Thứ bảy, 20/10/2018 2:08 PM

Điều Gì Giúp Đại Việt 3 Lần Chiến Thắng Vó Ngựa Sâm Lăng Của Đội Quân Hùng Mạnh Nhất Thế Giới?

Thứ sáu, 22/12/2017 6:29 AM

Nguyên Mông là đội quân hùng mạnh nhất thế giới thời ấy, vậy mà cả 3 lần tiến đánh Đại Việt đều thất bại thảm hại và nhục nhã tháo chạy. Để đạt được chiến thắng vẻ vang như vậy thì ngoài tướng tài, vua giỏi, quân dân một lòng thì còn điều khác nữa không? Hãy cùng Ydvn.net phân tích thêm qua bài viết này nhé!

Chiến thuyền của quân Nguyên.

Trước khi tiến đánh Đại Việt, vó ngựa quân Mông Thát đã tung hoành từ Á sang Âu và reo rắc nỗi kinh hoàng ở khắp nơi, phía Bắc đến tận dải Bai Can, phía Nam đến sông Hoàng Hà, phía Đông đến sông Tùng Hoa, phía Tây đến Lý Hải (biển Casienne).

Vùng đất mà Mông Thát chinh phạt được bao gồm phần đất liền mênh mông Nam Sibere, Trung Quốc, Trung Á và một phần ngoại Cáp-ca-do (Caucasus)… Biên niên sử châu Âu mô tả một cách sợ hãi rằng: “Vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó”.

Quân Mông Thát sâm lược Nhật Bản.

Thế nhưng cả 3 lần đội quân Mông Thát đến Đại Việt đều bị đánh bại, đặc biệt là lần thứ 2 (năm 1285) và lần thứ 3 (năm 1288), khi mỗi lần 50 vạn quân Nguyên tràn sang nước ta. Vậy là chỉ trong vỏn vẹn 3 năm, Đại Việt phải đương đầu với 100 vạn quân hùng mạnh nhất thế giới lúc đó. Nhưng quân Đại Việt không chỉ đánh bại mà còn khiến đội quân này phải ê chề chạy trối chết về nước để mong thoát thân.

Rất nhiều phân tích nói về nguyên nhân Đại Việt chiến thắng, trong đó phải kể tới tài thao lược của vị Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo cùng sự đồng lòng của quân dân nhà Trần. Nhưng xét cho cùng đó là những nguyên nhân bề mặt, dễ thấy nhất. Để có được chiến công ấy còn phải có một nền tảng gốc rễ vững chãi, giúp Đại Việt có được sức mạnh to lớn.

Vậy nền tảng gốc rễ ấy là gì?

Nguồn gốc thượng võ sùng đạo của nhà Trần

Theo gia phả nhà Trần, thì cụ tổ nhà Trần là Trần Tự Minh thuộc nhóm tộc người Bách Việt ở đất Mân (Phúc Kiến – Trung Quốc). Trước những mâu thuẫn giữa người Bách Việt và người Hán, năm 227 trước Công Nguyên, Trần Tự Minh đã theo dòng người Bách Việt xuống phía Nam, sau đó đầu quân cho vua An Dương Vương.

Là võ tướng, Trần Tự Minh huấn luyện quân sĩ, cùng với Cao Lỗ trở thành hai vị tướng trụ cột thời bấy giờ. Cả hai ông là hai cánh tay đắc lực giúp An Dương Vương nhiều lần đánh bại cuộc xâm lăng của Triệu Đà.

Sau đó do nhà vua không nghe lời khuyên can của các tướng lĩnh cùng hiền thần, chấp nhận thông gia với Triệu đà, chủ quan mà dẫn đến mất nước. Trần Tự Minh lui về sống ở vùng Kinh Bắc.

Dòng dõi nhà Trần ở Kinh Bắc kéo dài 700 năm, đến năm 582 thì sinh ra Trần Tự Viễn ở Từ Sơn. Trần Tự Viễn mồ côi từ nhỏ, hàng ngày phải kiếm củi để sống qua ngày.

Ở Từ Sơn lúc đó có sư Pháp Hiền vốn là đệ tử của Đại sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Ấn Độ) truyền bá Thiền Tông, rất nhiều người theo.

Lịch sử nhà Phật chép rằng:

Sau khi Tì-ni-đa-lưu-chi tịch, Pháp Hiền vào Từ Sơn tập định. Thân hình ngài như cây khô, vật ngã đều quên, giống chim bay đến thân mật, loài thú rừng quấn quít… Người bấy giờ mộ tiếng ngài đến học đông không kể xiết. Ngài bèn dựng chùa dạy học, cư tăng lúc nào cũng hơn 300 người. Thiền tông phương Nam bấy giờ thịnh nhất.

Chú bé Trần Tự Viễn vẫn hay đi qua ngôi chùa của sư Pháp Hiền. Nhận thấy chú bé này có bản tính tiên thiên, tấm lòng lương thiện, sư Pháp Hiền quý lắm, thu nạp và dạy học cho thông tam giáo (Phật – Nho – Lão) và cả võ công nữa.

Trần Tự Viễn được thu nạp làm đệ tử, được truyền thụ tam giáo.

Sau nhiều năm, với bản tính tiên thiên cùng căn cơ ngộ tính tốt, Trần Tự Viễn trở thành môn đệ xuất sắc nhất của Phật phái Thiền Tông. Ông cũng nổi tiếng cả vùng với võ công cao cường. Môn phái võ thuật đặc sắc nhất của ông là Hổ quyền và Ưng – Xà quyền.

Trần Tự Viễn kế nghiệp sư Pháp Hiền, say sưa truyền bá Thiền Tông. Ông cũng truyền thụ võ công cho các đệ tử. Dân chúng nhờ môn võ của ông mà đã chống lại sự cai trị hà khắc của nhà Tùy – Đường. Người dân khắp nơi đều sùng kính, tôn ông là Phật sống.

Sự sùng võ của nhà Trần cũng bắt đầu từ Trần Tự Viễn.

Cũng từ đó dòng võ họ Trần nổi tiếng khắp cả nước. Đến đời Trần Tự An (1010 – 1077) thì võ phái này được đặt tên là Đông A (chiết tự từ chữ Trần).

Truyền thống thượng võ và tôn sùng Phật Pháp vẫn được kế thừa từ đời Trần Tự Viễn đến tận đời vua Trần Anh Tông. Nhiều người chọn con đường tu hành, nhiều đời vua đều chọn cách bỏ lại mọi quyền lực, của cải, thú vui, cũng như sự kính ngưỡng của người đời để đi tu.

Bởi vì vua hồng dương Phật Pháp, quan lại được tuyển chọn đều thuộc hàng mẫu mực, phải thông tỏ Bách gia, Chư tử, Cửu lưu, Tam giáo, và thi đậu Thái học sinh. Nhiều người là danh nhân thời đó như Đặng Kế, Đỗ Quốc Tá, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Trần Quang Triều…

Điều đặc biệt nhất là Phật Pháp được sử dụng để giáo hóa muôn dân, khiến đạo đức thăng hoa, xã hội ổn định. Đó là nền tảng gốc rễ vững chắc nhất để nhà Trần đánh bại các cuộc xâm lăng từ nước ngoài.

Ngày nay có nhiều người quan niệm rằng, thường chỉ những ai thất bại hay gặp đau khổ trong cuộc sống mới tìm đến nơi cửa Phật. Tuy nhiên vào thời nhà Trần, các vị vua khi thấy hoàng tử trưởng thành thì đều nhường ngôi cho con, rồi lên làm thượng hoàng, chọn con đường tu luyện.

Dưới đây chúng ta cùng điểm qua các đời vua nhà Trần:

Vua Trần Thái Tông

Ông là người rất mộ đạo, kính ngưỡng Phật Pháp, nhà vua có người bạn thân là Quốc sư Phù Vân ở núi Yên Tử, và thường đến nơi đây đàm đạo về Phật Pháp, cách dùng Phật Pháp để giáo hóa muôn dân, giúp xã tắc luôn ổn định và cường thịnh.

Vua Trần Thái Tông chuyên chú theo Thiền Tông mà cụ tổ Trần Tự Viễn từng theo học, đồng thời ông cũng thông tỏ cả Nho giáo. Nhà vua tu học với sự hỗ trợ của các thiền sư như Đạo Viên ở Yên Tử, Ứng Thuận, Tức Lực và Đại Đăng ở Thăng Long, cùng các vị tăng người Tống là Đức Thành, Thiên Phong. Ngoài ra, Trần Thái Tông còn dựng chùa Tư Phúc để trao đổi thêm kiến thức với các cao tăng, đồng thời giảng dạy Thiền học cho lớp hậu sinh.

Vua Trần Thái Tông áp dụng Nho giáo và Phật Pháp để giáo hóa dân chúng. Đây là nền tảng giúp Đại Việt đánh bại cuộc xâm lăng của đế quốc mạnh nhất lúc bấy giờ là quân Nguyên Mông vào năm 1258.

Quân Mông Thát: Đội quân hùng mạnh nhất thời bấy giờ.

Sau khi đánh bại quân Nguyên Mông, cũng vào năm 1258, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng (tức Trần Thánh Tông), bản thân mình lui về Thánh Từ làm thái thượng hoàng. Ông bỏ lại mọi thú vui chuyên tâm vào con đường tu luyện.

Vua Trần Thánh Tông

Vua Trần Thánh Tông lúc còn nhỏ không chỉ tinh thông Nho gia mà còn hiểu sâu Pháp lý của nhà Phật. Ông thường hay sáng tác thơ ca về thiền như “Di hậu lục”, “Thiền tông liễu ngộ”, “Trần Thánh Tông thi tập”…

Vua Thánh Tông cũng dùng Nho giáo để giáo hóa dân chúng. Nho giáo ảnh hưởng mạnh đến các cơ quan nhà nước Đại Việt, rất nhiều vị trí quan trọng đều sử dụng Nho sĩ.

Sau đó Trần Thánh Tông nhường ngôi vua cho con là Trần Nhân Tông, vứt bỏ hết mọi danh lợi đi tu tại chùa Tư Phúc dưới sự hướng dẫn của thiền sư Đại Đăng.

Sự vững mạnh của nhà nước cùng một xã hội ổn định tạo tiền đề cho Đại Việt thêm 2 lần nữa đánh bại quân Nguyên Mông sau này, vào năm 1285 và 1288 – 1289.

Vua Trần Nhân Tông

Nhà vua tên thật là Trần Khâm. Theo các ghi chép để lại thì ngay từ nhỏ Trần Khâm đã học thông tam giáo, hiểu sâu Phật điển. Nhà vua duy trì chính sách của các vua Trần trước đó, duy trì tín ngưỡng Nho giáo và Phật giáo.

Khi 16 tuổi ông được vua Trần Thánh Tông chỉ định làm thái tử nối ngôi. Khi Trần Khâm muốn nhường lại cho em mình, vua Thánh Tông không đồng ý.

Vua Trần Nhân Tông cùng phụ hoàng và Trần Hưng Đạo đã cầm quân đánh bại quân Nguyên Mông vào năm 1285 va 1288 – 1289.

Bức “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” mô tả cảnh thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất sơn, được con là
Anh Tông tiếp đón.

Sau khi chiến thắng, do ảnh hưởng của chiến tranh và thời tiết nên sản xuất nông nghiệp bị đình trệ, nạn đói xảy ra liên miên. Vua Nhân Tông cho phát thóc và bãi bỏ hoàn toàn thuế cho người dân. Nhà vua dùng từ bi đối xử với dân chúng, các quan lại được giáo dục bởi tam giáo đều yêu thương dân chúng. Dù những năm này đói kém liên miên nhưng lòng dân ổn định, không ghi nhận có bất kỳ sự nổi dậy nào. Lòng dân ổn định khiến nông nghiệp nhanh chóng hồi phục.

Yên Tử.

Năm 1293 sứ nhà Nguyên là Lương Tăng và Trần Phu sang Đại Việt đã vô cùng kinh ngạc vì mới sau chiến tranh đã có một Đại Việt phồn vinh “lúa mỗi năm gặt bốn lần, tuy vào mùa đông rét, mạ vẫn phơi phới” hay “thôn xóm đều có chợ, mỗi hai ngày họp một lần, trăm món tạp hóa đều dồi dào”“thuyền bè các nước mọi ngoài biển đều đến rất đông, buôn bán trên thuyền rất rộn rịp” (Theo “An nam tức sự” của Trần Phu).

Năm 1299, nhận thấy Anh Tông trưởng thành, Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con rồi đi tu hành, sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Trúc Lâm Yên Tử.

Dùng đức độ của nhà Phật nhằm giáo hóa dân chúng, khuyến khích người dân tu dưỡng đức hạnh, Đại Việt ngày càng cường thịnh, ngoại bang không dám ngó ngàng đến.

Vua Trần Anh Tông

Giống như các đời vua Trần trước, vua Anh Tông rất mộ đạo, ông đã góp nhiều công sức cho việc phát triển Phật giáo và nâng cao tín ngưỡng vào Phật trong dân chúng.

Mùa đông năm 1304, vua Anh Tông thỉnh cầu Điều Ngự để truyền tâm “Tâm giới Bồ Tát” tại gia cho ông. Việc làm này của nhà vua đã khiến cho nhiều tôn thất và quan lại thêm tin yêu và tín ngưỡng Phật Pháp, dùng đức độ học được từ tam giáo nhằm giáo dưỡng muôn dân, giúp Đại Việt kéo dài thời kỳ thịnh trị.

Thiền viện Trúc Lâm.

Năm 1313 và 1319, nông nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, nhà vua lấy hầu hết vàng bạc của mình và quốc khố dâng cho sư Pháp Loa để phân phát lại cho người dân nghèo, xem xét tường tận để không có bất kỳ người dân nào của mình phải chịu cảnh đói khổ cả.

Có thể nói rằng, từ đời Thái Tông tới Anh Tông, Đại Việt nằm trong ánh hoàng kim của Phật Pháp.

Không còn tín ngưỡng, nhà Trần suy yếu

Sau vua Anh Tông, các đời vua Trần càng ngày càng không còn tín ngưỡng Phật Pháp như trước, khiến vương triều yếu dần, bắt đầu từ vua Trần Dụ Tông thì suy yếu hẳn. Lúc này ngoại bang bắt đầu nhòm ngó, Chiêm Thành nhiều lần cho quân đánh chiếm cả thành Thăng Long.

Vua Dụ Tông dù được đánh giá là thông minh, nhưng khác các đời vua trước, ông không có được niềm tin tín ngưỡng, không lo giữ gìn đạo đức tinh thần xã hội; bản thân ham mê tửu sắc, xây cung điện, đánh sưu cao thuế nặng khiến dân chúng ca thán.

Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Một vị vua ham mê sa đọa thì các quan lại cũng chỉ lo ăn chơi sa đọa, vơ vét của dân. Trong nước nhiều nơi nổi lên chống lại triều đình.

Những vị hiền thần ít ỏi từ các đời vua trước như Chu Văn An đã dâng biểu xin trị tội tham quan ô lại nhưng vua không nghe, khiến Chu Văn An phải từ quan về quê dạy học.

Tượng Chu Văn An.

Hiền thần đều rời xa vua, chỉ còn những kẻ tham quan ô lại, nịnh bợ ở gần. Cuối cùng nhà Trần sụp đổ và mất về tay Hồ Qúy Ly.

Nhà Trần có thể đánh bại đội quân hung hãn và hùng mạnh nhất thế giới nhờ có một xã hội ổn định, thăng hoa đạo đạo đức tinh thần dựa trên nền tảng là niềm tin vào tín ngưỡng. Một khi tín ngưỡng không còn, khiến đạo đức tinh thần từ vua, quan đến người dân đều trượt dốc, thì một vương triều dù hùng mạnh đến thế cũng suy yếu rồi mất.

Ngày nay trên thế giới, những quốc gia giàu có, cuộc sống văn minh, phúc lợi người dân cao đều là những quốc gia có niềm tin tín ngưỡng; còn những quốc gia tuyên truyền thuyết vô Thần thì thường xảy ra tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập, phúc lợi người dân kém, đạo đức tinh thần xã hội thấp, mỗi người đều sống vì mình khiến tệ nạn và tham nhũng lan tràn khắp nơi. Niềm tin tín ngưỡng chẳng phải là cái cốt lõi của mọi sự trong xã hội hay sao?

 

Nguồn tham khảo

Trithucvn

Quan tâm  
5

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Bài viết cùng chuyên mục

 
Các Phương Pháp Ngủ Ít Những Vẫn Có Sức Khỏe Hoàn Hảo Và Tràn Đầy Năng Lượng Để Học Tập Làm Việc
Bạn là người bận rộn và câu cửa miệng lúc nào cũng là: "Tớ không có thời gian để ngủ". Vậy làm cách nào để ngủ it mà vẫn duy trì được sức khỏe hoàn hào và năng lượng tràn đầy phục vụ cho công việc...
Nỗi Lòng Bồ Đề Sư Tổ
Danh sư ắt xuất cao đồ. Thầy giỏi thì đồ đệ sẽ giỏi giang. Nhưng giỏi giang phải trong khuôn khổ, kỷ luật, để thầy còn ngẩng mặt tự hào khi chúng ta thành công và thành nhân. Chưa có ông thầy nào trên đời mong học trò mình thất...
Vợ Tôi Là Đầu Bếp Số 1
Những hình ảnh "xôi hỏng bỏng không" này khiến ta cười ra nước mắt nhưng ai mà chả có lần đầu chứ, cứ thử rồi sai, sai lại thử và cho đến khi chưa ra món gì thì cứ xem rồi cười chút chơi.
Hãy Để Cho Cha Mẹ Được Nghỉ Ngơi Lúc Tuổi Già Và Để Cho Con Bạn Được Sống Cuộc Đời Của Chúng
Hãy để cho cha mẹ được nghỉ ngơi lúc tuổi già, đừng bắt họ phải trông con cái cho bạn nữa. Và hãy để cho con trẻ được sống và quyết định cuộc đời của mình, đừng quá ôm đồm và can thiệp vào cuộc...
4 Quy Tắc Đọc Sách Của Tỷ Phú Bill Gates Giúp Bạn Có Thể Chinh Phục Được Bất Kỳ Cuốn Sách Nào Trong 1 Tuần
Có một câu nói rất hay thế này: "Nếu bạn muốn thành công hãy học người thành công" Và nếu muốn mở mang kiến thức thì hãy đọc thật nhiều sách. Những người thích đọc sách thường rất giàu có. Tỷ phú Bill...
Lợn Đi Chợ: Than Thân Và Trách Phận Không Bao Giờ Thay Đổi Được Thời Cuộc
Khi tai hoạ tới, sợ hãi và than thân trách phận cũng không thể thay đổi được thực tế. Cách tốt nhất là cố gắng thay đổi vận mệnh của mình ngay từ đầu. Câu chuyện Lợn Đi Chợ hôm nay sẽ giúp bạn hiểu hơn về dụng ý này.
Cuộc Đời Ta Đi Qua Ngàn Vạn Người Nhưng Thế Gian Này Chỉ Có 1 Người Sinh Ra Là Để Dành Cho Bạn
Cuộc đời ta đi qua ngàn vạn người nhưng thế giới này chỉ có một người sinh ra là để dành cho bạn. Bạn cũng là vì người đó mà sinh ra. Gặp được nhau rồi thì chính là may mắn. Hãy biết trân quý phúc phận của nhau. Buông tay rất...
Trận Thủy Chiến Vàm Nao: Nhà Nguyễn Đập Tan Hơn 4 Vạn Quân Xiêm La Xâm Lược
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ta đã phải chịu không biết bao nhiêu cuộc sâm lăng của các thế lực hùng mạnh và hầu hết các cuộc chống giặc ngoại sâm đều diễn ra trên sông. Trận thủy chiến trên sông Vàm Nao vào thời...
Tích Xưa Chuyện Cũ: Chưa Đỗ Ông Nghè Đã Đe Hàng Tổng
Hẳn bạn đã nghe qua câu thành ngữ "chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng". Bạn hiểu rõ ý nghĩa của nó chứ? Tích xưa chuyện cũ về sự ra đời của câu thành ngữ này thế nào? Câu chuyện sau sẽ giúp bạn tỏ tường.
Đôi Tà Áo Lụa Bay Trong Nắng
Tà áo dài Việt Nam thướt tha uyển chuyển, mềm mại và dịu dàng trong gió, nó luôn để lại nhiều cảm hứng trong thi ca của bây giờ và mãi mãi về sau.