Thứ sáu, 20/07/2018 4:06 AM

Bệnh Đậu Lợn

Thứ năm, 16/11/2017 2:46 PM
Tên Khác
Bệnh Đậu Heo

Đậu lợn là một bệnh truyền nhiễm do AND virut ký sinh trong tế bào biểu bì gây nên các biều hiện đặc trưng: sốt cao, tạo nốt đậu ở da,..Virut đậu lợn phát triển được và tạo nên bệnh tích tế bào (CPE) chỉ trong môi trường nuôi cấy tế bào thận lợn, tế bào não và phôi thai của lợn. Chúng không thể phát triển được ở trong các môi trường nuôi cấy lấy từ thận, não, phổi của động vật khác. Đây chính là đặc điểm sinh học nổi bật để phân loại và giám đinh virut đậu lợn.

Bệnh Đậu Lợn, Bệnh Đậu Heo
Bệnh Đậu Lợn

Căn nguyên

Nguyên nhân gây bệnh là một loại virut chứa AND cùng nhóm với virut gây bệnh đậu ở trâu, bò, dê, cừu, gia cầm và người. Tuy nhiên, virut gây bệnh đậu ở lợn có cấu trúc kháng nguyên hoàn toàn khác với virut gây bệnh đậu ở các gia súc, gia cầm khác.

Virut đậu lợn phát triển được và tạo nên bệnh tích tế bào (CPE) chỉ trong môi trường nuôi cấy tế bào thận lợn, tế bào não và phôi thai của lợn. Chúng không thể phát triển được ở trong các môi trường nuôi cấy lấy từ thận, não, phổi của động vật khác. Đây chính là đặc điểm sinh học nổi bật để phân loại và giám đinh virut đậu lợn.

Virut đậu lợn có kích thước trung bình 32´ 24nm. Virut có sức sống kém trong các tổ chức hữu cơ thối rữa và ở nhiệt độ cao. Chúng chết khi đun sôi 2 – 3 phút, dễ bị tiêu diệt bởi 5%H2CO3, 10% nước vôi, 1‰ KMnO4. Tuy nhiên, trong môi trường chất lỏng hữu cơ, virut tồn tại và giữ nguyên đặc tính gây bệnh trong thời gian dài, nhất là khi ở nhiệt độ thấp. Dưới 100C, virut sống hàng năm, khi được đông khô thì có thể tồn tại trên 3 năm.

Đặc điểm dịch tễ

Lợn ở tất cả các lứa tuổi đều mẫn cảm với virut đậu, tuy nhiên lợn con theo mẹ mẫn cảm nhất và bệnh nổ ra ở lợn con theo mẹ cũng nặng nề nhất.

Dê, cừu, trâu, bò, khỉ, gà, chuột bạch không mẫn cảm với virut đậu lợn.

Trong điều kiện tự nhiên, người ta thấy có một số giống lợn nhất là lợn địa phương, lợn được nuôi quảng canh, nuôi thả rông hầu như không bị bệnh đậu, nhưng khi xét nghiệm phân lập virut đậu ở những lợn này lại có thể tìm thấy chúng. Ngược lại, các giống lợn năng suất cao có mức mẫn cảm với virut đậu cao gấp nhiều lần so với lợn địa phương. Hình thức chăn nuôi công nghiệp cũng đã tạo điều kiện cho virut đậu lan truyền, phát tán nhanh và tăng cường độc lực.

Virut đậu thâm nhập vào cơ thể lợn bằng nhiều con đường khác nhau: qua vết thương ở da, ở niêm mạc, qua đường tiêu hoá và cả đường hô hấp,…

Lợn khỏi bệnh vẫn mang virut và thải virut đậu gây bệnh ra môi trường hơn 2 tháng. Virut đậu có nhiều trong các vảy da khô của nốt đậu trên cơ thể lợn bệnh. Khi các vảy bong tróc, chúng nhiễm vào thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi,…. và môi trường xung quanh, đó là nguồn bệnh nguy hiểm.

Bệnh đậu không gây chết nhiều ở lợn lớn, nhưng chúng gây thiệt hại lớn ở lợn con do biểu hiện của bệnh ngoài ở da ra còn thấy ở các cơ quan khác. Đó là rối loạn tiêu hoá, hô hấp gây tỷ lệ chết cao và trong nhiều trường hợp dẫn đến các bệnh thứ phát hoặc có những biểu hiện khiến cán bộ kỹ thuật có những sai sót trong cách chẩn đoán và nhìn nhận bệnh. Do đó, bệnh đậu lợn được các nước có nền chăn nuôi lợn theo hướng tập trung công nghiệp liệt vào danh mục các bệnh nguy hiểm (danh mục A).

Cơ chế sinh bệnh

Virut đậu có tính hướng tế bào biểu bì ở da, đường tiêu hoá và hô hấp. Do đó, sau khi thâm nhập vào cơ thể lợn, chúng ký sinh ngay trong nguyên sinh chất của các tế bào trên, sinh sản theo cách tự nhân đôi và gây hiện tượng nhiễm trùng huyết. Khi đó, lợn sốt cao, phát ban đỏ ở da, tiếp theo là hình thành các nốt mụn – nốt đậu ở da, đường ruột và một số cơ quan khác. Các nốt đậu nhanh chóng vỡ ra và tạo vết loét, sau đó chúng được phủ một lớp vảy màu nâu. Lớp vảy nâu này cũng nhanh chóng bong tróc và nếu nốt đậu không có nhiễm trùng thứ phát thì cũng nhanh lành lặn. Lợn bệnh sẽ tự tạo được miễn dịch bảo hộ trong thời gian ít nhất 3 – 4 tháng, thậm chí trên 6 tháng.

Triệu chứng

Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài 4 – 7 ngày, rất ít khi đến 16 ngày.

Thông thường, sốt là dấu hiệu đầu tiên của bệnh đậu.

Lợn bệnh tỏ ra mệt mỏi, chán ăn, khi có các dấu hiệu của bệnh thì bỏ ăn hoàn toàn.

Mí mắt viêm và mắt có dử nâu.

Chảy nước mũi.

Tại các chỗ da ít lông bắt đầu xuất hiện và hình thành các nốt đậu. Quá trình hình thành trải qua 4 giai đoạn.

+ Giai đoạn 1: Hình thành các nốt tròn đỏ, sau đó trở nên đỏ thâm và chứa đầy chất lỏng trong suốt. Giai đoạn này gọi là Stadium vesiculosum.

+ Giai đoạn 2: Xung quanh các nốt đậu, da trở nên đỏ tấy và chất lỏng trong các nốt đậu chuyển thành mủ. Thời gian phát triển của giai đoạn này kéo dài 2 – 3 ngày và giai đoạn này gọi là Stadium pustulosum.

+ Giai đoạn 3: Sau khi các chất mủ bên trong được hình thành và trở nên đặc quánh thì 1 – 3 ngày tiếp theo, chúng khô dần và tạo thành vảy. Giai đoạn này gọi là Stadium Crustosum.

+ Giai đoạn 4: Cũng chỉ sau đó vài ngày, các mảng vảy này bắt đầu bong tróc, để lộ ra vết loét và vết loét nhanh chóng lành khỏi. Giai đoạn này gọi là Stadium desquamations. Thân nhiệt lợn trở lại bình thường và lợn ốm dần bình phục.

Ngoài các nốt đậu với 4 giai đoạn phát triển ở da còn thấy trong niêm mạc miệng, đường ruột, khí quản và phổi.

Phụ thuộc vào số lượng nốt đậu trong cơ thể và mức độ bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh khác mà có thêm các biểu hiện lâm sàng trên cơ thể lợn. Vì thế, tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết của lợn bị đậu rất khác nhau ở các đàn lợn, trại lợn khác nhau. Điều cần chú ý là trong mọi trường hợp, bệnh đậu đều lây lan nhanh, do đó phải có biện pháp điều trị, khoanh vùng dịch.

Bệnh tích

Bệnh tích điển hình, tập trung và dễ nhận thấy ở da là các nốt đậu với các giai đoạn hình thành và phát triển khác nhau. Ngoài ra, còn thấy nốt đậu ở miệng, ở khí quản.

Trong phổi và đường ruột thấy nhiều điểm viêm xuất huyết, hoại tử, rõ nhất là các vết loét trong dạ dày.

Chẩn đoán

Các số liệu về dịch tễ, lâm sàng và bệnh tích cho phép chúng ta phát hiện ra bệnh đậu lợn.

Nếu thấy cần thiết có thể gây bệnh thực nghiệm: lấy vảy của nốt nghi do bệnh đậu, nghiền rồi hoà vào nước sinh lý tỷ lệ 1: 1, xử lý bằng kháng sinh để diệt khuẩn, sau đó rạch da lợn khoẻ và bôi huyễn dịch trên vào vết rạch. Trong vòng 4 – 7 ngày, nếu lợn phát bệnh với các biểu hiện và bệnh tích như mô tả ở trên và có khuynh hướng lây lan nhanh thì đó là bệnh đậu.

Bệnh Đậu Lợn, Bệnh Đậu Heo

Chẩn đoán phân biệt

Các vảy nâu ở bệnh đậu cần phân biệt với các vảy nâu của bệnh viêm da do liên cầu lợn và của phó thương hàn lợn.

Bệnh liên cầu lợn xảy ra lẻ tẻ, dịch cục bộ, lây lan chậm. Ngoài các nốt viêm hoại tử ở da còn có các triệu chứng điển hình khác như viêm phổi nặng, lợn bệnh chảy mủ, nước mũi hoặc máu cam và chết nhanh ở thể quá cấp. Nhiều lợn bị sưng khớp, đi lại khó khăn, thậm chí còn bị què ở thể dưới cấp và mãn tính.

Bệnh phó thương hàn thường xảy ra ở lợn sau cai sữa đến 4 tháng tuổi. Ngoài vảy nâu ở da nhất là vùng chỏm tai, bụng, bẹn,… thì bệnh cũng luôn có biểu hiện tiêu chảy phân màu vàng, khắm thối và có các triệu chứng của viêm phổi. Ở thể mãn tính, trong phân còn thấy sợi máu đông màu đỏ hoặc màu cà phê.

Điều trị

Bệnh đậu tuy có biểu hiện nhẹ hơn so với các bệnh nguy hiểm khác nhưng cần phải điều trị kịp thời để tránh bệnh thứ phát và biện pháp điều trị phải là biện pháp tổng hợp:

- Nên có chất độn dày cho lợn.

- Chuồng trại khô ráo, thoáng mát, tạm thời không tắm, không rửa chuồng.

- Cho lợn ăn thức ăn dễ tiêu.

- Trong nước uống cần dùng một số thuốc như sau:

+ T.cúm gia súc : 5g

+ T.avimicin hoặc T. Flox.C hoặc T.I.C: 5g

+ Điện giải TĐG.Năm Thái: 5g

Pha vào 1 lít nước cho lợn uống tự do, uống 5 ngày liên tục.

Nếu lợn sốt cao phải tiêm ngay một trong các loại thuốc sau:

+Vidan.T: 1ml/10kgP/lần ´ 2 lần/ngày

+Flodovet: 1ml/10kgP/lần ´ 2 lần/ngày

+ Macavet: 1ml/15kgP/lần ´ 48h/ lần ´ 3 lần.

+TCK: 1ml/10kgP/lần ´ 2 lần/ngày

+ Ceftiofur: 1g/300kgP/lần ´ 2 lần/ngày

Dùng thuốc liên tục 3 ngày.

Các nốt đậu dược bôi 5% của Vinadin 10%, xanh Metylen, 1‰ KMnO4 ngày bôi 2 lần và bôi liên tục 3 – 4 ngày.

Phòng bệnh

Phải đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi.

Khi phát hiện bệnh cần nhanh chóng can thiệp điều trị, tuyệt đối không xuất bán, vận chuyển lợn bị bệnh đậu ra khỏi vùng đang có dịch.

Cấm nhập đàn mới từ nơi khác về vùng dịch.

 

Nguồn tham khảo

Agritrade

Quan tâm  
2

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Cách Phòng Và Trị Bệnh Ung Thư Ở Chó Mèo
Ung thư là căn bệnh di căn phổ biến ở các giống vật nuôi kể cả loài thuần chủng hoặc giống lai, chó, mèo là hai giống vật nuôi có khả năng mắc phải bệnh ung thư cao nhất trong các loài vật khác. Bệnh ung thư ở vật nuôi gồm nhiều...
Cách Trồng Cà Pháo Để Có Quả Ăn Quanh Năm
Cà pháo là món ăn lâu đời của người dân Việt Nam, bài viết này sẽ hướng dẫn trồng cà pháo cho năng suất cao, ít sâu bệnh, từ cách làm đất, chọn giống cho đến lúc thu hoạch
COSIN-30 % LA
COSIN-30 % LA điều trị các bệnh do vi khuẩn mẫn cảm với Tilmicosin gây bệnh đường hô hấp, tiêu hóa trên trâu, bò, lợn, dê, cừu, gia cầm như: Viêm phổi, hen suyễn, phổi dính sườn, viêm da, viêm khớp, tụ huyết trùng, viêm vú, viêm tử...
Bệnh Leuco Trên Gà
Bệnh Leuco (Lymphoid - Leucosis) là bệnh truyền nhiễm ở gà gây ra bởi vi rút leuco. Bệnh phát ra trên gà từ 14 tuần tuổi trở lên, thường gặp nhất ở gà 24 - 40 tuần tuổi ở những đàn gà có số lượng lớn.
Giống Chó Curly Coated Retriever - Bình Tĩnh, Nhẹ Nhàng, Dễ Huấn Luyện, Rất Trung Thành Và Can Đảm, Chúng Sẽ Liều Mạng Để Bảo Vệ Những Người Thân Thuộc Của Mình Trong Trường Hợp Chủ Nhân Bị Đe Dọa
Giống chó Curly - Coated Retriever có bản tính bình tĩnh, nhẹ nhàng và cũng rất nhạy cảm. Chúng là giống vật nuôi rất dễ huấn luyện và tình cảm, đặc biệt rất thích chơi với trẻ em, Curly - Coated Retriever là một người bạn đồng hành...
Nuôi Thỏ Sinh Sản: Chọn Giống, Thiết Kế Chuồng, Thức Ăn Và Phòng Ngừa Dịch Bệnh
Chọn giống, thiết kế chuồng, thức ăn và phòng điều trị bệnh là những yếu tố thiết yếu trong nuôi thỏ sinh sản. Chuồng nuôi thỏ gồm 2 ô liên kết nhau theo chiều ngang, nhiều ô liên kết theo chiều dọc, tạo thành dãy...
Kỹ Thuật Ủ Thức Ăn Chăn Nuôi Bằng Men Vi Sinh Hoạt Tính
Hiện nay, ngành chăn nuôi đang gặp rất nhiều khó khăn khi dịch bệnh phát sinh ngày càng phức tạp, giá thức ăn tăng cao liên tục, vì vậy người chăn nuôi không có lãi. Nhằm giúp bà con nông dân chăn nuôi có lãi đồng thời giảm nhẹ gánh...
Cách Phòng Và Trị Bệnh Sốt Nóng, Tuyến Trùng, Lở Loét, Nấm Thủy Mi Và Đỉa Bám Cho Lươn
Để lươn khỏe mạnh cần vệ sinh ao nuôi và chăm sóc đúng quy trình để tránh được các bệnh như sốt nóng, tuyến trùng, lở loét, nấm thủy mi và đỉa bám....Tuy lươn là đối tượng dễ nuôi, nhưng hầu hết giống đều đánh...
Giống Chó Săn Hươu Scottish Deerhound - Với Ngoại Hình Cao Lớn Đây Là Loài Chó Được Giới Thượng Lưu, Quý Tộc Trong Thời Cổ Xưa Sử Dụng Trong Các Cuộc Săn Bắt Hươu Nai
Với ngoại hình cao lớn, mạnh mẽ giống chó Scottish Deerhound được giới thượng lưu quý tộc cổ xưa sử dụng trong các cuộc săn bắt hươu nai, với sự dũng mãnh, nhanh nhẹn, trung thành được ẩn chứa sau một tâm thái...
Kết Hợp Nuôi Tôm và Trồng Rau Thủy Canh Trong Nhà Màng Hiệu Quả Cao Tiết Kiệm 70% Chi Phí Đầu Tư
Là một kỹ sư điện và đang làm việc đúng ngành nghề, ông Lâm Thanh Hùng vẫn dành sự say mê cho ‘nghề tay trái’ – làm nông. Hiện ông Hùng đang thử nghiệm mô hình nhà màng nuôi tôm kết hợp trồng rau thủy canh với diện tích 300m²...