Thứ hai, 20/08/2018 7:21 AM

Tam Lăng

Thứ sáu, 13/10/2017 1:45 PM
Tên khác
Hắc tam lăng, Kinh tam lăng, Cồ nốc mảnh, Lòng thuyền

Tam Lăng là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Tam Lăng (Curculigo Gracilis) có tác dụng phá huyết, hành khí, tiêu tích, chỉ thống. Dùng trị trưng hà bĩ khối, ngực bụng đầy, ứ huyết, kinh nguyệt bế tắc sau khi đẻ, đau bụng do thực tích.

Tam Lăng
Tam Lăng

Mô t dược liệu

Dược liệu hình nón, hơi dẹt, dài 2 - 6 cm, đường kính 2 - 4 cm. Mặt ngoài màu trắng ngà hoặc vàng xám, nhăn, sần sùi, có vết dao cắt và những đốm sợi, sẹo của rễ sợi nhỏ xếp theo vòng ngang. Chất rắn chắc, nặng. Không mùi, vị nhạt, nhấm hơi có cảm giác tê lưỡi.

Vi phẫu

Mô khí của vỏ gồm những tế bào mô mềm có nhánh, các đầu nhánh nối liền với nhau tạo thành những khoảng gian bào. Tế bào nội bì sắp xếp dày đặc. Tế bào mô mềm ở trụ tròn, thành hơi dày, chứa những hạt tinh bột, rải rác có những bó mạch đôi ở bên, mạch không bị hoá gỗ. Tế bào tiết rải rác trong vỏ và trụ chứa chất tiết màu đỏ nâu nhạt.

Độ ẩm

Không quá 12 % (Phụ lục 5.16, 1 g, 1050C, 5 giờ).

Chế biến

Thu hoạch vào mùa đông đến mùa xuân, đào lấy rễ, rửa sạch, cạo lớp vỏ ngoài, phơi khô.

Bào chế

Loại bỏ tạp chất, ngâm, ủ mềm, thái lát mỏng, phơi khô.

Thố Tam lăng (chế giấm): Lấy Tam lăng phiến, tẩm giấm, ủ mềm, sao đến khi màu biến thành thâm. Hoặc lấy Tam lăng sạch, luộc chín đến 5/10 đến 6/10, thêm giấm vào lại đun chín 8/10, ngừng cho nước (lúc này không nên còn nhiều nước), ngừng đun, đậy kín vung và ủ cho mềm. Ngâm xong, lấy ra phơi nắng cho vỏ ngoài ráo nước, thái thành phiến, phơi khô. Cứ 10 kg Tam lăng cần 1,5 lít giấm.

Bài thuốc từ Tam Lăng

- Trị tích trệ bụng đầy chướng: Tam lăng 8g, Ba đậu 5 hột, Mạch nha 8g, Mộc hương 8g, Sa nhân 8g, Trần bì 8g, Trần mễ 40g, Ba đậu đem sao với Trần mễ rồi bỏ Ba đậu đi, Tán bột làm viên. Ngày uống 8–12g. Tác dụng: Tiêu tích tụ do khí thực. (Tam Lăng Hoàn IV – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

- Trị tích tụ, bụng đầy, ngực đầy, hoành cách môn bị ngăn nghẹn: Binh lang 40g, Cam thảo (nướng) 60g, Chỉ xác 40g, Mộc hương 40g, Quan quế 40g, Tam lăng 120g, Thanh bì 40g. Tán bột: Mỗi lần dùng 4g, nước 150ml. Sắc còn 100ml, uống ấm. (Tam Lăng Hoàn – Bác Tễ Phương).

- Trị phụ nữ tắt kinh do huyết ứ: Bụng dưới đau tức, sau sinh ứ huyết, bụng đau: Tam lăng, Nga truật, Quán chúng, Tô mộc đều 8g, Đương qui 12g, Thục địa 16g, Hồng hoa, Huyết kiệt, Nhục quế, Mộc hương đều 6g. Sắc nước uống. (Hòa Huyết Thông Kinh Thang).

- Chữa phụ nữ tự nhiên mất kinh vài tháng: Đương quy 14g, Xuyên khung 14g, Bạch thược 14g, Đảng sâm 12g, Đơn bì 12g, Quế chi 12g, Tam lăng 12g, Nga truật 12g, Ngưu tất 12g, Cam thảo 4g. Sắc uống 4-6 thang (Kinh Nghiệm Bản Thân)

- Trị viêm gan siêu vi, gan lách to: Tam lăng, Miết giáp, Đương qui, Bạch thược đều 12g, Nhân trần, Kim ngân hoa đều 20g, Sài hồ, Hồng hoa đều 8g, chế thành thuốc nước hoặc thuốc chích. Thuốc sắc mỗi ngày 2 lần, thuốc chích bắp mỗi lần 2ml, ngày 1 lần, 3 tháng là 1 liệu trình. (Kinh Nghiệm Dân Gian).

Trị ung thư:

-  Trị ung thư gan: dùng dịch tiêm Tam lăng, Nga truật 30%, 20 - 60ml mỗi ngày hoặc dịch tiêm Tam lăng, Nga truật 50%, 20 - 40ml/ngày, chích tĩnh mạch. Ngoài ra dùng 2 bài thuốc tán gồm: Tam lăng, Nga truật, Thủy điệt, Ngõa lãng tử, Tô mộc, Hồng hoa, Nguyên hồ, Hương phụ, Mộc hương, Sa nhân, Trần bì, Bán hạ, Hậu phác, Chỉ thực, Đại hoàng, Mộc thông. Trị 30 ca ung thư gan, kết quả tốt 3 ca, có kết quả 10 ca, không kết quả 17 ca, tỷ lệ kết quả 43,3%, kết quả đối với các ca muộn và xơ gan, quá trình dùng thuốc không phát hiện biến chứng ( Khoa ung thư Bệnh viện trực thuộc số 1 Viện Y học Thẩm dương, Tập san nghiên cứu phòng trị ung thư 1973,1:31).

Kết quả trị các ung thư: Tác giả dùng bài Phá thạch hợp tể ( Tam lăng, Xuyên phá thạch, Mã tiên thảo) trị 31 ca ung thư giai đoạn cuối ( trong đó, ung thư dạ dày, gan mỗi thứ 8 ca, ung thư thực quản 5 ca, ung thư cổ tử cung 3 ca, ung thư vú 2 ca, ung thư phổi, ung thư trực tràng .) kết quả tốt 5 ca, có kết quả 19 ca, không kết quả 7 ca.

- Trị chữa ngoài dạ con: Tác giả dùng bài thuốc gồm các vị: Tam lăng, Nga truật, Thủy điệt, Sinh Mẫu lệ, Đơn sâm. Trị 25 ca thai ngoài tử cung, kết quả 92% (Khoa Sản Bệnh viện số 1 Khu Long nham, Tạp chí Y dược Phúc kiến 1981,2:23).

Bảo quản

Để nơi khô, tránh mọt.

Tính vị, quy kinh

Tân, khổ, bình. Vào các kinh can, tỳ.

Cách dùng, liều lượng

Ngày dùng 4,5 - 9 g, dạng thuốc sắc.

Kiêng k

Phụ nữ có thai cấm dùng.  

 
Quan tâm  
2

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Xô Thơm - Salvia Officinalis
Từ xưa, cây Xô thơm (Salvia Officinalis) được xem là một loại thảo mộc thiêng liêng, đặc biệt là người La Mã tin rằng cây xô thơm có thể chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, kéo dài cuộc sống con người. Người Trung Quốc cũng đánh giá...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.