Thứ tư, 24/01/2018 9:59 AM

Một Bài Thi Đình Khiến Trạng Vít Lưu Danh Sử Sách Muôn Thuở, Làm Cho Đại Việt Trở Thành Quốc Gia Cường Thịnh Bậc Nhất Đông Nam Á

Thứ ba, 12/12/2017 7:17 AM

Thời vua Lê Thánh Tông. Đại Việt tuy hưởng thái bình nhưng quan lại lại tham ô, nhũng nhiễu, hủ bại. Để trấn hưng quốc gia, tại cuộc thi Đình năm ấy nhà vua đã tuyên đề mục đích là tìm kiếm hiền tại trong các sỹ tử và bài thi của một người đã trở thành sách lược trị quốc, góp phần đưa Đại Việt trở thành quốc gia hưng thịnh bậc nhất Đông Nam Á thời bấy giờ.

Sỹ tử Vũ Kiệt tham gia cuộc thi Đình do vua Lê Thánh Tông ban đề.

Thời kỳ cực thịnh về giáo dục

Khi vua Lê Thánh Tông mới lên ngôi đã nhận được rất nhiều lời ca thán từ dân chúng về bè lũ quan lại như sâu mọt đục khoét của dân. Rất nhiều quan lại được cất nhắc nhờ nịnh bợ và quà cáp hối lộ, những kẻ nịnh thần thăng quan nhờ quà cáp hối lộ chắc chắn là vì mình chứ chẳng vì dân, đó là nguyên nhân chính khiến lòng dân oán thán. Vì vậy, nhà vua nhìn nhận rằng nạn tham nhũng là nguyên nhân lớn nhất cần phải tiêu diệt.

Trong buổi thiết triều, nhà vua nhấn mạnh vào việc chống tham nhũng. Vua cũng rất chú ý đến giáo dục để có thêm những hiền tài mới nhằm phục vụ cho giang sơn xã tắc. Chính vì chú trọng đến giáo dục nên thời vua Lê Thánh Tông được xem là giai đoạn cực thịnh về giáo dục.

Trường thi thời xưa.

Theo quy định vào thời ấy, các sĩ tử đỗ cao trong kỳ thi Hương mới được chọn vào thi Hội, vượt qua thi Hội mới được chọn vào thi Đình. Kỳ thi Đình rất đặc biệt, được tổ chức ngay trong sân điện của vua nên được gọi là thi Đình. Trong khi thi Hương và thi Hội thì thí sinh phải qua 4 kỳ thi, còn thi Đình chỉ làm một bài văn sách nên nó còn được gọi là “Đình đối sách văn”. Bài văn sách thi Đình do vua trực tiếp ra đề, phê bài, và xếp hạng.

Các sĩ tử vào đến thi Đình thì đều được xem là thông sử học và văn học. Kỳ thi Đình đòi hỏi thí sinh còn phải hiểu biết tình hình giang sơn xã tắc, vận dụng trí tuệ của mình nhằm lý giải đồng thời đề ra kế sách nhằm giải quyết những vấn nạn mà giang sơn gặp phải.

Trường thi thời phong kiến.

Bài văn sách của sĩ tử Vũ Kiệt năm 1472 được xem là kiệt tác và giúp Vũ Kiệt đỗ trạng nguyên. Có lẽ đây là một bài văn mà hậu thế đến ngày nay vẫn cần phải học hỏi.

Địa linh sinh nhân kiệt

Theo sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” và “Đại Việt sử ký toàn thư” thì trạng nguyên Vũ Kiệt sinh năm 1452 ở xã Yên Việt, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay thuộc thôn Cửu yên, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

Vì làng quê ông có tên nôm là Vít nên dân gian vẫn gọi ông là Trạng Vít. Người dân nơi đây vẫn còn nhớ câu ca từ xưa:

Làng Vít có chợ, có sông
Có dinh quan Thượng, có đồng cờ tiên.

Trước làng Vít có hai con sông giao nhau: con sông từ chùa Dâu chảy về hợp lưu với con sông Cổ (sông Tào Khê) tạo thành thế “Lưỡng thủy giao tiền” (hai con sông giao nhau ở trước làng). Ngày nay trước cửa làng vẫn còn dấu tích gò Thần Đồng và gò Bút, tạo nên vùng đất địa linh sinh nhân kiệt.

Dùi mài kinh sử.

Trạng nguyên Vũ Kiệt được sinh ra và lớn lên trên vùng đất này. Thuở nhỏ ông đã nổi tiếng là thông minh và sáng dạ. Năm 1472, lúc 20 tuổi, Vũ Kiệt đã vượt qua thi Hương và thi Hội, được vào kỳ thi cuối cùng là thi Đình tại sân điện, diện kiến đức vua.

Tại kỳ thi Đình này, vua Lê Thánh Tông ra đề thi hỏi về sách lược “Đế Vương trị quốc”…

Phép chống tham nhũng

Vua Lê hỏi rằng:

Trẫm lo lắng cho cái thói tham lam làm đổi thay phong tục, nên đặt chức đình úy để xét tra những điều gian dối của bọn quan lại, thưởng người liêm khiết để khuyến khích làm việc tốt. Thế nhưng, người có chức vị vẫn không trong sạch, gió thổi bóng theo.

Bọn quan lại nhỏ tự làm những điều ô nhục, ngày càng tràn lan. Dân càng nghèo mà đóng góp ngày càng lắm, pháp luật càng nghiêm mà kẻ gian ngày càng nhiều. Việc quân cơ, việc chính sự biến đổi rối rắm.

Của cải xuất kho lại rơi vào tay bọn tham nhũng, thật chẳng có lúc nào mà quá như lúc này. Hãy nêu lên cái nguyên nhân sinh ra những tệ hại ấy và bằng cách nào để sửa đổi và có tin là sửa đổi được không?

Vũ Kiệt trả lời rằng: (trích lược)

Thần cho rằng câu hỏi của bệ hạ là muốn để tâm làm trong sạch mọi dòng vẩn đục và mong muốn các quan noi theo đó để làm chuẩn mực.

Thần nghe lời giải thích trong kinh Xuân Thu “sự thành bại của quốc gia là xuất phát từ sự trung thực hay gian tà của các quan…”

Quan lại thất đức, việc ăn hối lộ được đưa ra ánh sáng thì thói tham lam không thể phát triển mãi được.

Con người sinh ra không thể không có sự ham muốn, nếu con người không làm chủ được sự ham muốn ấy thì sẽ sinh ra rối loạn…

Vả lại gần đây, con người sống lâu trong thời bình, nên có phần sơ suất về màng lưới ngăn cấm trong đời sống hàng ngày.

Trong khi làm việc công thì thường dùng quà cáp, tết nhất, dùng của đút lót làm lễ vật hàng ngày, giày dép, quần áo diêm dúa, tiêu pha hoang phí, tệ tham nhũng tích tụ thành thói quen, điềm nhiên cho đó là việc thường.

Thần thấy tuy bệ hạ nghiêm khắc trong việc tra xét kẻ gian, tín cẩn biểu dương người tốt nhưng chưa đưa ra bộ mặt của đám tiểu nhân được…

Thần thấy trong Kinh lễ có câu “đại thần giữ phép, tiểu thần sẽ liêm chính” là có ý nói những việc làm của quan cấp cao thực để cho cấp dưới xem xét và noi theo…

Lấy lý mà nói thì bọn tiểu lại, trộm cướp còn tự thay đổi trước sự giáo hóa của quan lệnh trong ấp, huống hồ lại đối với các bậc quan trên…

Nhưng phép luật ngày nay thì người làm quan lớn hoặc ban ơn để tỏ rằng mình là người hiểu biết, hoặc rêu rao cái danh để cho cấp dưới cầu cạnh, sai bảo người khác, ban bố mệnh lệnh đều trái với lẽ phải, khinh trọng thiên lệch. Khi tìm được chỗ hở thì gây ra tệ lậu bán buôn, hoặc không giữ chắc của công, hoặc lấy của công để vun vén cho mình.

Nhà vua trọng dụng hiền tài.

Sau khi phân tích Vũ Kiệt đưa ra hướng khắc phục: (trích lược)

Thần mong bệ hạ hãy tuyển chọn những người công minh trong sạch và ngay thẳng, lấy danh vị giao cho họ trọng trách…

Ra lệnh cho quan ngự sử kiểm soát, khích lệ biểu dương để thấy được những quan liêm khiết và nêu từng việc để biết được sự liêm khiết của họ. Ông quan nào thuộc hạng ô lại và cũng lấy việc ấy để nêu cái ô nhục của họ, để điều trần tâu lên chính xác rõ ràng. Nếu quả thực họ là người liêm khiết thì ân thưởng ưu đãi và quan trưởng cũng được ban thưởng. Nếu quả thực họ là kẻ tham ô thì hình phạt không tha thứ và trưởng quan cũng tùy theo đó mà xử phạt. Làm như vậy, con người sẽ tốt lên, thói tham sẽ ngăn chặn được.

Nếu như các bậc trưởng quan chẳng phải là người tốt mà là muốn bọn quan lại cấp dưới phải sống trong sạch, thế chẳng khác nào nước đầu nguồn đục mà mong cho dòng trong!

Kế sách chấn hưng giáo dục

Nhà Vua hỏi rằng:

Sách xưa có câu: “Thầy nghiêm thì việc học đạo mới được tôn kính”. Nhưng hiện tại nho sinh lại cảm thấy xấu hổ khi đến học thầy, cốt làm những chuyện họa may hoặc qua tuần, qua tháng lại đổi thầy. Một nho sinh mà chưa bao giờ biết gò mình trong việc tu chỉnh, khi đạt được danh vọng ở triều đình thì ít tuân theo lễ nghĩa. Đạo làm thầy bị bỏ rơi sao mà lâu thế, làm thế nào để cứu vãn được…

Vũ Kiệt đã làm bài rằng: (trích lược)

Thần nghe: Cái học của người xưa nhất thiết phải có thầy, người thầy làm nhiệm vụ truyền đạo, thụ nghiệp nêu lên những chỗ nhầm lẫn, giải thích những điều tôn nghi trong sách vở. Các ngành, các nghề, ngay cả những nghề vụn vặt cũng không thể không có thầy được, huống hồ người theo học đạo Nho?…

Là kẻ sĩ phải thấy rằng mình được vinh hạnh, càng chăm lo việc thực học. Trong lúc chưa thành đạt thì sống theo đạo lý thông thường để chờ thời gặp mệnh. Không để mất phẩm chất riêng của mình. Lúc đã được tin dùng thì phải giữ đúng danh vị và làm việc thực sự, không thể để mất cái điều mà mình hằng mong muốn, như thế mới có thể được.

Ông cũng nêu ra thực tại trong nền giáo dục: (trích lược)

Nhưng cũng có khá nhiều người làm thầy, tư chất kém cỏi, văn vẻ vụng về. Cái mà người học trò cần có là sự uyên bác nhưng người thầy lại có kẻ nông xoàng, tài cán thô thiển. Đạo làm thầy không vững như thế thì còn lạ gì khi thấy sĩ tử xấu hổ việc đi học?…

Tâm thật đã mất trước khi ra làm quan rồi, thì sau khi ra làm quan còn tìm sao được tiết tháo và phong độ của họ…

Từ đó Vũ Kiệt nêu ra phương hướng: (trích lược)

Thần mong bệ hạ: Đạo làm thầy phải được tuyển chọn kỹ càng. Việc nuôi dạy sĩ tử phải được nghiêm nghị đúng hướng…

Tìm nhân tài trước hết phải chú ý đến mặt đức hạnh, phế truất kẻ phù hoa…

Nếu như dùng lời gian dối để trau truốt thì dứt khoát không dùng. Người dám nói thẳng… thì có thể thu nhận.

Theo sách “Văn hiến Kinh Bắc” thì bài “Văn sách thi Đình” của Vũ Kiệt được triều đình coi là kiệt tác nhằm trị quốc, an dân. Bài thi này cũng là chuẩn mực cho những đời sĩ tử sau này.

Giang sơn toàn thịnh

Vua Lê Thánh Tông tham khảo phép trị quốc này của Vũ Kiệt nhằm bổ sung cho bộ luật Hồng Đức, tăng thêm sức mạnh chống tham nhũng cho bộ luật này. Việc chống tham nhũng được tiến hành từ các quan to nhất đầu triều xuống đến địa phương.

Tuyên sắc lệnh của vua.

Đồng thời qua các năm vua Lê Thánh Tông cũng ban các sắc chỉ, cụ thể như sau:

► Năm 1475, định lệnh cấm vơ vét xoay tiền trong các việc xây dựng sửa chữa, kẻ nào mượn cớ và vơ vét xoay tiền thì trị tội như luật xoay tiền.

► Năm 1478, trong sắc chỉ cho các địa phương xét quan lại trong địa hạt, người nào tham ô lười biếng thì tâu lên để định việc giáng chức.

► Năm 1487, xét quan lại thấy tham nhũng thì bãi chức sung quân ở Quảng Nam.

► Năm 1483, trong sắc chỉ ân xá của nhà vua những kẻ tham nhũng xếp cùng tội đại nghịch không được hưởng khoan hồng của nhà vua.

Như vậy, vua Lê Thánh Tông đã coi nạn quan tham ngang hàng với tội đại nghịch, những tội làm tổn hại đến nền móng nhà nước.

Các tham quan, ô lại đều bị coi là nghịch tặc.

Chủ trương chống tham nhũng, chỉ dùng bậc hiền tài, loại trừ kẻ xu nịnh được thực hiện từ các quan to nhất đầu triều xuống dưới, khiến các quan chức vốn chỉ lo tiến thân bằng nịnh bợ không còn đất dụng võ nữa, nạn tham nhũng đang tàn phá đất nước bị đẩy lùi và dẹp bỏ.

Một buổi thiết triều thời xưa.

Lịch sử cho thấy thời kỳ vua Lê Thánh Tông là thời kỳ toàn thịnh của Đại Việt, đất nước phát triển rực rỡ về mọi phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và quân sự.

Giang sơn hùng mạnh thì không chỉ lân bang không dám ngó ngàng đến, mà lãnh thổ bờ cõi còn được mở rộng khi vua Lê Thánh Tông thực hiện các cuộc tiến quân về phía Nam và phía Tây, chinh phục, Ai Lao[1] và Bồn Man[2], Chiêm Thành[3].

Những thành tựu trị quốc, chống tham nhũng kiệt xuất đã đưa Đại Việt trở thành quốc gia hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.

Là hiền tài của đất Việt, tên tuổi của Vũ Kiệt còn được lưu lại trên Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội hay Văn Miếu ở Bắc Ninh. Tài năng cùng phép trị quốc của ông được các hậu thế nhiều đời sau này truyền tụng.

Trạng nguyên áo gấm về làng.

Thời nay, nhiều người cho rằng xã hội và tư tưởng xưa kia là “lạc hậu”, gán cho chúng cái mũ “phong kiến”, khiến những tinh hoa trong văn hóa truyền thống bị bài xích. Trong khi đó, thực trạng tham nhũng lại tràn lan, và nền giáo dục cũng không có một hướng đi đúng đắn cho vấn đề đạo đức. Thậm chí việc bỏ tiền lo lót cho quan lại, hay việc biếu xén thầy cô để con có thành tích học tập cao lại được xem như một điều “tất nhiên”, “rất đỗi bình thường”.

Nếu như áp dụng phép trị quốc của vua Lê Thánh Tông và của trạng nguyên Vũ Kiệt, thì hẳn là nhiều quốc nạn sẽ được dẹp bỏ.

Chú Thích:


[1] Ai Lao hay còn gọi là Lan Xang (có khi viết là Lan Ch'ang, Lanexang, tiếng Pali: Sisattanakhanahut, tiếng Lào: ລ້ານຊ້າງ - lâansâang, chữ Nho: 南掌 - Nam Chưởng hay 萬象 - Vạn Tượng), nghĩa là "đất nước triệu voi" (Lan: triệu, Xang: voi), là quốc gia đầu tiên của người Lào, được vua Phà Ngừm khai sáng năm 1354.

[2] Bồn Man là một quốc gia cổ từng tồn tại ở khu vực tỉnh Xiêng Khoảng, một phần các tỉnh Hủa Phăn đến Khăm Muộn, ở phía Đông nước Lào, và một phần các tỉnh miền Bắc Trung bộ Việt Nam (khoảng Nghệ An đến Quảng Bình). Vùng đất này từng bị chi phối, tranh giành bởi nhiều quốc gia lân cận như Đại Việt, Lan Xang, Ayutthaya và sau cùng là Pháp. Khi nằm dưới sự bán cai trị của Đại Việt vùng đất này có tên là Trấn Ninh, thuộc xứ Nghệ An.

[3] Chiêm Thành (chữ Hán: 占城) là tên gọi của vương quốc Chăm Pa (tiếng Phạn: Campanagara) trong sử sách Việt Nam từ 877 đến 1693. Trước 859 Việt Nam gọi vương quốc này là Hoàn Vương. Đầu thế kỷ thứ 11, Chiêm Thành bao gồm 4 tiểu vương quốc là: Amaravati (vùng Quảng Nam, Đà Nẵng ngày nay, và vùng Bình - Trị - Thiên nhưng sau này bị sáp nhập vào Đại Việt), Vijaya (vùng Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay).

 

Nguồn tham khảo

Trithucvn

Quan tâm  
3

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Tham nhũng thời nào cũng có, bây giờ nó cũng đang tác oai tác quái ở Việt Nam ta.
Nghĩa    |    1 tháng trước

Bài viết cùng chuyên mục

 
Im Lặng, Lắng Nghe, Ghi Nhớ, Hành Động Và Khôn Ngoan Là 5 Cung Bậc Khác Nhau Của Trí Tuệ
Im lặng, lắng nghe, ghi nhớ, hành động và khôn ngoan là 5 cung bậc khác nhau của trí tuệ. Hãy học cách lắng nghe nhiều hơn và im lặng đúng lúc, để cảm nhận hết những âm thanh kỳ diệu của cuộc sống bạn nhé! Đừng vội...
Biển Mặn: Truyện Ngắn Thổi Vào Hồn Độc Giả Nhiều Suy Tư
Từng con sóng bạc đầu chạy vào bờ, lớp lớp sóng sau xô lên sóng trước, biển rì rào mênh mông, những cơn gió mang vị mặn thổi qua khóe mắt, qua mái tóc, để rồi đôi mắt mẹ ngày càng nhăn nheo, mái tóc mẹ ngày càng bạc…
Làm Con Gái Thì Phải Điệu Chứ!
Nếu mỗi ngày bạn luôn đón chào ngày mới bằng một nụ cười sáng khoái hay "mỉm chi" tí cũng được thì chắc chắn ngày đó sẽ mang lại cho bạn rất nhiều thành công trong công việc. Vậy thì đừng quên xem những tấm hình này vào mỗi...
4 Lời Không Nên Nói Nếu Muốn Cuộc Đời An Nhàn, Tươi Vui Và Hạnh Phúc
Nói lời oán trách, nói càn khi gặp khó khăn, nói lời thị phi đố kỵ với người khác và nói những lời ngông cuồng khi được khen ngợi là những thói quen xấu cần phải bỏ ngay nếu bạn muốn cuộc đời mình...
Cách Dùng Người: Thứ 3 Năng Lực, Thứ 2 Thái Độ Vậy Thứ 1 Là Gì?
Mỗi người đều có những sở trường, sở đoản và tâm tính riêng, người lãnh đạo giỏi là phải dùng "cái tâm" và "con mắt" của mình để "cảm nhận" điều đó ở mỗi người và đưa vào họ vị trí thích hợp, làm được như vậy,...
Làm Người Phải Biết Dừng Lại Đúng Lúc, Đối Với Người Khác Là Một Sự Khoan Dung, Đối Với Chính Mình Là Trừ Lại Con Đường Để Thoái Lui Vậy
Làm người phải biết dừng lại đúng lúc, đối với người khác là một sự khoan dung, đối với chính mình là trừ lại con đường để thoái lui vậy. Đời người cần phải học tiết chế, biết dừng lại đúng lúc, biết đủ. Như thế...
Thánh Nhân Bất Bại Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: Đập Tan Đội Quân Sâm Lược Hùng Mạnh Bậc Nhất Thế Giới
Quân Nguyên Mông là đội quân thiện chiến và hùng mạnh bậc nhất thế giới hồi thế kỷ XII-XIII, chúng đi đến đâu là gieo rắc nỗi kinh hoàng đến đấy. Vậy mà khi đến Đại Việt, hơn 100 vạn đại quân đã bị Trần Hưng Đạo cùng vua...
Sự Tích Hoa Lưu Ly - Xin Đừng Quên Tôi
Khi biết đến tên loài hoa Lưu ly này rồi thì không một ai là không chú ý đến. Nó mang ý nghĩa như câu nói "Xin đừng quên tôi". Hoa đã trở thành nguồn thơ, nguồn gợi cảm của bao người về tình bạn, tình yêu nam nữ, tình cảm của anh em....
Nhớ Em Chiều Huế Tím
Tôi nhớ em, nhớ giọng nói vấn vương, Anh ở mô mà dễ thương dữ rứa, Răng mà anh biết đường ra xứ Huế, Chứ răng mà …anh hãy kể em nghe, Tôi yêu chiều Huế tím mộng, tím mơ, Tôi yêu sao nón bài thơ duyên dáng, Và đôi ta đã trao lời...