất lợi gây ra; mũi ù khô, đổ mồ hôi mạch phù hoãn, là chứng thái dương trúng phong.

35. Khí thở thô mà gấp, là ngoại cảm tà khí có dư, chủ thực chứng; khí thở nhẹ mà chậm, là nội thương chính khí hao hụt, chủ hư chứng; hô hấp khí thô mà đứt đoạn, là giả chứng khí phế thận muốn tuyệt; thở khí nhẹ mà choáng váng, nếu thấy ở người nóng sốt, là chứng giả hư nhiệt nhập tâm bào; thở gấp, tựa như suyễn mà không nâng vai, không có âm thanh đờm, gọi là đoản khí, người thực chứng thở gấp mà đoản, giữa tâm bụng trướng đầy đau, là đàm ẩm kết ở ngực gây ra; người hư chứng hít dài mà thở ra ngắn, giữa tâm bụng đầy mềm, là phế thận hao hụt gây nên. Hơi thở cấp thúc, ngược lên ở giữa họng, thở ra nhiều hít ngắn, gọi là thượng khí, là do ngoại tà bó ở ngoài, đàm ẩm nội đình, dẫn đến phế khí vây ở trong mà thành. Thở yếu ớt, ngắn mà thấp tiếng, ngôn ngữ yếu đuối, thiếu khí không đủ để thở, cũng không đủ để nói, gọi là thiếu khí, là do thận khí hư bại gây ra, hô hấp cạn ở bên ngoài, hơi thở yếu đuối, đứt đoạn mà khó kế tiếp, gọi là thở yếu, là dương khí đại thương, là triệu chứng khí phế thận sắp tuyệt.

[Nghiên cứu hiện đại]

Theo kinh nghiệm nhìn mũi chẩn bệnh trong sách tướng, cho rằng hình sắc của mũi chủ yếu phản ánh bệnh của lách và phổi. Nội dung về phân chia bộ vị của mũi trong sách tướng thì tường tận hơn nhiều so với vọng chẩn mũi trong vọng chẩn Đông y học, quan sát hình thái của mũi không chỉ có thể chẩn đoán được bệnh tật, phán đoán bệnh tính và suy đoán diễn biến, phát triển, còn có thể suy đoán được mức độ mệnh thọ của con người.

Nghiên cứu bàn luận về phân chia các vị trí chẩn sắc minh đường, về phương diện lâm sàng, đầu mũi hình tròn có các mao mạch giãn nở hằn lên là xơ cứng gan, ở phần sống mũi xuất hiện dạng đậu, màu xanh nâu, biểu thị sa dạ dầy, sắc tố của nó sâu hay cạn có quan hệ đến bệnh trình dài hay ngắn; hai bên cánh mũi xuất hiện màu vàng nhạt hoặc màu xanh đậm hình elíp là biểu thị viêm túi mật.

Phổi khai khiếu ở mũi, bệnh của phổi có thế phản ánh lên mũi, khi cánh mũi phập phồng giao động, ở trẻ em là tà nhập nội hãm ở phổi, thuộc chứng viêm phổi nặng. Ở người thành niên thì có phần hoãn cấp; chứng cấp đa số là chứng bế đàm nhiệt ủng phế; nếu bệnh lâu, thấy kèm theo đầu đổ mồ hôi tứ chi lạnh, mặt trắng nhợt là thuộc chứng phế khí hao tổn. Sống mũi nổi gân xanh là cảm gió kèm theo đờm, đầu mũi lạnh là tỳ hư gây tả.

Nghiên cứu của y học hiện đại phát hiện, từ mũi của một người có thể nhận biết được tình hình sức khởe của người đó. Nếu mũi rất cứng, có khả năng là xơ cứng động mạch, côlestêrôn quá cao; mũi phát sinh hiện tượng khối sưng, biểu thị tụy và thận có bệnh; đầu mũi sưng đở, có khả năng tim cũng phát thũng hoặc đang to ra; mũi đở là biểu thị có bệnh ở tim và tuần hoàn máu; mũi có màu nâu cọ, màu lam hoặc màu đen lẫn lộn, biểu thị lách và tụy có vấn đề; nếu trên mũi phát sinh mụn lở đầu đen, biểu thị ăn nhiều thực phẩm loại sữa và mỡ quá nhiều.

Ở nước ngoài, qua điều tra, nhóm Johan Nguyễn ở Pháp cho rằng, da ở phần mũi có dạng chấm khác thương, là phản ứng của triệu chứng bệnh tật, giá trị triệu chứng học của nó chủ yếu quyết định ở vị trí bệnh của nó. Điều tra còn phát hiện, giữa sự thay đổi bệnh lý biểu hiện ở bệnh nhân có một mối quan hệ tương hỗ nhất định với vị trí biểu hiện điểm khác thường trên da mũi. Ở vị trí giữa là huyệt buồng trứng, tinh hoàn ở trên mũi [ở huyệt thận (đầu mũi) với huyệt bàng quang (đoạn dưới đường giữa cánh mũi)], các dạng điểm khác thường (như dạng u mạch máu, nốt ruồi có màu hoặc không màu, tàn hương, vết tròn phang hoặc nốt ruồi tròn) trên da ở phần này đều phản ánh bệnh ở hệ thống sinh dục. Điều tra cho thấy, trong số 87 người có dạng điểm khác thường liên quan đến da khu buồng trứng, tinh hoàn thì bệnh nhân nữ giới chiếm 72%. Còn như tính chất của dạng điểm khác thường trên da, thi khối u mạch máu, chiếm 67,8%, nhưng tỷ lệ phát bệnh giữa 2 giới hầu như gần bằng nhau, nữ giới là 68,2%, nam giới là 66,6%.

Trong 100 bệnh nhân nữ, bệnh nhân có dạng điểm khác thường trên da là 25,4%; trong 90 bệnh nhân nam có 24 trường hợp xuất hiện dạng điểm khác thường trên da, chiếm 26,6%. Trong số 73 bệnh nhân nữ giới có bệnh sử về hệ thông sinh dục, có 38,3% xuất hiện dạng điểm khác thường trên da; trong số bệnh nhân nam giới có bệnh sử về hệ thông sinh dục, số người có dạng điểm khác thường trên da là 80%. Trong sô 63 bệnh nhân nữ giới có dạng điểm khác thường trên da, thì có 61 người có bệnh sử ở hệ thống sinh dục, chiếm 96,8%; trong số 24 bệnh nhân nam giới có dạng điểm khác thường trên da, có 22 người bị bệnh sử về hệ thông sinh dục, chiếm 91,1%. "Tuần báo Côlômbia" đã đăng bài "Chỉ nhìn qua bạn có thể làm cho bạn khởi bệnh", bài báo nói: "Qua nghiên cứu cho thấy, mỗi vị trí nhất định của phần mũi là hình chiếu của tổ chức tạng phủ trên bề mặt của nó, cho rằng quan sát và xoa bóp mỗi vị trí của phần mũi, thì có thể chẩn đoán hoặc điều trị được bệnh của cơ quan tạng phủ tương ứng".

Những năm gần đây, các học giả trong và ngoài nước cho rằng lông mũi bị bạc là một trong những tiêu chí quan trọng về sự suy lão cơ thể, 300 nam giới khởe mạnh tuổi từ 18 - 73 là đối tượng điểu tra của nhóm học giả Cát Trạch Khang Hùng ở Nhật Bản, nghiên cứu về mối quan hệ giữa tuổi tác thực tế với tỷ lệ bạc của lông mũi, đẫ cho thấy tỷ lệ lông mũi bạc tăng cao theo cùng tuổi tác. Do bởi lông mũi phân bố ở tiền dinh mũi, số lượng ít, có thể đếm được dễ dàng và dễ quan sát, vì thế có thể làm tiêu chí khách quan tương đối ưu việt cho việc chẩn đoán sự suy lão cơ thể. Trước đây không lâu, các đơn vị liên hợp với Viện Y học Vũ Hán, Trung Quốc đã điều tra 1.905 người từ 17 - 79 tuổi ở tỉnh Hồ Bắc, đã xác minh sự thông nhất cơ bản về tỷ lệ lông mũi bạc của Trung Quốc với tài liệu quan sát của Nhật bản. Nhưng sự xuất hiện lông mũi bạc của người Trung Quốc chậm hơn so với người Nhật, lông mũi bạc toàn bộ từ sau 60 tuổi, điều này có khả năng liên quan đến sự khác biệt về dân tộc và khu vực.

 

Nguồn tham khảo

Y Tướng Học Truyền Thống Phương Đông (Phan Cử) - Tập 1: Chương 1.

Quan tâm  
7

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Telbivudine được sử dụng để điều trị viêm gan siêu vi B lâu dài. Viêm gan siêu vi B là một bệnh nhiễm trùng gan do virus viêm gan siêu vi B gây ra. Bệnh nhiễm trùng gan kéo dài có thể gây ra các tình trạng tổn thương gan, ung thư gan hiếm gặp...
Viêm Não Và Viêm Màng Não Có Phải Là Một Bệnh?
Viêm não và viêm màng não có triệu chứng ban đầu khá giống với các bệnh khác, bệnh được chẩn đoán xác định nhờ các xét nghiệm. Và bạn nên nhớ rằng viêm não và viêm màng não là hai bệnh khác nhau chứ không phải là một...
Xét Nghiệm Chloride Trong Máu
Xét Nghiệm Chloride Trong Máu là một xét nghiệm đo Clor trong huyết thanh (huyết thanh là một phần của máu không chứa fibrinogen).
Vitamin D Có Thực Sự Thần Hiệu Như Người Ta Vẫn Tưởng?
Vitamin D có thực sự tốt như người ta vẫn tưởng? hay chỉ là những lời đồn thổi vô căn cứ nhằm quảng bá cho một thương hiệu thực phẩm chức năng nào đó? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ.
Công Nghệ Nano, Sự Kết Hợp Tuyệt Vời Giữa Y Học Cổ Truyền Và Y Học Hiện Đại
Công nghệ Nano đang làm mưa làm gió trên thị trường thuốc tại việt nam nói riêng và thế giới nói chung. Vậy đó là gì mà đặc biệt quá vậy? Có thật sự công hiệu trong điều trị bệnh hay không? Mời cả nhà theo...
Fibrin
Fibrin là sản phẩm sau cùng của tiến trình đông máu, sản sinh ra do tác động của enzyme thrombin trên chất tạo ra huyết tương là tiền thân hòa tan được của fibrin.
Rượu Kế
Rượu Kế hay còn gọi là Tửu Kế, Cồn Kế, là dụng cụ được dùng để xác định độ rượu, độ chìm của Rượu Kế trong dung dịch càng nhiều thì rượu càng nặng.
Feldene - Thuốc Trị Thoái Hóa Khớp, Viêm Cột Sống Dính Khớp, Thống Kinh Và Bệnh Gout
Feldene là thuốc chống viêm và giảm đau trong một số bệnh: Viêm khớp dạng thấp và viêm xương khớp, thoái hóa khớp. Viêm cột sống dính khớp, bệnh cơ xương khớp và chấn thương trong thể thao.
pH Nước Tiểu Là Gì?
pH là đại lượng đặc trưng cho độ toan-kiềm (acid-base) của một chất dịch như pH máu hoặc pH nước tiểu. Để hiểu thêm về độ pH nước tiểu là gì thì mời bạn tham khảo bài viết dưới đây nhé!
Bí Ẩn Xác Ướp Không Đầu Đã Được Giải Mã
Trong một ngôi mộ cổ ở Ai Cập, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một cái đầu và một thân hình mất tứ chi. Trong hơn 100 năm qua, người ta đã tranh luận rất nhiều về xác ướp không đầu này nhưng vẫn chưa ngã ngũ ra là cái đầu ấy...