Chủ nhật, 22/04/2018 1:56 AM

Nữ Quyền Trong Xã Hội Phong Kiến: Người Phụ Nữ Bị Chà Đạp Và Bị Buôn Bán Như Súc Vật?

Thứ ba, 26/12/2017 8:19 AM

Ta thường nghe nói việc "trọng nam kinh nữ" trong xã hội phong kiến khiến người phụ nữ khổ cực muôn phần, bị đàn áp, bị sỉ nhục, bị mua bán như súc vật, bị xã hội coi thường, bị chính người chồng của mình ngược đãi...Điều đó đúng chăng?

Trong thời quân chủ: Quyền của người phụ nữ không hề bị xem nhẹ.

Trong xã hội quân chủ Việt Nam, nữ quyền thể hiện rõ nhất ở hai phương diện: luật sở hữu và thừa kế tài sản; cùng luật hôn nhân. Một cách tổng quát, người phụ nữ Việt từ thế kỷ 15 đã có quyền tư hữu ngang hàng với chồng, giữ vai trò quan trọng trong gia đình và ngoài xã hội, được bảo vệ trong hôn nhân.

Nữ quyền trong vấn đề sở hữu và thừa kế tài sản

Luật thời quân chủ đối xử rất công bằng đối với việc sở hữu tài sản, không phân biệt nam nữ. Mặc dù không có thống kê đầy đủ, song những ghi chép trong địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng để lại đã phản ánh rõ và củng cố thêm những quy định mà trước đó, trong luật pháp Lê triều đã ban hành.

Ví dụ như các tác giả Nguyễn Cảnh Minh và Đào Tố Uyên khi nghiên cứu về tình hình ruộng đất ở ấp Thủ Trung (Kim Sơn, Ninh Bình) trong thế kỷ 19 đã cho biết, địa phương này có 2 chủ sở hữu nữ đó là: Phạm Thị Kiêu sở hữu 1 mẫu đất ở và 5 sào ruộng, còn Phạm Thị Lưỡng sở hữu 5 sào đất ở và 8 mẫu, 5 sào ruộng.

Trong một nghiên cứu khác của tác giả Kim Jong Ouk về tình hình sở hữu ruộng đất ở làng Mễ Trì (Từ Liêm, Hà Nội) trước năm 1945 cho thấy: Chủ sở hữu là phụ nữ ở làng Mễ Trì có 198 người, chiếm 85 mẫu, 9 sào (60,5%), trong đó số phụ nữ ở nơi khác đến Mễ Trì xâm canh và cũng được thừa nhận quyền sở hữu là 14 người, chiếm 48 mẫu (33,8%).

Kẻ phạm tội bị phạt đánh roi.

Pháp luật cũng phân xử công minh tài sản của vợ hoặc chồng, khi một trong hai người không còn sống với nhau (có thể đã mất hoặc chia tay nhau). Điều 1 và 2 của luật nhà Lê có ghi:

Điều 1: "Chồng cùng vợ trước có con, vợ sau không có con, hay vợ cùng chồng trước có con, chồng sau không có con, mà chồng chết trước, không có chúc thư, thì điền sản thuộc về con vợ trước, hay con chồng trước; Nếu vợ sau, chồng sau không chia đúng phép thì bị xử phạt 50 roi, biếm một tư” .

Điều 2: “Vợ chồng không có con, hoặc ai chết trước, không có chúc thư, mà điền sản chia về chồng hay vợ, cùng là để về việc tế tự không đúng phép, thì xử phạt 50 roi, biếm một tư. Người trong họ không được giữ phần điền sản về việc tế tự ấy nữa”.

Về việc thờ tự và giữ hương hỏa, luật pháp Việt Nam thời quân chủ cũng quy định rõ: “Người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng, ruộng đất hương hỏa thì cho lấy một phần hai mươi” (Điều 4, bổ sung luật hương hỏa), và: “Cha mẹ sinh được hai con trai, người con trai trưởng chỉ sinh con gái, con thứ lại có con trai, thì phần hương hỏa giao cho con trai của người con thứ; Nhưng con trai người con thứ chỉ sinh cháu gái, thì phần hương hỏa trước kia lại phải trao trả cho con gái người con trưởng” (Điều 4, châm trước bổ sung về luật hương hỏa).

Có thể nói rằng, trước pháp luật thời quân chủ, phụ nữ Việt thời xưa không hề thua kém gì thời nay.

Nữ quyền trong vấn đề hôn nhân

Khi nhìn nhận về vấn đề hôn nhân thời quân chủ, thường có một số ý kiến cho rằng nữ quyền bị chà đạp với những khái niệm như “trọng nam khinh nữ” hay “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Tuy nhiên, nhìn lại luật pháp Việt Nam thời bấy giờ, điều này có thật sự chuẩn xác?

Điều đầu tiên trong hôn nhân là sự tự nguyện tự do của hai bên, không bị lừa gạt trong mọi hoàn cảnh. Ví dụ như luật nhà Nguyễn có ghi: “Trường hợp đôi trai gái bị chủ hôn dùng uy quyền bức bách, sự việc không do mình làm chủ, nếu con trai từ 20 tuổi trở xuống, con gái còn ở nhà với cha mẹ (tuy không phải là dùng uy quyền bức bách), thì cũng chỉ bắt tội một mình chủ hôn, đôi trai gái đều không bị bắt tội”.

Thậm chí đối với trường hợp lừa gạt trong hôn nhân thì luật cũng quy định rõ: “Nếu trong việc cưới gả bên họ nhà gái lừa gạt, thì người chủ hôn bị xử phạt 80 trượng (chẳng hạn như người con gái bị tàn tật mà lại đưa chị em gái ra thay mạo nhận là cô dâu để gặp mặt, đến khi làm lễ thành hôn mới đưa người con gái bị tàn tật ra). Bắt truy hồi tiền của lễ lạt. Nếu bên nhà trai mạo nhận thì xử nặng thêm một bậc (chẳng hạn như định hôn cho con trai nhưng lại làm lễ thành hôn cho con nuôi. Lại như người con trai bị tàn tật, lại đưa anh em trai ra thay, mạo nhận là chú rể để gặp mặt, đến khi làm lễ thành hôn lại đưa người con trai bị tàn tật ra)”.

Xử án thời xưa.

Đối với việc chồng mua bán vợ hay thê thiếp, cha mẹ cầm con gái, thì cũng bị luật nhà Nguyễn xử nghiêm: “Người chồng đem thê thiếp cầm cố cho người khác làm thê thiếp, bản thân thực vô liêm sỉ, lại đẩy thê thiếp vào hoàn cảnh thất tiết, thực là bại hoại luân thường đạo lý nhiều lắm, cho nên xử phạt 80 trượng. Cha mẹ cầm cố con gái cho người khác làm thê thiếp, xử phạt 60 trượng”.

Những kẻ tiếp tay cho việc cầm cố, mua bán phụ nữ cũng bị trừng phạt: “Kẻ cầm cố thê thiếp và con gái của người khác cùng với kẻ biết người khác giả mạo thê thiếp là chị em gái mà vẫn lấy làm thê thiếp thì đều bị xử tội giống như thế. Kẻ cầm cố thê thiếp của người khác cùng với người chồng của họ bị xử phạt 80 trượng. Kẻ cầm cố con gái của người khác cùng với cha mẹ người con gái đó đều bị xử phạt 60 trượng”.

Còn nếu cưỡng bức phụ nữ thì sẽ phải bị treo cổ làm gương: “Phàm kẻ cường hào ỷ thế cưỡng đoạt vợ và con gái gia đình lương thiện, gian chiếm làm thê thiếp thì bị xử tội giảo (giam hậu) […]. Kẻ cường hào ỷ thế hành hung tàn bạo, không cần sính lễ, công nhiên cưỡng đoạt tại nhà vợ và con gái gia đình lương thiện đem về gian chiếm làm vợ tì thiếp của mình, thì bị xử tội giảo”.

Kẻ tòng phạm tham gia cưỡng đoạt phụ nữ cũng không thoát tội: “Kẻ tòng phạm trong việc cưỡng đoạt vợ con nhà lương thiện rồi gian chiếm thì chiểu theo tội kẻ thủ phạm xử giảo mà giảm đi một mức xử phạt 100 trượng, đồ 3 năm. Nếu như bị bức bách dụ dỗ đi theo chỉ là giúp đỡ khênh vác thì chiểu theo trường hợp chưa thành hôn xử tội giảo, mà giảm đi năm mức, xử phạt 70 trượng, đồ 1 năm rưỡi. Trường hợp giữa đường cướp lấy mang về và chưa gian ô, nếu là tòng phạm thì thẩm xét thấy là giúp sức cho kẻ làm ác thì xử nhẹ hơn kẻ thủ phạm bị tội lưu đày một mức, tức là xử phạt 100 trượng, đồ 3 năm. Nếu bị bức bách dụ dỗ đi theo chỉ là giúp đỡ khênh vác thì chiểu theo luật không nên xử nặng mà phạt 80 trượng”.

Nhìn nhận lại nữ quyền dưới thời quân chủ

Quốc triều hình luật (thời Lê sơ) có 6 quyển, 13 chương và 722 điều. Trong đó có 200 điều phỏng theo luật nhà Đường, 17 điều phỏng theo luật nhà Minh, 178 điều chung đề tài nhưng khác cách xử lý, và 328 điều không tương ứng với điều luật nào của Trung Hoa cả.

Còn Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) có 22 quyển, 34 chương và 398 điều. Trong 398 điều thì 397 điều là giống với nhà Thanh, nhưng cũng đã được chỉnh sửa và cập nhật cho phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Dù chưa có nghiên cứu tham chiếu cụ thể tới các bộ luật của Trung Hoa, nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ dưới thời quân chủ phương Đông, dưới tư tưởng Nho giáo, không chỉ ở riêng Việt Nam, không hề bị xem nhẹ.

Tất nhiên, xã hội xưa rất khắt khe trong một số vấn đề khác như gian dâm và phá thai. Trong đó, đặc biệt là tội gian dâm là bị thả trôi sông, hoặc bị voi giày. Những ví dụ như trong cuốn “Kỹ thuật của người An Nam”, Henri Oger đã vẽ minh họa rằng nam tăng mà không biết giữ giới luật, nữ giới mà lăng loàn, nếu phạm tội bại hoại nhân luân thì đều bị thả trôi sông như nhau cả. Như vậy đây là vấn đề quan niệm gìn giữ đạo đức của người xưa, chứ không phải vấn đề nữ quyền.

Nam tăng không giữ giới, nữ nhân dâm loạn sẽ
 bị thả trôi sông.

Mặt khác, quan niệm về “trọng nam khinh nữ” hay “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” cũng cần được xem xét lại. Ví dụ như “trọng nam khinh nữ” thực chất là câu nói “nam tôn nữ ti” xuất phát từ Kinh Dịch, là tư tưởng của Đạo gia. “Thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ”, quan hệ nam nữ như trời và đất, như âm và dương, như cương và nhu, chính là quan niệm âm dương hòa hợp, phân rõ thiên tính, đã có sẵn trong càn khôn. Trong đó Kinh Dịch cũng khen rằng: “Đất có tính nhu hoà, người quân tử lấy đức dày để nâng đỡ vạn vật”. Tương tự như vậy, tìm khắp Tứ thư Ngũ kinh cũng không thấy câu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.

Việc luật pháp bảo vệ phụ nữ như ở Việt Nam từ thế kỷ 15 có lẽ còn vượt trước cả xã hội phương Tây vì làn sóng “nữ quyền” (feminism) tập trung vào quyền sở hữu và hôn nhân của phụ nữ mới chỉ thực sự bắt đầu ở xã hội phương Tây vào cuối thế kỷ 19. Điều đó khiến chúng ta không khỏi suy nghĩ rằng: điều gì mới thực sự là nguyên nhân khiến người phụ nữ Việt “khổ”?

Chẳng phải việc kêu gọi “nam nữ bình quyền” thời hiện đại đã khiến người phụ nữ phải gồng mình gánh lấy công việc của đàn ông? Chẳng phải vì “bình quyền” mà nam giới không còn tôn trọng và nâng niu nữ giới, không còn hiểu được trách nhiệm của người đàn ông nữa? Chẳng phải việc thôi thúc người phụ nữ giành lấy quyền lợi đã phá hoại mối quan hệ trong gia đình, khiến một núi có hai hổ, khiến tranh cãi và ly hôn xảy ra?

Có lẽ chúng ta đã vì không thật sự hiểu mà hủy đi cái đẹp của nữ quyền truyền thống…

 

Nguồn tham khảo

Trithucvn

Quan tâm  
3

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Bài viết cùng chuyên mục

 
Lời Nói Có Thể Giết Người và Cũng Có Thể Cứu Người, Vì Thế Hãy Uốn Lưỡi 7 Lần Trước Khi Nói
Đôi khi chỉ một lời thôi cũng đủ đưa 1 người xuống địa ngục và cũng 1 lời ấy lại giúp một kẻ bần hàn vươn tới tột đỉnh vinh quang. Nếu có tu dưỡng, lời nói sẽ thơm tựa hương hoa, ngược lại sẽ như bùn ung trứng thối.
Biển Mặn: Truyện Ngắn Thổi Vào Hồn Độc Giả Nhiều Suy Tư
Từng con sóng bạc đầu chạy vào bờ, lớp lớp sóng sau xô lên sóng trước, biển rì rào mênh mông, những cơn gió mang vị mặn thổi qua khóe mắt, qua mái tóc, để rồi đôi mắt mẹ ngày càng nhăn nheo, mái tóc mẹ ngày càng bạc…
Những Cặp Mông Đẹp Khiến Ai Nhìn Thấy Cũng Phải Mê Mẩn
Đầy đặn, no tròn, đàn hồi, đều đặn và rung rinh trong từng bước chuyển là những mỹ từ để mô tả các cặp mông đẹp. Hãy cùng chiêm ngưỡng những kiệt tác gợi lên những cảm xúc bất tận này nhé!
Lilicia - Cô Chó Hoang Đi Tìm Thức Ăn Về Nuôi Con Và Các Bạn Trong Bãi Rác
Cứ vào mỗi đêm, Lilica lại rời tổ ấm nhỏ thân yêu, băng qua mấy xa lộ mà xe khách lao nhanh như vút, xen qua mấy con đường mòn đã trở nên thân thuộc tới nơi có nhà dân để xin chút thức ăn về cho những người bạn của mình và mấy...
Câu Chuyện Tiên Tửu Diệu Phương: Thành Công Hay Thất Bại Chỉ Khác Nhau Ở Tiếng Gà
Tài trí, mưu lược và lao động cần cù đều là những giá trị kiến tạo người thành công. Nhưng, đôi khi chỉ những đức tính ấy thôi vẫn chưa đủ, bí quyết tạo ra sự khác biệt lại nằm ở một chữ "NHẪN". Câu Chuyện Tiên Tửu...
Làm Người Phải Biết Dừng Lại Đúng Lúc, Đối Với Người Khác Là Một Sự Khoan Dung, Đối Với Chính Mình Là Trừ Lại Con Đường Để Thoái Lui Vậy
Làm người phải biết dừng lại đúng lúc, đối với người khác là một sự khoan dung, đối với chính mình là trừ lại con đường để thoái lui vậy. Đời người cần phải học tiết chế, biết dừng lại đúng lúc, biết đủ. Như thế...
Câu Chuyện Về Con Đường Tu Hành Của Công Chúa Từ Thục, Từ Huy và Giai Thoại Về Chùa Đền
Hai con quyết chí tu hành, giúp đỡ dân chúng khai khẩn đất hoang, dạy dân cách canh tác và các nghề thủ công, vua cha thấy vậy giận lắm nên đã lệnh đốt chùa. Nhị vị công chúa vì được dân chúng kính thương nên cứu đã thoát khỏi...
Sự Tích Hoa Lưu Ly - Xin Đừng Quên Tôi
Khi biết đến tên loài hoa Lưu ly này rồi thì không một ai là không chú ý đến. Nó mang ý nghĩa như câu nói "Xin đừng quên tôi". Hoa đã trở thành nguồn thơ, nguồn gợi cảm của bao người về tình bạn, tình yêu nam nữ, tình cảm của anh em....
7 Gợi Ý Ăn Chơi Quanh Năm
Cuộc sống nếu cứ quanh năm suốt tháng sống trong ánh điện văn phòng hay bán mặt cho đất, bán lưng cho trời thì cho đến khi giã từ gác trọ, bạn cũng không biết được rằng: Cuộc đời vẫn đẹp sao... 7 bài thơ này tuy cũng chẳng thuộc...