Thứ hai, 24/09/2018 5:15 AM

Thánh Nhân Bất Bại Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: Đập Tan Đội Quân Sâm Lược Hùng Mạnh Bậc Nhất Thế Giới

Chủ nhật, 21/01/2018 10:09 AM

Quân Nguyên Mông là đội quân thiện chiến và hùng mạnh bậc nhất thế giới hồi thế kỷ XII-XIII, chúng đi đến đâu là gieo rắc nỗi kinh hoàng đến đấy. Vậy mà khi đến Đại Việt, hơn 100 vạn đại quân đã bị Trần Hưng Đạo cùng vua tôi nhà Trần đánh cho không còn manh giáp.

“Đông A di sự” là một cuốn sách cổ do Trần Triều Bình Chương Quốc Sư, Băng Hồ Tướng Công Trần Nguyên Đán chắp bút. Cuốn sách cổ này là một tư liệu quý, do chính người trong dòng tộc nhà Trần ghi chép lại từng chi tiết về các sự kiện của triều đại nhà Trần. Chính vì thế, nó là nguồn sử liệu lý giải cho những diễn biến quan trọng của nhà Trần từ góc nhìn của những người trong cuộc.

Không chỉ trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần hai và ba, mà ngay từ lần thứ nhất Trần Quốc
Tuấn đã có công lao lớn nhất trong chiến thắng của Đại Việt.

Theo “Đông A di sự”, người có công lớn nhất trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, không ai khác, chính là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Dù không được trực tiếp cầm quân, nhưng mọi tính toán chiến lược, đường đi nước bước đều do chính Trần Quốc Tuấn đề ra kế hoạch. Nhưng trước tiên, để hiểu được tại sao những sự việc này không được ghi chép lại trong chính sử, chúng ta phải nhìn lại bối cảnh của người anh hùng Trần Quốc Tuấn.

Câu chuyện mối hiềm khích trong nhà Trần

Trong lịch sử triều đại nhà Trần vào giai đoạn đầu, người nắm thực quyền không phải là vua, mà là thái sư Trần Thủ Độ, người đã ép Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh mới 8 tuổi, từ đó lập ra nhà Trần. Quyền lực thực chất nằm trong tay Trần Thủ Độ cho đến khi ông mất vào năm 1264.

Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông, phong Lý Chiêu Hoàng là Chiêu Thánh hoàng hậu. Năm 15 tuổi, hoàng hậu sinh hoàng tử Trần Trịnh nhưng không may Trần Trịnh chết yểu. Sau đó hoàng hậu không thể mang thai lại được nữa.

Năm 1237, vua Trần Thái Tông mãi vẫn chưa có con, điều này khiến nhiều tôn thất nhà Trần lo lắng hậu vận nhà Trần không có người nối dõi. Lúc này anh ruột của Trần Thái Tông là Trần Liễu có vợ là bà Thuận Thiên đang có thai 3 tháng. Trần Thủ Độ liền ép bà Thuận Thiên phải làm vợ của vua Trần Thái Tông, tức ép vua phải lấy chị dâu đang mang thai. Sự việc này khiến nhà vua và anh mình là Trần Liễu đều phản đối kịch liệt không tuân thủ theo.

Nửa đêm Trần Thái Tông cùng hai cận thần trốn nên núi Yên Tử, gặp Quốc sư Phù Vân là bạn của mình, ngỏ ý muốn nương nhờ cửa Phật. Quốc sư trả lời rằng: “Trên núi không có Phật, mà Phật ở ngay trong tâm ta”.

Lúc này Trần Thủ Độ dẫn quân tìm vua và cuối cùng gặp được nhà vua trên núi Yên Tử. Thấy nhà vua nhất quyết không chịu trở về cung, Trần Thủ Độ nói rằng: “Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó”, rồi ra lệnh xây ngay cung điện trên núi Yên Tử. Quốc sư Phù Vân phải khuyên vua trở lại kinh thành và Trần Thái Tông đành đồng ý.

Trần Liễu uất ức vì bị mất vợ, nhân lúc Trần Thủ Độ dẫn quân đi tìm vua liền đem quân của mình đến đánh chiếm kinh thành. Thế nhưng Trần Thủ Độ vốn có rất nhiều kinh nghiệm, nên khi dẫn quân đi tìm vua đã đề phòng có biến, dặn dò sắp đặt trước mọi việc cho các tướng lĩnh giữ thành. Vì thế quân Trần Liễu chưa kịp tới kinh thành thì đã bị bao vây.

Không đủ sức chống lại quân triều đình, Trần Liễu bỏ chạy. Biết rằng khó thoát tội chết, lại nghĩ rằng bây giờ chỉ có em mình là vua Trần Thái Tông mới cứu được mình, liền hẹn vua ở sông Cái, rồi đem thân đầu hàng. Tới khi gặp Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông đem thân mình che chở bảo vệ cho anh khiến Trần Thủ Độ không làm gì được.

Trần Liễu hẹn em mình là vua Trần Thái Tông ở sông Cái để đầu hàng.

Trần Thủ Độ tức lắm ném gươm xuống sông và nói: “Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?”. (Xem bài: Diễn Giải Chi Tiết Về Cuộc Đời, Hành Vi Của Trần Thủ Độ Qua Tuổi Thơ Và Lá Số Tử Vi)

Trần Liễu được tha nhưng quân tướng đi theo ông thì bị xử tội chết hết cả. Thân tín của ông là Trần Hiến đem toàn quân của phủ An Sinh Vương tiến đánh phủ Thái sư Trần Thủ Độ cũng thất bại. Hai vợ chồng Trần Hiến cùng toàn bộ binh tướng của An Sinh Vương Trần Liễu đều bị xử chém.

► Xem thêm: Phong Thủy Trong Câu Chuyện Thay Triều Đổi Đại Từ Nhà Lý Sang Nhà Trần

Đội quân tinh nhuệ bậc nhất lịch sử cùng lời trăn trối

Chỉ một mình An Sinh Vương Trần Liễu thoát chết, còn tất cả những ai theo ông đều chết cả, vì thế ông rất yêu thương con cái của những thuộc tướng trung thành với mình. Ông đưa con trai và con gái của Trần Hiến là Trần Tử Đức và Trần Ý Ninh về Ngũ Yên nuôi nấng, yêu thương chăm sóc như con đẻ, con cái của những người khác cũng được ông xem như người một nhà.

Nhận thấy cuộc binh biến của mình thất bại phần lớn là do quân không tinh nhuệ bằng cấm quân của triều đình và quân của Trần Thủ Độ, nên Trần Liễu đã tìm những người giỏi võ công nhất truyền lại cho con cái những người từng theo mình, lập thành một đội gia binh, nhưng thực chất là đội quân thiện chiến, đặt tên là Ngũ Yên. Ông đặc biệt chú ý tới những đứa trẻ con cái của những thuộc tướng trung thành đã vì mình mà mất.

Với ý định phục thù, Trần Liễu đã xây dựng đội quân Ngũ Yên ngày càng hùng mạnh, hầu hết đều được học võ từ tấm bé đến tận khi trưởng thành, võ công nhiều người đều ở mức thượng thừa.

Đội quân Ngũ Yên nhiều người được dạy võ từ nhỏ đến lớn nên rất tinh nhuệ.

Trần Liễu từ sớm cũng cho con trai của mình là Trần Quốc Tuấn đến kinh thành Thăng Long ăn học ở nhà em gái là Thụy Bà công chúa, tìm thầy giỏi về dạy học cho Trần Quốc Tuấn. Ngay từ thời trẻ, Trần Quốc Tuấn đã giỏi võ và thông thạo binh pháp. Trần Liễu hy vọng rằng Trần Quốc Tuấn có trong tay đội quân tinh nhuệ Ngũ Yên sẽ phục thù được cho mình.

Theo một số ghi chép trong sử Việt, thì chưa có một đội quân nào được tinh nhuệ như quân Ngũ Yên. Chỉ huy đội quân này là Trần Tử Đức cùng em gái là Trấn Y Ninh và vợ là Bùi Thiệu Hoa cùng các tướng lĩnh khác. Họ đều là những tướng vô cùng thiện chiến, cũng là những dũng tướng đóng góp cực lớn cho cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất

Năm 1251 An Sinh Vương Trần Liễu qua đời, đã trăn trối với Trần Quốc Tuấn rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Những tranh cãi về vị trí Tiết chế – Tổng chỉ huy quân đội

Khi quân Mông Cổ chiếm được Đại Lý, chuẩn bị đưa quân tiến đánh Đại Việt, thì triều đình nhà Trần cũng sôi động bàn kế chuẩn bị đối đầu với đội quân hiếu chiến bậc nhất này. Nhiều tướng quân đề xuất với vua Trấn Thái Tông cần phải có một người giữ chức Tiết chế, để chỉ huy toàn quân đối phó với giặc, mà chức Tiết chế hiện chưa có ai đảm nhiệm.

Qua các phiên thiết triều, các tướng đều thấy rằng vị trí Tiết chế này chỉ có Trần Quốc Tuấn là người xứng đáng đảm đương nhất, vì thế nhiều tướng đề cử Trần Quốc Tuấn vào vị trí này. Tuy nhiên người nắm giữ quân đội và cũng là người có thực quyền lớn nhất trong triều là thái sư Trần Thủ Độ đã không đồng ý.

Trần Thủ Độ lo lắng rằng Trần Quốc Tuấn thực hiện lời trăn trối của cha, nếu nay giữ chức Tiết chế binh mã thì sẽ nhân cơ hội cướp ngôi vua, vì thế mà ông ta cùng các tùy tướng không đồng ý.

Cuối cùng, trong một phiên thiết triều, trước yêu cầu của tướng lĩnh, vua Trần Thái Tông đã phải đồng ý phong Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế. Tuy nhiên vua chỉ tuyên bố, nhưng chưa ban chiếu chỉ cũng như kiếm báu Tiết chế.

Tượng Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở Nam Định.

Bên cạnh đó, bởi vì trong lịch sử không hề có ghi nhận Trần Quốc Tuấn chỉ huy bất kỳ một trận đánh nào trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, nên các nghiên cứu lịch sử cho rằng vào cuộc chiến này, Trần Quốc Tuấn còn là tướng trẻ, chỉ tham gia cuộc chiến chứ không trực tiếp cầm quân.

Thực ra, Trần Quốc Tuấn đúng là đã lĩnh chức Tiết chế. Đại Việt Sử Ký Toàn thư chỉ có một chi tiết ghi chép rằng: “Tháng 9 (năm 1257), xuống chiếu, lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn”.

Lúc đầu, quả thật chức Tiết chế chỉ là trang trí cho đẹp

Tại sao lúc đó Trần Quốc Tuấn vẫn nhận được chức Tiết chế trong khi không có thực quyền? Đó không chỉ là để đối phó với sự yêu cầu của tướng lĩnh. Trong cuốn “Đông A di sự” có ghi chép câu chuyện về Vũ Thành Vương đã tiết lộ điều này.

Trước khi bà Thuận Thiên bị ép gả cho vua Trần Thái Tông, thì đã có người con với Trần Liễu là Trần Doãn, sau được phong là Vũ Thành Vương, là em cùng cha khác mẹ với Trần Quốc Tuấn.

Năm 1248, Thuận Thiên hoàng hậu mất. Năm 1251, Trần Liễu cũng qua đời. Cảm thấy không còn cha mẹ nương tựa và thất thế, Vũ Thành Vương đem gia tộc hơn 1.000 người trốn sang nước Tống, nhưng bị người Tống bắt đem trả lại cho Đại Việt.

Nhà vua hỏi Vũ Thành Vương rằng:

– Người là con của Hiển Từ thái hậu sinh ra, tước phong tới vương, được trong đãi, thế sao lại bỏ nươc trốn đi?

– Bỏ nước, bỏ mồ mả tổ tiên, bỏ quê hương, bỏ người thân, lưu lạc xứ người, hỏi mấy ai muốn? Từ khi phụ vương băng, anh em thần gạt bỏ hết những thù hận từ tiên vương, để trung thành, bảo vệ vương triều. Nhưng anh em thần vẫn bị nghi ngờ. Từ xưa đến giờ, phàm vua nghi ngờ bầy tôi thì có hai việc xảy ra. Một là bầy tôi sẽ bị giết, hoặc bầy tôi làm loạn để tự tồn. Thần không đủ can đảm phản bệ hạ, nên phải trốn đi.

– Ta nghi ngờ người? Người bịa đặt ra như vậy sao?

– Bệ hạ thử đặt mình vào hoàn cảnh anh em thần thì thấy ngay. Buổi thiết đại triều trước đây đã nghị trao cho Hưng Đạo Vương làm Tiết chế quân mã. Thế nhưng từ hồi ấy đến giờ chiếu chỉ vẫn chưa ban ra. Bệ hạ phong cho Hưng Đạo Vương lĩnh Tiết chế. Cái danh Tiết chế chỉ để trang trí cho đẹp. Quyền của Tiết chế ra sao? Bốn hạm đội, hiệu Kỵ binh, hiệu Ngưu binh, ba hiệu bộ binh của Ngũ Yên sẵn sàng cho triều đình sử dụng. Còn quân của triều đình thì vẫn có Phụ quốc thái úy chỉ huy. Trên Phụ quốc thái úy còn Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sứ. Thì ra Hưng Đạo Vương lĩnh chức Tiết chế để đem lực lượng Ngũ Yên trao cho triều đình.

Vương khẳng khái nói lớn:

– Triều Lý đã có Kiến Hải Vương Lý Dương Côn chạy sang Cao Ly; Lạng Châu Công Lý Long Phi chạy sang Mông Cổ; Phò mã Thủ Huy, công chúa Đoan Nghi chạy sang Mông Cổ; gần đây Kiến Bình Vương Lý Long Tường cũng ra đi. Tất cả những vị đó đều bị oan khuất, các người không muốn chống lại triều đình, muốn ẩn thân cho toàn tính mạng, mà thấy không yên… Nên phải xuất ngoại. Nay thêm thần, thì cũng là sự thường.

Trần Thủ Độ muốn xử tội, nhưng vua Trần Thái Tông tìm cách tha cho Vũ Thành Vương. Từ câu đối đáp của Vũ Thành Vương cho thấy rằng triều đình phong cho Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế được lợi lớn vì tiếp quản và sử dụng đội quân tinh nhuệ Ngũ Yên, nhưng người nắm trong tay toàn quân đội nhà Trần vẫn là Thái sư Trần Thủ Độ, chức Tiết chế của Trần Quốc Tuấn chỉ là “trang trí cho đẹp”. Và vua Trần Thái Tông vẫn chưa ban chiếu chỉ hay trao kiếm báu Tiết chế.

Lúc đầu, chức Tiết chế đúng là chỉ để trang trí cho đẹp. Nhưng những sự việc diễn ra sau đó mới là điều không được ghi chép lại trong chính sử.

Trả lại năm sinh cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Nguy cơ cận kề

Năm 1257, tin tức về đại quân Mông Cổ đang chuẩn bị các bước tiến đánh Đại Việt dồn dập báo về, cả nước đang chuẩn bị chống lại đội quân hiếu chiến nhất lịch sử. Nhưng trong triều đình, chức Tiết chế vẫn chưa có ai nắm, Trần Quốc Tuấn dù được chỉ định nhưng nhà vua do dự chưa ban chiếu chỉ. Trong Hoàng thân nhiều người còn nghi ngại Trần Quốc Tuấn có thể theo lời trăng trối của cha mà nổi cuộc binh biến cướp ngôi.

Tháng 8 năm 1257, thủ lĩnh đạo dân binh, trấn thủ biên giới là Hà Khuất khẩn cấp báo tin tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hơp Thai dàn đại quân ở biên giới, uy hiếp, đe dọa, sai sứ giả đến chiêu hàng.

Vó ngựa quân Mông Cổ gieo rắc kinh hoàng khắp thế giới.

Trong cuộc thiết triều, tướng quân Lê Tần dẫn đầu một số tướng lĩnh muốn Trần Quốc Tuấn lĩnh ấn Tiết chế, nhưng một số Hoàng thân bị ám ảnh bởi lời di chúc thì muốn Thái sư Trần Thủ Độ lĩnh ấn tiết chế. Vua Trần Thái Tông hiểu rằng nếu để Trần Thủ Độ hay bất kỳ ai khác lĩnh ấn Tiết chế thì chỉ có thể điều được quân triều đình, còn lực lượng Ngũ Yên hữu dụng và tinh nhuệ bậc nhất thì không thể nắm trọn. Hơn nữa, dưới áp lực của thái sư Trần Thủ Độ, vua chưa biết phải giải quyết ra sao.

Lá số thánh nhân

Cuốn “Đông A di sự” có ghi chép, bấy giờ Huệ Túc Phu Nhân mở lời nói rằng có thể xem lá số tử vi cho Trần Quốc Tuấn.

Đến đây cần nói rõ một điều, trong chính sử không ghi chép ngày sinh của Trần Quốc Tuấn. Nhà tử vi lừng danh là cụ Thiên Lương dựa vào các dữ kiện để đoán ngày sinh của Trần Quốc Tuấn là giờ Ngọ ngày 30 tháng Chạp năm Mậu Tý (1228) khiến nhiều người mến mộ tử vi tin theo. Tuy nhiên cuốn “Đông A di sự” – cuốn sách của người triều Trần viết ra – đã ghi chép rằng vua Trần Thái Tông nói, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh giờ Mùi, ngày 1 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1232).

Trước đây mỗi khi xem tử vi cho ai, Huệ Túc Phu Nhân chỉ cần bấm ngón tay là nói rõ số mệnh rồi. Nhưng lần này liên quan đến vận mệnh giang sơn xã tắc nên Huệ Túc Phu Nhân rất cẩn thận cầm bút chấm lá số rất chi tiết.

Rồi Huệ Túc Phu Nhân nói với vua rằng:

Tuổi Nhâm Thìn thuộc mệnh thủy, cung mệnh lại nằm ở Hợi cũng là hành thủy, nơi lập mệnh là nơi chỗ đứng con người, cùng là hành thủy nên cuộc đời lúc nào cũng được thuận tiện.

Cục là bước đi dài ngắn khác nhau, lá số này thuộc kim cục, mà kim sinh thủy, nên cục sinh mệnh lại đồng thời cũng sinh ra hành của cung mệnh, thì từ bản chất, tới chỗ đứng, được bước đi sinh ra. Như vậy không bao giờ thất bại, cũng không bao giờ chết bất đắc kỳ tử. Nếu trao bình quyền cho người này thì chỉ có thắng hoặc hòa chứ không bao giờ bại.

Lời của Huệ Túc Phu Nhân khiến nhà vua thở dài nhẹ nhõm, trút bớt được gánh nặng. Huệ Túc Phu Nhân nói tiếp:

Tử vi, Thất sát thủ mệnh, được Hóa quyền, Văn khúc, Trường sinh phù tá thì đây là số của một bậc tể thần, làm lên sự nghiệp vang lừng khắp hoàn vũ, muôn dân trông chờ, nghìn vạn năm sau còn tôn kính. Nói khác đi, mệnh của vương là mệnh của bậc thánh nhân. Như vậy thì bệ hạ còn trì nghi gì nữa mà không ban chỉ trao quyền Tiết chế cho vương, để vương kịp thời chuẩn bị phá giặc.

Thủy binh Mông Cổ.

Thấy nhà vua vẫn chưa hết lo lắng, Huệ Túc Phu Nhân nói tiếp điểm then chốt:

Bệ hạ sợ trao binh quyền cho vương, rồi vương cướp ngôi vua ư? Nhất định không có. Nếu như vương cướp ngôi, thì muôn nghìn năm sau, sử xanh còn chép vương là một gian thần tặc tử. Trong khi số của vương là số đại anh hùng, đại thánh nhân… Thì nhất định không có việc vương cướp ngôi rồi.

Vì sao thái sư Trần Thủ Độ đành chịu?

Ít ai biết rằng, trước buổi thiết triều một ngày, Huệ Túc Phu Nhân đã trao một tờ “hoa tiên” cho Trần Thủ Độ rồi nói rằng: “Tôi mới làm một bài thơ mừng tuổi thọ của Thượng phụ. Rất mong Thượng phụ thu nhận.”

Trần Thủ Độ nhận “hoa tiên”, khi rời khỏi hoàng thành mới mở ra đọc, trong đó viết: “Trước thượng phụ thua cuộc, có hứa làm theo tôi ba việc. Việc thứ nhất là cho gia đình tôi kiều ngụ ở Đại Việt. Bây giờ tôi xin yêu cầu điều thứ nhì, mong thượng phụ thực hiện. Đó là: Mai này hoàng thượng chỉ định ai lĩnh chức Tiết chế thống quốc binh sự, xin thái sư đừng cản trở”. (Xem phần Huệ Túc Phu Nhân Là Ai? Và Câu Chuyện Bà Giúp Trần Quốc Tuấn Giữ Chức Quốc Công Tiết Chế Đánh Bại 50 Vạn Quân Nguyên Mông)

Hoàng Chu Linh (tức Huệ Túc Chu Linh).

Vào buổi thiết triều, Thái sư Trần Thủ Độ hiến kế là nên dàn quân chuẩn bị trước, rồi cho gọt tóc sứ giả nhằm hạ nhục Mông Cổ. Ngột Lương Hợp Thai bị hạ nhục như thế sẽ uất lên mà đem quân đánh gấp. Phàm khi ra quân mà tướng cáu giận dễ ra các quyết định lầm lẫn mà bị đánh bại.

Tướng quân Lê Tần nhắc lại ý cần phải cử một vị là Tiết chế quân mã, nhiều người tán thành.

Vua Trần Thái Tông nhìn mọi người một lượt rồi nói: “Suốt mấy ngày qua, trẫm đã suy nghĩ kỹ. Lại xét số Tử vi, khấn các vị tiên hiền Đại Việt phù hộ. Nay trẫm quyết định.”

Gần hai trăm người thiết triều ai cũng hồi hộp, không một tiếng động, nhà vua bước đến bên trao thanh bảo kiếm cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, rồi tuyên bố:

Kể từ lúc này, Hưng Đạo vương là Tiết chế toàn bộ binh mã Đại Việt. Khi mang thanh kiếm này thì vương là trẫm. Mọi mệnh lệnh vương ban ra là lệnh của trẫm.

Nhiều người nhẹ nhõm hân hoan. Trần Thủ Độ cùng một số Hoàng thân cau mặt, nhưng cũng không biết phải làm sao vì Huệ Túc Phu Nhân đã dặn trước Trần Thủ Độ phải thực hiện lời hứa thứ hai, là khi hoàng thượng tuyên bố ai giữ chức Tiết chế thì không được cản trở.

Nhớ lại lúc Huệ Túc Phu Nhân đánh cuộc tử vi với mình, Trần Thủ Độ cũng hiểu bà là người tài giỏi, lại nói được cả những uẩn khúc cá nhân của cuộc đời mình, nên Trần Thủ Độ cũng an tâm, cho rằng Huệ Túc Phu Nhân sẽ không nhầm lẫn. Hơn nữa, việc đề phòng binh biến nếu Trần Hưng Đạo thực hiện di chúc của cha thì Trần Thủ Độ cũng có chuẩn bị.

Tiết chế đưa ra kế sách chống giặc

Hôm sau, tại buổi nghị triều tại điện Uy Viễn diễn ra vào tháng 8 năm 1257 (âm lịch), các tướng cùng bàn kế chống quân Mông Cổ, mọi người đều mong ngóng Tiết chế đưa ra kế sách. Hưng Đạo Vương năm ấy mới 25 tuổi, hướng vào triều thần nêu cách chống giặc của mình:

Phàm ra quân, phải sử dụng ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. May mắn thay nhân hòa ta đã đạt được từ lâu rồi. Hiện cả nước đang chờ phá giặc.

Thứ nhì là thiên thời. Nếu bây giờ ta sai cắt mũi 3 tên bồi sứ họ Trịnh, rồi thả về (tức đây là cách hạ nhục Sứ giả Mông Cổ) như thái sư bàn hôm trước, dĩ nhiên ta chọc cho Ngột Lương Hợp Thai nổi giận, đến mất bình tĩnh. Y sẽ xua quân tràn vào đánh ta trong tháng 9. Thế nhưng, khí hậu tháng 9 đến tháng Chạp là mùa lạnh. Thiên thời đối với quân ta thực bất lợi. Vì quân ta chịu lạnh dở. Ngược lại, khí hậu này lợi cho quân Mông Cổ, vì chúng sống ở vùng thảo nguyên, khí hậu lạnh cắt da, xé thịt. Khí hậu của ta đối với chúng là khí hậu mát mẻ, người ngựa của chúng sẽ cảm thấy dễ chịu.

Triều thần nghe đến đây ai cũng thấy điều này rất hợp lý, kể cả vua Trần Thái Tông và thái sư Trần Thủ Độ. Trần Hưng Đạo tiếp lời:

Vậy ta cứ giữ bí mật việc tống giam sứ, để Ngột Lương Hợp Thai mỏi mắt chờ. Hết tháng 9 không thấy sứ về, y lại sai sứ sang nữa. Ta cũng bắt giam. Sang tháng 10 không thấy sứ về, y có thể sai sứ sang nữa. Ta lại bắt giam. Như vậy y có xuất quân cũng phải sang cuối tháng Chạp. Ta chỉ cần cầm cự vài tháng, khí hậu trở thành ấm áp với ta, trở thành ôn nhiệt với Mông Cổ. Thế là ta đạt được thiên thời.

Về địa lợi. Ưu điểm của giặc là kỵ binh xung trận, là phá thành. Vậy ta không thủ thành, cũng chẳng dàn quân. Ta cần dụ cho giặc vào sâu trong nước. Trước hết, triều đình cần rời khỏi Thăng Long, ẩn vào sống với dân. Mỗi bộ ẩn vào một thôn xã khác nhau, luôn di chuyển, để giặc không biết tung tích. Ta dùng chim ưng liên lạc với nhau. Gia đình các đại thần, các võ tướng, ai ở đâu, thì đưa về quê mình sống với dân chúng. Như thế các quan yên tâm phá giặc, không phải vướng vít thê nhi.

Đến đây các triều thần đều đồng tình với kế sách của Hưng Đạo Vương, kể cả những ai trước đây vốn không đồng tình để ông giữ chức Tiết chế.

Thế nhưng nhằm đề phòng Hưng Đạo Vương có thể tạo biến theo di chúc của cha, thái sư Trần Thủ Độ tìm cách chỉ để cho Hưng Đạo Vương tiết chế ba quân chống giặc, thực hiện theo đúng kế sách của ông, nhưng lại ngăn không cho Hưng Đạo Vương trực tiếp chỉ huy quân xung trận.

Vì thế trong cuộc chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất, Hưng Đạo Vương đề ra toàn bộ kế sách chống giặc, trao binh phù cắt cử các tướng đi trấn giữ các nơi, nhưng bản thân ông lại không trực tiếp chỉ huy cánh quân nào cả.

Diệu toán

Những diễn biến trong cuộc chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất cũng cho thấy, mọi việc đều theo đúng kế hoạch của Hưng Đạo Vương.

Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” dẫn tham khảo từ sách “Nguyên sử loại biên” và sách “Cương mục tục biên” của Trung Quốc chép rằng:

Năm 1257, Ngột Lương Hợp Thai đã bình được nước Đại Lý, kéo quân sang nước ta, ba lần sai sứ đến dụ nhà vua đầu hàng, đều không thấy sứ thần trở về, bấy giờ mới chia đường tiến quân, nhân thế thắng, kéo vào đô thành nước ta, khi vào, thấy ba người sứ sai sang trước còn bị giam ở trong ngục.

Các nghiên cứ cũng cho rằng sứ giả quân Mông Cổ hống hách ngang tàng nên bị vua Trần bắt giam lại, thể hiện nhà Trần không sợ Mông Cổ mà sẵn sàng chuẩn bị cuộc chiến giữ nước. Nhưng thực ra đó không phải là hành động nhất thời mà toàn bộ đều nằm trong kế hoạch tính toán cẩn thận trước đó của Hưng Đạo Vương để đạt được thiên thời.

Khi quân Mông Cổ tiến sang, quân nhà Trần tập trung đông ở Bình Lệ Nguyên (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) chặn giặc, quân nhà Trần có vua Trần Thái Tông cùng tướng quân Lê Tần chỉ huy. Việc tập trung quân tại Bình Lệ Nguyên là theo kế hoạch của Hưng Đạo Vương, theo kế hoạch này quân Đại Việt sẽ đánh một trận nhằm tiêu hao bớt sinh lực và nhuệ khí quân Mông Cổ rồi rút lui nhằm dụ quân Mông Cổ tiến sâu.

Tuy nhiên vua Trần Thái Tông cùng toàn quân rất hăng hái đánh đến cùng, dù ưu thế đang nghiêng dần về phía quân Mông Cổ. Tướng quân Lê Tần có công lớn hộ giá nhà vua, đồng thời nhắc nhở nhà vua cần lên thuyền rút đi: “Nếu bây giờ bệ hạ làm như thế, thì chỉ như người dốc hết túi tiền để đánh nốt tiếng bạc mà thôi. Tôi tưởng hãy nên lánh đi, không nên khinh thường mà nghe người ta được.” (theo Cương Mục)

Vua Trần quyết định lên thuyền rút lui để bảo toàn lực lượng.

Thực chất, việc tránh thế giặc mạnh, tạm thời rút đi đợi sau này phản công chính là tiếp tục kế sách của Hưng Đạo Vương để đạt được địa lợi. Tướng Lê Tần chỉ là nhắc nhở vua về kế sách của Hưng Đạo Vương. Chính nhờ công lao này mà sau chiến thắng, Lê Tần được đổi tên thành Lê Phụ Trần – tức họ Lê mà có công với nhà Trần.

Sự trung thành của đội quân Ngũ Yên

Quân Mông Cổ đuổi theo vua Trần và chạm trán với quân Ngũ Yên ở Phù Lỗ. Nơi đây Trần Tử Đức cùng vợ là Bùi Thiệu Hoa và em gái là Trần Ý Ninh chỉ huy quân Ngũ Yên chặn quân Mông Cổ tiến vào thành Thăng Long, để cho quân chủ lực và dân chúng trong kinh thành có thời gian di tản.

Sốt ruột vì lo vua Trần chạy thoát, Ngột Lương Hợp Thai dốc toàn quân tấn công, nhưng đội quân Ngũ Yên vẫn vững vàng đẩy lui quân Mông Cổ. Đội quân từng tung hoành ngang dọc từ Á sang Âu, gây kinh hoàng khắp nơi, nhưng bị bất lực hoàn toàn trước quân Ngũ Yên.

Bản đồ cuộc chiến giữa Đại Việt và Mông Cổ lấn 1.

Sau hơn 10 ngày chặn được giặc, Trần Tử Đức cho vợ cùng em gái đem theo đa phần quân sĩ rút, còn mình thì ở lại chặn giặc. Nhận thấy quân Mông Cổ đã tràn ngập khắp cả chiến lũy, ông đã tuẫn quốc[1] khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Phu nhân Bùi Thiệu Hoa sau khi rút lui thì được tin chồng đã tuẫn quốc thì đã làm lế tế chồng, rồi tự tử chết theo phu quân.

Thánh nhân bất bại

Trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, quân Đại Việt đều thực hiện theo đúng kế hoạch của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Có thể nói rằng người có công lao lớn nhất giúp Đại Việt đánh tan đội quân mạnh nhất thế giới bấy giờ chính là Trần Quốc Tuấn.

Năm 1264, thái sư Trần Thủ Độ qua đời. Năm 1283 quân Mông Cổ đe dọa lần thứ 2 tiến đánh Đại Việt. Lúc này sự trung thành của Hưng Đạo Vương cùng đội quân Ngũ Yên với giang sơn xã tắc và triều đình đã khiến mọi người đều tin tưởng. Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông phong Hưng Đạo Vương làm Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội cả nước.

Trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ 2 năm 1285 và lần thứ 3 (năm 1287-1288), mỗi lần Mông Cổ đều đưa 50 vạn quân sang. Như vậy trong 3 năm, Đại Việt phải đối mặt với 100 vạn đội quân tinh huệ và hiếu chiến nhất thế giới lúc bấy giờ.

Thánh nhân bất bại Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Hưng Đạo Vương nhiều lần nghe nhắc nhở về lời trăng trối của cha khi xưa, nhưng ông bỏ ngoài tai hết. Trong hoàn cảnh đất nước rơi vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc, ông luôn đặt giang sơn và dân tộc lên trên hết, lần lượt đánh tan đội quân Mông Cổ hùng mạnh.

Đúng như lời Huệ Túc Phu Nhân nói khi chấm lá số của ông:

“Đây là số của một bậc tể thần, làm lên sự nghiệp vang lừng khắp hoàn vũ, muôn dân trông chờ, nghìn vạn năm sau còn tôn kính. Nói khác đi, mệnh của vương là mệnh của bậc thánh nhân.”

Và bậc thánh nhân bất bại ấy chính là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Chú giải:


[1] Tuẫn Quốc: Vì đất nước mà chết, chết vì nước.

 

Nguồn tham khảo

Trithucvn: 1 & 2

Quan tâm  
6

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Bài viết cùng chuyên mục

 
10 Nghệ Thuật Từ Chối Khéo Léo Khiến Người Nghe Dịu Lòng Và Bản Thân Bạn Không Cảm Thấy Bứt Rứt Áy Náy
Khi bạn gặp một lời đệ nghị từ người khác mà bản thân không muốn thì phải làm cách nào để từ chối mà họ không giận hờn và bản thân không cảm thấy áy náy đây? Dưới đây là bí kíp dành cho bạn với...
Nỗi Lòng Bồ Đề Sư Tổ
Danh sư ắt xuất cao đồ. Thầy giỏi thì đồ đệ sẽ giỏi giang. Nhưng giỏi giang phải trong khuôn khổ, kỷ luật, để thầy còn ngẩng mặt tự hào khi chúng ta thành công và thành nhân. Chưa có ông thầy nào trên đời mong học trò mình thất...
Hãy Vẽ Người Thân Nhất Của Em
Tuyển tập 30+ hình ảnh ngộ nghĩnh về nhiều đề tài giúp bạn thư giãn sau những phút giây căng thẳng.
Chuyện Ở Quán Phở Trưa
Tony sáng nay có việc lên Sài Gòn gặp khách ở khu Nguyễn Huệ quận 1, xong cái đi bộ qua đường để ăn trưa. Tới quán phở 24 thì thấy có 2 mẹ con người bán vé số đang nhìn vô quán. Người mẹ khoảng 3 chục nhưng trông hốc hác, còn con...
12 Năm Đứng Top Đầu Trong Trường Cho Tới Khi Ra Đời Không Bằng Cậu Bạn Cá Biệt Học Cùng Lớp
Có rất nhiều con đường để đi đến thành công điều quan trọng là bạn định hướng thế nào và thực hiện ra sao? Bài viết này là một tâm sự của một bạn trẻ khi mà 12 năm học lúc nào cũng đứng trong top đầu,...
Lợn Đi Chợ: Than Thân Và Trách Phận Không Bao Giờ Thay Đổi Được Thời Cuộc
Khi tai hoạ tới, sợ hãi và than thân trách phận cũng không thể thay đổi được thực tế. Cách tốt nhất là cố gắng thay đổi vận mệnh của mình ngay từ đầu. Câu chuyện Lợn Đi Chợ hôm nay sẽ giúp bạn hiểu hơn về dụng ý này.
13 Danh Ngôn Cực Hay Đập Thẳng Vào Mặt Người Có Tính Cố Chấp Và Bảo Thủ
Bạn có phải là người mang tính cố chấp và bảo thủ? Nếu có hãy sửa ngay đi bạn nhé bởi vì một trí óc bảo thủ là một trí óc đang chết dần.Và cơ hội tốt không bao giờ đến với người bảo thủ đâu. Hãy nhớ...
Truyền Thuyết Về Miếu Bà Trên Côn Đảo
Có câu ca "Gió đưa cây Cải về trời, rau Răm ở lại chịu lời đắng cay". Vậy nguyên nhân ra đời của câu ca này như thế nào? Nó được cho là gắn với truyền thuyết về một ngôi miếu linh thiêng trên côn đảo: Miếu Bà hay còn gọi là...
Tích Xưa Chuyện Cũ: Chưa Đỗ Ông Nghè Đã Đe Hàng Tổng
Hẳn bạn đã nghe qua câu thành ngữ "chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng". Bạn hiểu rõ ý nghĩa của nó chứ? Tích xưa chuyện cũ về sự ra đời của câu thành ngữ này thế nào? Câu chuyện sau sẽ giúp bạn tỏ tường.
Trí và Dũng Của Các Bậc Thông Tuệ
Gặp biến không loạn, gặp nghịch cảnh không chút dao động, được lợi không quá vui, bị mất không quá buồn ấy là cái trí và dũng của những bậc thông tuệ, như 2 câu thơ của Tô Đông Pha "Mạc thính xuyên lâm đả diệp thanh, hà phướng...