Thứ ba, 22/05/2018 1:36 AM

Toàn Tập Về Cách Sử Dụng Cây Hoa Sứ Để Trị Bênh: Viêm Xoang, Nhức Răng, Mất Ngủ, Thuốc Tẩy, Nhuận Tràng, Táo Bón, Cao Huyết Áp, Bong Gân...

Chủ nhật, 10/09/2017 9:32 AM

Cây Hoa Sứ hay còn gọi là cây đại, có khoảng 40 loài khác nhau, mặc định trong bài viết Toàn Tập Về Cách Sử Dụng Cây Hoa Sứ Để Trị Bênh là sử dụng cây sứ bông (hoa) trắng điểm vàng, Y Dược Việt Nam Sẽ chia sẻ cùng quý bạn đọc tất cả các bài thuốc dân gian giúp trị bệnh bằng các bộ phận của cây hoa sứ.

Hoa sứ trắng điểm vàng.

Trong y học dân gian các bộ phận của cây hoa đại đều có thể dùng làm thuốc như vỏ thân, vỏ rễ, hoa, nụ hoa, lá tươi và nhựa cây, nhưng sử dụng nhiều nhất là hoa. Toàn cây có chứa một loại kháng sinh thực vật là Fulvoplumierin, có tác dụng ức chế sự tăng sinh và phát triển của một số vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis.

Từng bộ phận khác nhau của cây có những công dụng khác nhau, chẳng hạn như trong vỏ thân có glucozit là agoniadin và một chất đắng là plumierit. Vỏ thân và rễ hơi có độc, vị đắng, tính mát. Lá cây đại chữa bong gân, sai khớp, mụn nhọt. Hay nhựa mủ chứa thành phần chủ yếu là axit plumeric có thể dùng nhựa mủ để tẩy xổ, nhuận tràng, chữa táo bón và thuỷ thũng. Hoa đại có công dụng tiêu đờm, trừ ho, hạ áp, làm thuốc chữa ho, kiết lỵ... hoa đại khô có công hiệu mạnh hơn hoa tươi.

Cây đại bông trắng điểm vàng.

1. Chữa cao huyết áp: Lấy từ 12 - 20g hoa đại (loại khô), đem sắc (nấu) lấy nước, uống thay trà trong ngày. Uống hằng ngày.

2. Bong gân: Dùng vài lá tươi rửa sạch, giã nhuyễn, trộn với một ít muối ăn đắp lên chỗ sưng. Lại dùng một ít lá tươi khác, hơ lên lửa cho héo và đắp phía ngoài rồi cố định bằng băng hoặc vải sạch. Ngày đắp 1- 3 lần liên tục như vậy 1 - 2 ngày.

3. Đau nhức hay mụn nhọt: Lấy lá tươi giã nhuyễn đắp vào.

4. Trị chân răng sưng đau: Lấy vỏ rễ ngâm rượu, dùng ngậm rất hiệu quả (chú ý không được nuốt vì có độc).

5. Trị ho: Dùng 4 - 12g hoa đại khô, sắc lấy nước, uống thay trà trong ngày (dùng loại hoa cánh trắng, tâm điểm vàng sẽ hiệu quả hơn).

Cây đại thường được trồng làm cảnh rất nhiều ở nước ta.

6. Chữa viêm xoang:

Từ lâu hoa sứ đã có mặt trong các vị thuốc đông y chữa viêm mũi dị ứng, viêm xoang. Bạn có thể mua hoa sứ đã được chế biến sẵn thành thuốc tại các tiệm thuốc nam hoặc có thể tự làm thuốc tại nhà theo cách sau:

- Hoa sứ nhặt những bông mới rụng xuống đất đem về rửa cho sạch bụi bẩn.

- Sắt hoa thành những sợi nhỏ và đem phơi khô rồi lấy giấy cuộn hoa lại giống như điều thuốc lá.

- Mỗi lần sử dụng lấy thuốc ra đốt cho cháy rồi thổi tắt cho thuốc ngun ngún bốc khói như điếu thuốc lá , đưa mũi lại gần và hít khói hoa bốc lên.

- Với loại thuốc này bạn nên hít 2 điếu 1 ngày để nhanh chóng giảm các cơn đau nhức do viêm xoang. Khi bệnh đỡ thì chúng ta giảm còn ngày 1 điếu.

7. Chữa mất ngủ:

Hoa đại trắng sấy khô làm ruột gối giúp giảm căng thẳng, thư giãn, êm dịu thần kinh với mùi hương hoa nhẹ nhàng dễ chịu rất tốt cho người hay bị mất ngủ. Cách làm như sau:

- Chọn những hoa đại mới rụng, đem rửa sạch, phơi dưới bóng râm cho thật khô.

- Trộn 1kg hoa đại khô với 0.2kg lá đinh lăng khô và một ít hoa oải hương và bông gòn, tất cả cho vào làm ruột gối.

8. Dùng làm thuốc tẩy và trị thũng nước (thủy thũng): Lấy 5-10g vỏ thân hay vỏ rễ cây đại, sắc đặc chia 3 lần uống trong ngày. Có thể chế nước sắc vỏ thân cây đại thành cao đặc, uống ngày từ 0,2-0,5g/ngày, có thể tăng dần lên 1-2g/ngày.

9. Chữa Áp xe: Theo kinh nghiệm dân gian, chúng tôi đã áp dụng rất thành công về việc dùng mủ cây sứ để điều trị cho hàng trăm bệnh nhân bị các trường hợp như sau:

- Ápxe cơ sau tiêm chích (chưa hóa mủ).

- Viêm tấy sau tiêm phòng văcxin ở trẻ em.

- Mụn nhọt do tụ cầu xuất hiện ở da trẻ em và người lớn trong mùa hè nóng bức.

- Đặc biệt những bệnh nhi ápxe đa cơ được điều trị kết hợp với kháng sinh thì chóng lành hơn.

Phương pháp dùng mủ cây hoa sứ như sau: ngắt từng ngọn lá, chúng ta sẽ thấy mủ chảy ra từ cọng lá; rồi bôi lên mảnh giấy vở học trò có kích cỡ bằng diện tích vùng da bị viêm tấy và dán vào vùng da đó. Mỗi ngày bôi dán khoảng hai lần. Bệnh nhân không đau, không rát, không ngứa. Thời gian điều trị và lành bệnh trung bình 4 - 5 ngày. Trong quá trình điều trị chúng tôi chưa thấy có tác dụng phụ nào xảy ra. Tuy nhiên cần lưu ý khi thực hiện không cho mủ vấy vào mắt trẻ em.

Đây là phương pháp lưu hành trong dân gian rất có hiệu quả đối với các loại ápxe chưa hóa mủ, chúng ta dễ thực hiện và không tốn kém.

Hoa sứ có mùi thơm dịu dễ chịu, giúp an thần, dễ ngủ.

10. Nhuận tràng: Lấy 4-5 g vỏ thái mỏng, sao thơm, sắc với 200 ml nước, chia làm 3 lần uống trong ngày.

11. Chữa táo bón: 

- Dùng 5-10 g vỏ đại thái mỏng, sao thơm, sắc với 200 ml nước, chia làm 3 lần uống trong ngày.

- Hoặc: Vỏ đại 50 g, cám gạo 50 g, sao vàng, tán nhỏ rồi rây thành bột mịn, trộn với hồ làm viên 0,5 g. Người lớn dùng 15 viên mỗi ngày, trẻ em 5-9 tuổi uống 5 viên, 10-15 tuổi uống 10 viên. Chia thuốc uống làm 2 lần với nước đun sôi để nguội (không dùng nước chè).

12. Chữa bệnh ưa chảy máu: Người ta lại còn dùng Hoa đại làm thuốc chữa bệnh ưa chảy máu có kết quả tốt. Ngày dùng 10-15g dạng thuốc sắc. Không dùng cho người suy nhược toàn thân; ỉa chảy và phụ nữ có thai. 

13. Chữa chai chân, sưng tấy, mụn nhọt: Lấy nhựa cây đại bôi lên vùng chân bị chai hoặc sưng tấy, mụn nhọt.

14. Thuốc an thần: Hoa đại khô thái nhỏ 100 g, hoa cúc vàng khô thái nhỏ 50 g, hoa hòe (sao vàng) 50 g, hạt quyết minh (sao đen) 50 g. Tất cả tán thành bột, chia thành gói 10 g. Mỗi ngày dùng 1-2 gói, hãm uống thay nước chè trong ngày. Thuốc có tác dụng bảo vệ mao mạch, làm giảm nhẹ huyết áp, an thần, gây ngủ nhẹ.

Lưu ý: Người suy nhược, già yếu, phụ nữ có thai, tiêu chảy không nên dùng do các thành phần trong cây có tác dụng tẩy xổ khá mạnh và hơi có độc. Cần tham vấn thầy thuốc trước khi sử dụng.

 
Quan tâm  
9

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Nấm Độc Trắng Hình Nón - Amanita Virosa
Khi bị ngộ độc Nấm Độc Trắng Hình Nón (Amanita Virosa) bệnh nhân sẽ đau bụng, buồn nôn, nôn dữ dội, khát dữ dội và ỉa chảy kéo dài 2-3 ngày, sau đó người bị ngộ độc sẽ bị co giật, mất ý thức, tổn thương gan thận, hôn...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Tùng Lam - Isatis Tinctoria
Theo các nhà nghiên cứu tại Viện thí nghiệm cây công nghiệp ở Bologna (Ý), trong cây Tùng Lam (Isatis tinctoria) có chứa một lượng lớn glucobrassicin (GBS), một chất có khả năng chống ung thư và hiện được sử dụng như nguồn dược liệu...
Triệu Chứng Và Cách Xử Lý Khi Ngộ Độc Tetrodotoxin
Tetrodotoxin rất độc với thần kinh, ức chế kênh natri, đặc biệt ở cơ vân, ngăn cản phát sinh điện thế và dẫn truyền xung động, hậu quả chính là gây liệt cơ và suy hô hấp, dễ tử. Để được cứu sống, bệnh nhân cần được đảm...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Đại Phong Tử
Đại Phong Tử là dược liệu sử dụng hạt của cây chùm Bao Lớn (Hydnocarpus Anthelmintica)có vị cay, tính nóng, có độc. Được dùng trị phong ngứa, phong cùi, lở loét, giã nát đắp lên hoặc đốt tồn tính trộn dầu mè xức vào. Giang...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.