Thứ bảy, 17/11/2018 11:48 PM

Nguyễn Hữu Thị Lan Là Người Thế Nào Mà Khiến Vua Bảo Đại Phế Cả Hậu Cung Để Lấy Một Mình Bà Làm Hoàng Hậu?

Thứ năm, 27/07/2017 6:33 PM

Trong lịch sử, việc trở thành hoàng hậu dường như là ước mơ của nhiều người, không dám có điều kiện hay yêu cầu gì khác. Thế nhưng riêng với Nam Phương hoàng hậu, vua Bảo Đại đã phải bỏ qua nhiều điều cấm kỵ, thậm chí bãi bỏ luôn cả hậu cung chỉ để cưới được bà làm vợ.

Triều nhà Nguyễn rất kỵ việc sắc phong hoàng hậu sớm. Ngoại trừ Thừa Thiên Cao hoàng hậu và Thuận Thiên Cao hoàng hậu thời vua Gia Long đầu nhà Nguyễn ra, cho đến tận cuối nhà Nguyễn, trước thời vua Bảo Đại, thì phi tần chết rồi mới có người được phong làm hoàng hậu. Thế nhưng ngày cưới cũng chính là ngày mà vua Bảo Đại tuyên bố sắc phong cho Nam Phương hoàng hậu, vua cũng bãi bỏ luôn cả hậu cung và cam kết “một vợ một chồng” với bà.

Nam Phương hoàng hậu trong triều phục năm 1934.

Mặc dù sau này, Bảo Đại đã liên tục có thêm những cuộc tình khác (mà trong đó hai người được gọi là “thứ phi”, mặc dù ông đã thoái vị), nhưng trong suốt những năm đầu ngồi trên ngai vàng, quả thật vua Bảo Đại đã rất trân trọng và tuân thủ lời hứa đối với Nam Phương hoàng hậu. Sự buông thả này có lẽ chỉ có Bảo Đại và những người quanh ông ở thời điểm khó khăn những năm 1940 mới biết được chính xác câu trả lời…

Nhưng rốt cuộc thì hoàng hậu Nam Phương mang trong mình điều gì mà khiến vua Bảo Đại phải phá bỏ các phép tắc và vượt qua sự phản đối của hoàng tộc để cưới được bà?

Thân thế

Nam Phương hoàng hậu tên thật là Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Hào, tên thánh là Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh năm 1914, con của một gia đình hào phú vùng Nam Bộ ở huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường (nay thuộc thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang). Ông ngoại của bà là Lê Phát Đạt – người giàu nhất Nam Bộ đầu thế kỷ 20.

Lúc còn trẻ, Nguyễn Hữu Thị Lan đã nổi tiếng bởi dáng người cao, xinh đẹp, lại có học thức. Năm 12 tuổi bà đã sang Paris, Pháp, học ở trường Couvent des Oiseaux. Đến năm 18 tuổi (1932), có sách ghi rằng bà đậu tú tài rồi về nước. Nếu đây là sự thật thì quả là điều hiếm có với người phụ nữ Việt vào thời đó. Nhưng về vấn đề này, vua Bảo Đại chỉ ghi là: “Elle vient de terminer ses études au Couvent des Oiseaux, en France”, có nghĩa là “cô ấy vừa mới kết thúc học tập tại trường Couvent des Oiseaux, Pháp”.

Nam Phương Hoàng hậu thời còn học ở Pháp.

Năm 1933, Nguyễn Hữu Thị Lan gặp vua Bảo Đại và một năm sau thì tổ chức lễ cưới. Có nhiều người cho rằng trước khi gặp vua Bảo Đại, bà đã 3 năm liền là hoa hậu Đông Dương. Nhưng theo một số nhà sử học thì thời Pháp thuộc chưa từng có cuộc thi Hoa hậu Đông Dương. Hơn nữa Nguyễn Hữu Thị Lan sang Pháp từ năm 12 tuổi, từ Pháp về nước năm 1932, đến khi gặp vua Bảo Đại là mùa hè năm 1933, thời gian 1 năm ngắn ngủi khó có thể tham dự đến 3 cuộc thi cỡ “Hoa hậu Đông Dương” trừ phi các cuộc thi này được tổ chức ở Pháp. Nhưng cũng không có tư liệu nào về một cuộc thi như vậy ở Pháp cả.

Tất nhiên, dù không phải hoa hậu, Nguyễn Hữu Thị Lan vẫn sở hữu nhan sắc và sự thùy mị khiến vua Bảo Đại say mê…

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Trong hồi ký của mình, vua Bảo Đại kể rằng cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa ông và Nam Phương hoàng hậu diễn ra tại Đà Lạt vào mùa hè năm 1933, trong bữa tiệc của quan Đốc lý người Pháp.

Còn hoàng hậu Nam Phương thì kể:

Hôm đó ông Darle, Đốc Lý thành phố Đà Lạt gởi giấy mời cậu Lê Phát An tôi và tôi đến dự dạ tiệc ở Hôtel Palace. Tôi không muốn đi nhưng cậu An tôi năn nỉ và hứa với tôi là chỉ đến tham dự một chút và vái chào nhà Vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng và tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài và chỉ mặc cái áo dài bằng lụa đen mua bên Pháp thôi. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì ông Darle trông thấy, ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vô nhà. Vừa đi ông vừa nói: “Ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng mới được”. Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành chính giữa nhà. Ông Darle bước tới bên cạnh Vua rồi nghiêng mình cúi chào và kính cẩn nói:

-Votre Majesté, Monsieur Lê Phát An et sa nièce, Mademoiselle Marie Thérèse. (Tâu Hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse)

Vua Bảo Đại viết về cảm xúc khi gặp mặt vợ lần đầu: “Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê”.

Còn hoàng hậu Nam Phương sau này kể lại rằng:

Nhờ các nữ tu ở trường Convent des Oiseux khi trước từng chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với bậc quân vương, vì vậy tôi đã không ngần ngại đến trước mặt Hoàng đế quỳ gối và cúi đầu sát nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi kéo tôi dậy mới đứng lên. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi theo nhịp Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện.

Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài mới cho tôi biết hôm đó Ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người đàn bà Việt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và theo cung cách lễ nghi Âu tây đối với ngài.

Khách Sạn Palace Đà Lạt, nơi gặp mặt lần đầu của vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương.

Bảo Đại cũng viết trong cuốn “Con rồng Việt Nam” rằng:

Sau lần hội ngộ đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie Thérèse thường nhắc đến những kỉ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú. Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi đã chọn từ kép Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng. Các vị Tiên Đế của tôi cũng thường hướng về người đàn bà miền Nam. Nếu tôi nhớ không sai thì trước Hoàng hậu Nam Phương, có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ nhân của Hoàng thành Huế. Khi chọn phụ nữ miền Nam làm vợ, hình như đức Tiên Đế và tôi đều nghĩ rằng trước kia đức Thế Tổ Cao Hoàng đã được nhân dân miền Nam yểm trợ trong việc khôi phục giang sơn. Chính đó là sự ràng buộc tình cảm giữa Hoàng triều Huế với người dân miền Nam.

Nhưng để đến được với nhau, vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu còn phải vượt qua hai khó khăn lớn là tôn giáo và sự ngăn cản của triều đình.

Vượt qua những trở ngại

Theo vua Bảo Đại, từ ngày ông về nước (16/8/1932) chấp chính, có rất nhiều những tin đồn xung quanh việc chọn một người vợ cho ông. Thân mẫu vua là bà Từ Cung đã đành, mà các vị quan lớn trong triều, mỗi người đều có đề cử riêng, quá nhiều người, quá nhiều đề cử. Có tài liệu cho rằng hoàng tộc ở Huế đã chọn Bạch Yến là ái nữ của quan thượng thư Nguyễn Đình Tiên làm vợ vua. Vậy thì sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Thị Lan là một xáo trộn nằm ngoài dự liệu.

Bên cạnh đó, trở ngại lớn nhất là Nguyễn Hữu Thị Lan theo Công giáo. Khi trở về Huế, vua Bảo Đại ngỏ ý lấy vợ theo Công giáo, lại được đào tạo ở Tây phương. Một con gái gia đình không chức tước, quen tự do phương Tây, lại theo Công giáo thì làm sao có thể giữ được khuôn phép khi làm dâu hoàng tộc? Bà Tử Cung không đồng ý vì muốn một cô con dâu truyền thống, quan lại có người chống đối vì quyền lợi, có người ái ngại vì văn hóa khác biệt, rồi còn vấn đề giáo dục con cái theo đạo nào và thờ cúng tổ tiên như thế nào nữa…

Hoàng hậu Nam Phương được đào tạo ở Tây phương, có học thức.

Các đại thần, nhất là cụ Tôn Thất Hân, người đứng đầu Viện Cơ mật và Tôn Nhân phủ đã phản đối gay gắt việc vua Bảo Đại lựa chọn Nguyễn Hữu Thị Lan làm vợ.

Nhưng cuối cùng, vua Bảo Đại cứng rắn đáp lại triều đình: “Trẫm cưới vợ cho trẫm chứ có cưới vợ cho cụ Tôn Thất Hân và triều đình đâu!”

Bên cạnh những khó khăn đó, vua Bảo Đại còn phải đồng ý với điều kiện của gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan:

- Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong Hoàng Hậu Chánh Cung ngay trong ngày cưới.
- Được giữ nguyên đạo Công giáo, và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo và giữ đạo.
- Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.
- Phải được Tòa Thánh cho phép đặc biệt hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau.

Để vua Bảo Đại và Nguyễn Hữu Thị Lan tiến đến hôn nhân, người Pháp đã xin Tòa Thánh Vatican cho phép ai giữ đạo riêng, thế nhưng đám cưới đang đươc chuẩn bị thì Tòa Thánh trả lời không đồng ý. Đám cưới vẫn diễn ra, và vì điều này mà hoàng hậu Nam Phương bị Giáo hoàng rút phép thông công, đến khi Giáo hoàng mới lên kế nhiệm vào năm 1939 mới tha phạt vạ.

Trong hồi ký của mình, vua Bảo Đại kể rằng sau khi làm đám cưới xong, vua gửi cho Giáo Hoàng Pius 11 một lá thư qua trung gian người Pháp, trong đó bày tỏ quan điểm lập trường cởi mở của mình đối với cuộc hôn nhân, vấn đề dạy dỗ con cái, và sự khác biệt trong văn hóa Đông – Tây.

Đối với Nguyễn Hữu Thị Lan, bà cũng phải đương đầu với một vấn đề khác. Những chỉ dụ cấm đạo và sát đạo hồi nào mới chỉ vừa ráo mực, nếu là một người không có sự mạnh mẽ, can đảm, có đức tin, thì liệu có dám dấn thân làm hoàng hậu hay không? Có thể nói rằng bà đã rất dũng cảm khi đi đến quyết định đó.

Nam Phương hoàng hậu.

Vượt qua những trở ngại ấy, tận đến khi rước dâu, bên phía nhà trai thậm chí có rất ít người đi, khiến nhà gái phải chờ nhà trai mất một ngày vì sự chậm trễ.

Dù nhà trai bị gượng ép phải đồng ý cuộc hôn nhân này, nhưng đám cưới cuối cùng cũng được hoàn tất. Một đám cưới thu hút rất nhiều sự quan tâm và bình luận lúc bấy giờ bởi vì nó phá bỏ hầu hết các quy định phép tắc trước đó.

Vua Bảo Đại có giải thích thêm về hai chữ Nam Phương như sau:

Tôi đã chọn tên trị vì cho Hoàng Hậu mới là Nam Phương. Nam Phương có nghĩa là hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) và tôi cũng ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép nàng được phục sức màu vàng – màu dành riêng cho Hoàng đế.

Về đám cưới, Bảo Đại viết trong hồi ký:

Nam Phương mặc chiếc áo rộng thùng thình, chân đi hài mũi cong, đầu đội vương miện có đính vàng ngọc châu báu óng ánh. Nàng đi một mình đến giữa tấm thảm, tất cả triều thần cúi chào. Với một vẻ đẹp tuyệt vời nàng đi thẳng vào các phòng lớn, tôi đang ngồi chờ nàng trên một cái ngai thấp ở đó. Nàng đến đứng trước mặt tôi, cúi đầu chào tôi ba lần rồi ngồi ở cái ngai bên phải của tôi. Buổi lễ ngắn ngủi chấm dứt. Hoàng hậu đã ở bên tôi, chúng tôi sánh vai nhau bước đi trong tiếng nhạc mừng qua Tử Cấm Thành vào điện Kiến Trung – nơi ở và làm việc của chúng tôi.

Ông cũng bày tỏ:

Lần đầu tiên trong lịch sử triều Nguyễn
có một người phụ nữ xuất hiện giữa triều đình.

Và đó chính là Nam Phương hoàng hậu.

Như đã đề cập ở trên, có đặt mình vào địa vị của Nam Phương hoàng hậu thì mới thấy những khó khăn mà bà phải chịu đựng. Cái khó lớn lao nhất mà bà phải đương đầu chính là tín ngưỡng Công giáo của bà. Những chỉ dụ cấm đạo hồi nào mới chỉ vừa ráo mực, lòng người chưa ổn. Nam Phương hoàng hậu hẳn phải là người có cá tính, can đảm và có đức tin.

Người ta nói rằng Nam Phương hoàng hậu có tham vọng lớn khi cưới vua Bảo Đại, nhưng có lẽ chưa hẳn. Giả dụ là một người phụ nữ khác thì sao? Liệu có bỏ tất cả, làm tất cả và bằng bất cứ giá nào để được làm hoàng hậu hay không? Ấy vậy mà Nam Phương hoàng hậu không làm thế, bà không chỉ kiên định đối diện, kiên định là chính mình, mà cũng kiên định vượt qua.

Nam Phương hoàng hậu thời còn đi học – Ai có thể ngờ rằng đây sẽ là vị hoàng hậu
 cuối cùng của Việt Nam, một con người của sự can đảm, đức tin và đức hạnh…

Hiểu đến cội nguồn mới hiểu được nhân cách của Nam Phương hoàng hậu, cái cao quý của một nhân phẩm và cái trong sáng, ngay thẳng của một người phụ nữ có giáo dục. Chỉ về một điểm này thôi, bà đã là người đáng nể trọng.

Lịch sử cũng cho thấy những trường hợp trước đây của miền Nam, mà có lần vua Bảo Đại đã gọi là miền đất hứa, đã cống hiến cho triều Nguyễn những người con gái tài sắc vẹn toàn. Đầu tiên phải kể đến là bà Từ Dụ, vợ vua Thiệu Trị và là mẹ vua Tự Đức. Bà là tiêu biểu cho một lớp người phụ nữ đức hạnh, có học vấn, làm gương sáng cho mọi người trong triều đình. Tiếp theo đó là bà Hồ Thị Hoa, vợ đầu của vua Minh Mạng, là người đức tốt nhưng yểu mệnh. Cha chồng là Gia Long hoàng đế rất thương bà mà ra lệnh kiêng kỵ chữ Hoa trong tên bà. Nó đã trở thành câu một câu chuyện nổi tiếng, dẫn đến việc đổi tên hàng loạt của các địa danh trong nước, cho đến tận ngày nay. Và cuối cùng là Nam Phương hoàng hậu, một bông hoa đặc biệt mang “hương thơm của miền Nam”.

Nam Phương hoàng hậu là người phụ nữ đầu tiên có Tây học trong triều đình.

Nam Phương hoàng hậu là người phụ nữ đầu tiên có Tây học trong triều đình. Mang theo nếp sống và nếp nghĩ phương Tây, bà trọng tinh thần tự do, trọng ý thức xã hội. Bà không phải là người chỉ quanh quẩn trong cung chờ được vua Bảo Đại chú ý đến. Bà tham dự vào tất cả: họp với quan bộ Lễ, nghị sự và tổ chức các buỗi lễ tế.

Ví như lễ Vạn Thọ khánh tiết mừng sinh nhật vua thời bấy giờ do bà tham gia cũng có những sự đổi mới. Trong khi ở điện Thái Hòa, mọi người có dịp bày tỏ lòng trung thành, đồng thời chúc thọ nhà vua; thì ở ngoài đường, các học sinh đi diễu hành, tay cầm cờ Long Tinh. Bên trong hoàng thành thì tổ chức các màn múa hát do các nữ học sinh trung học trình diễn và màn dâng hoa cho vua và hoàng hậu. Chỉ nhớ lại các buổi lễ với lề lối tổ chức, cho nữ sinh vào ca hát, dâng hoa, người ta đã hiểu những quyết định đổi mới đến từ đâu rồi.

Nam Phương hoàng hậu cùng các thành viên trong hoàng gia An Nam viếng thăm điện Elysee tại Pháp.

Nam Phương hoàng hậu cũng là người phụ nữ đầu tiên ở nước Việt cùng vua tiếp khách ngoại quốc như Thống chế Tưởng Giới Thạch, Quốc trưởng Shianouk. Điều mà Nam Phương hoàng hậu đã làm từ thời đó bây giờ được người ta gọi là vai trò của đệ nhất phu nhân.

Nam Phương cũng là vị hoàng hậu đầu tiên xuất cung, tham gia các sinh hoạt xã hội, đi thăm các cô nhi viện, đi thăm trường nữ sinh Trung học Đồng Khánh tại Huế và Hà Nội…

Nam Phương hoàng hậu viếng thăm ngôi trường trước đây bà theo học tại Pháp.

Trong tập san Đồng Khánh có viết lại một kỷ niệm gặp gỡ Nam Phương hoàng hậu của một cô nữ sinh niên khóa 1937-1941 mang tên Nguyễn Thị Huyền như sau:

Ngày bà Nam Phương đến thăm lớp, cô Thục Viên, giáo sư Pháp Văn vẫn đứng trên bục giảng chìa tay đứng bắt tay hoàng hậu và từ tốn trả lời các câu hỏi của hoàng hậu, không hề mất chủ động. Trong khi đó Nguyễn Tiến Lãng, người đi cùng hoàng hậu muốn tâu gửi gì với hoàng hậu đều quỳ xuống đất. Cô xin phép tiếp tục giảng. Hoàng hậu dự giảng và sau đó cho gọi học sinh giỏi Văn lớp là chị Nguyễn Thị Thứ lên thưởng cho một bức ảnh do hoàng hậu ký tên. Thái độ đường hoàng của cô đã gây cho chúng tôi một niềm tự hào chính đáng. Trong lúc ấy chúng tôi cũng thích vẻ đẹp dịu dàng Đông phương và thái độ bình tĩnh không có vẻ gì hách dịch của Nam Phương hoàng hậu.”

Giản dị hoá lễ nghi, giản dị trong giao tiếp giữa người trên với kẻ dưới, có tư tưởng phóng khoáng và ngay thẳng, Nam Phương hoàng hậu đã làm thay đổi bộ mặt của triều đình. Toàn quyền Decoux cũng hết lời khen ngợi bà là người phụ nữ đức hạnh, nền nếp, một sự tổng hợp của hai nền văn hoá đạo đức Đông Tây.

Nam Phương hoàng hậu cũng mang một nét gì đó rất Đông phương…

Ngày chủ nhật, Nam Phương hoàng hậu đi lễ nhà thờ Phủ Cam như mọi người dân bình thường. Đó cũng là một chuyện lạ. Người phụ nữ theo Kitô giáo đầu tiên trong ngôi vị hoàng hậu của Việt Nam, và cũng là người phụ nữ cuối cùng với vai trò hoàng hậu, điều này ngày nay nghĩ lại cũng khó mà tưởng tượng được.

Mặc dù bởi vì đức tin của mình, Nam Phương hoàng hậu đã không thể nào làm tròn trách nhiệm trong các nghi thức thờ cúng phương Đông, nhưng bà đã mang lại cho hoàng cung, và trên hết là mang lại cho người phụ nữ Việt Nam một cái gì đó mới mẻ.

Nam Phương hoàng hậu thăm La Mã.

Đức Đông Tây đều đủ – Sự hiền từ, đức hạnh, nền nếp của phương Đông, cùng với tư tưởng tự do, cởi mở và đức tin phương Tây đã làm nên một sự dung hòa tưởng chừng không thể. Nam Phương hoàng hậu chính là một gợi ý to lớn cho những mâu thuẫn về nữ quyền trong xã hội Việt Nam ngày nay…

Ngày cưới, Nam Phương hoàng hậu xuất hiện giữa triều đình nhà Nguyễn, chung quanh đầy văn võ bá quan, nhưng bà vẫn “seule” và cả đời bà sau này cũng “toujours seule”…

Nam Phương hoàng hậu trong ngày cưới.

Vua Bảo Đại đã viết về Nam Phương hoàng hậu trong ngày cưới như thế này: “pour la première fois dans l’histoire de l’Annam, une femme s’avance seule, saluée par toute la Cour. Toujours seule, elle pénètre dans la grande salle òu je l’attends, assis sur un trône bas”.

Có nghĩa là: “lần đầu tiên trong lịch sử An Nam, một người phụ nữ một mình bước tới, được cả triều thần cúi chào. Vẫn luôn một mình, nàng đi thẳng vào phòng lớn, nơi tôi đang ngồi chờ nàng trên một cái ngai thấp”.

Dù chung quanh đầy bá quan văn võ, Nam Phương hoàng hậu vẫn “một mình”, và gần như cả phần đời sau này bà cũng “vẫn luôn một mình”. Trong suốt những năm sống ở Huế, bà “vẫn luôn một mình” như thế giữa đám thị nữ, quan thần, dòng tộc, “một mình” với tiếng nói, tôn giáo, văn hóa, học vấn. Cái “một mình” ấy đã theo đuổi suốt cuộc đời bà. Thật không ngờ rằng nhận xét của Bảo Đại trong ngày cưới lại mang một cái gì đó thật định mệnh và oan trái tới cho Nam Phương hoàng hậu…

Nam Phương hoàng hậu là một người phụ nữ hiền thục và nhân từ. Suốt những năm ở ngôi hoàng hậu, cũng như mãi về sau này, bà hầu như chưa hề có một điều tai tiếng hay một lời oán trách với triều đình. Vốn tiếp thu nền giáo dục Âu Tây, có đầu óc cởi mở và tiến bộ, Nam Phương hoàng hậu đã nhẫn nhịn sống trong cung và đối diện hàng ngày với lễ nghi, với những bộ mặt nghiêm nghị, bảo thủ và đua tranh. Điều đó hẳn là khó lắm.

Nam Phương Hoàng Hậu là người phụ nữ hiền thục và nhân từ.

Nhưng công bằng mà nói, Nam Phương hoàng hậu đã làm tròn chức trách của một “đệ nhất phu nhân” như kỳ 2 có bàn tới. Bà cũng được nhiều người đánh giá là người thiết tha với đất nước. Sau Tuyên cáo Việt Nam độc lập của vua Bảo Đại ngày 11/3/1945, khi Pháp muốn quay trở lại Việt Nam, Nam Phương hoàng hậu đã viết một bức thư gửi cho một số nước ở châu Á, tố cáo hành động xâm lăng của Pháp bấy giờ. Thư viết:

Kể từ tháng 3 năm 1945, nước Việt Nam đã thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp nhưng vì lòng tham của một thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục chảy trên mảnh đất vốn đã có quá nhiều đau khổ. Hành động này của thực dân Pháp là trái với chủ trương của Đồng Minh mà nước Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha thiết yêu cầu những ai đã từng đau khổ vì chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành động để giúp chúng tôi chấm dứt chiến tranh đang ngày đêm tàn phá đất nước tôi.

Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi và bạn bè của nước Việt Nam hãy bênh vực cho tự do. Xin các chính phủ của khối tự do sớm can thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng bào của chúng tôi.

Ký tên:

Bà Vĩnh Thụy
(Tức Nam Phương hoàng hậu)

Sau khi Bảo Đại thoái vị ra Hà Nội, bà Nam Phương ở lại cung An Định, Huế, cùng các con. Lúc này, bà rất lo lắng cho số phận của chồng ở Hà Nội, lại phiền não vì bản tính phong lưu của Bảo Đại, dù trong những năm đầu cưới nhau khi ông còn tại vị, ông thật sự đã giữ lời hứa bãi bỏ hậu cung với bà. Những cuộc tình của Bảo Đại sau này thì chúng ta cũng chẳng nhắc đến làm gì nữa.

Nam Phương Hoàng Hậu cùng 2 con.

Đến cuối năm 1946 và đầu 1947, tình hình chính trị và quân sự ở Huế trở nên bất ổn, nên bà Nam Phương và các con rời khỏi cung An Định đến ở trọ tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, rồi lánh nạn ở Ngân hàng Đông Dương. Cuối cùng, bà và các con được quân đội Pháp hộ tống đi Đà Nẵng, sau đó dùng máy bay lên Đà Lạt tạm trú ở nhà người chị ruột và rời khỏi Việt Nam đi Pháp vào giữa năm 1947. Trong nỗi buồn thầm lặng, bà đưa con đến sống tại lâu đài Thorenc ở Cannes của Pháp, biệt thự riêng của gia đình Bảo Đại.

Con tem hình Nam Phương hoàng hậu với
ánh mắt rất buồn. 

Khác với Bảo Đại ăn tiêu hoang phí, túi lúc nào cũng nhẵn, bà Nam Phương có một sản nghiệp riêng ở Neuilly, nhà cửa ở Maroc, một căn nhà ở đại lộ Opéra, một lãnh địa ở Congo và những đồ vật quý giá. Tất cả những chi tiết viện dẫn này chỉ được viết ra một cách dè dặt và không dám chắc, vì chẳng dễ gì người ta có thể biết được đích xác những tài sản của bà.

Rồi để tránh báo chí dòm ngó, bà Nam Phương dắt con về sống ở Chabrignac, tỉnh Corrèze, vùng Limousin (cách Paris 500 km về phía Nam), trong một trang trại rộng 160 ha. Đó là một ngôi làng hẻo lánh với dân số chưa tới 400 người, với những ngọn đồi và những căn nhà mái ngói sạm.

Trớ trêu thay, Chabrignac là nơi cư ngụ của hai nhân vật nữ hàng đầu của Việt Nam thời bấy giờ. Một là hoàng hậu Nam Phương, hai là công chúa Như Lý, con vua Hàm Nghi. Thời trẻ, công chúa theo vua cha bị đầy sang Algérie rồi sau đó về cư ngụ ở đây. Nhưng hai người phụ nữ ấy không có giao thiệp với nhau.

Căn nhà trên lãnh địa Chabrignac gồm 32 phòng, 4 buồng khách. Bà có vẻ thích hợp với nơi ở mới này. Những người phục dịch nhớ lại bà tươi cười, ca hát và ham sống khác hẳn trước. Bà tự đi mua sắm một mình trên chiếc xe Dauphine luôn luôn có một người đàn bà hầu cận. Bà rất bình dị, niềm nở tiếp chuyện nên được người địa phương yêu quý.

Nhưng dân Chabrignac kể rằng, bà Nam Phương vẫn sống âm thầm và có phần cô đơn. Bảo Đại chỉ đến đây có 3 lần trong suốt 5 năm trời bà ở đây. Thỉnh thoảng bà mới về thăm Paris vài ngày. Có lẽ niềm vui lớn nhất là dịp nghỉ hè, các con mới có dịp về thăm bà. Sức khỏe của bà ngày càng suy yếu do bệnh suyễn và tim.

Nam Phương hoàng hậu và các con.

Ngày 13/9/1963, bà từ Brive trở về thì thấy đau cổ. Hôm sau, bà thấy khó thở. Những người bồi phòng kêu bác sĩ tới, nhưng không có ai. Bà cứ thế thở dốc lên, mệt nhọc. Cảnh sát, lính cứu hoả đến làm hô hấp nhân tạo nhưng đều quá trễ. Bà mất im lặng như thế vào ngày 14/9, “vẫn luôn một mình”… Sau thì hai hoàng tử và ba công chúa mới về.

Đám tang vị hoàng hậu cuối cùng của Việt Nam được tổ chức một cách sơ sài lặng lẽ như những năm tháng cuối đời của bà. Hôm đưa đám, ngoài hai hoàng tử và ba công chúa đi bên cạnh quan tài mẹ ra, thì chỉ có một điều trùng hợp. Đó là bà công chúa Như Lý vừa là hàng xóm, vừa là bà con với hoàng hậu mà trong năm năm, họ chưa hề giao thiệp.

Đại Nam Nam Phương hoàng hậu chi mộ.

Mộ hoàng hậu Nam Phương thật đơn sơ với hai hàng chữ bằng hai thứ tiếng khác nhau, một là chữ Hán, một là chữ Pháp. Bia chữ Hán dịch là:

ĐẠI NAM NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU CHI MỘ
(Mộ phần của hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam)

Còn bia chữ Pháp đề:

ICI REPOSE L’IMPÉRATRICE D’ANNAM
NÉE MARIE THÉRÈSE NGUYEN HUU THI LAN
(Đây là nơi an nghỉ của hoàng hậu Việt Nam
nhũ danh Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan)

Ngôi mộ làm bằng xi-măng đơn sơ. Mộ bia cũng bằng xi-măng, nên góc dưới bên mặt bị bể một miếng nhỏ. Nhìn qua ngôi mộ, ai cũng có thể bảo ngôi mộ từ khá lâu không được tu bổ, chỉnh trang… Gia đình bà làm tạm để chờ cơ hội cải táng đem về quê hương Gò Công hay Đà Lạt. Nhưng khi gia đình xin phép thì chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm từ chối, nên đành phải chôn cất tại nghĩa trang Chabrignac.

Vậy là Nam Phương hoàng hậu nằm cô đơn trong một vùng hẻo lánh trên đất khách, ít người viếng thăm trông nom. Bà là một đệ nhất phu nhân, một vị hoàng hậu thông minh tài giỏi của nước Việt, mà lại còn là người có lòng với đất nước. Phần đời bà còn rất nhiều điều chưa được sáng tỏ, nhưng phải chăng chính cái phần bóng tối ấy lại là nơi trú ẩn an toàn nhất mà bà muốn giữ lại đem về bên kia thế giới?

“Toujours seule” – “Vẫn luôn một mình”

Đó quả là một lời nhận xét định mệnh cho cuộc đời của Nam Phương hoàng hậu.

 
Quan tâm  
8

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Bài viết cùng chuyên mục

 
5 Điều Giúp Rèn Luyện Tính Kỷ Luật Cho Bản Thân
Đã bao nhiêu lần bạn lên kế hoạch dậy sớm để tập thể dục mà không thành vì ma lực ấm áp của chiếc giường? Tải đủ phần mềm, băng đĩa học ngoại ngữ nhưng rồi lại bỏ xó cho đóng bụi chơi. Bạn à! nếu...
Nỗi Lòng Bồ Đề Sư Tổ
Danh sư ắt xuất cao đồ. Thầy giỏi thì đồ đệ sẽ giỏi giang. Nhưng giỏi giang phải trong khuôn khổ, kỷ luật, để thầy còn ngẩng mặt tự hào khi chúng ta thành công và thành nhân. Chưa có ông thầy nào trên đời mong học trò mình thất...
Những Đôi Mắt Hút Hồn Nhân Loại
Không chỉ dùng để nhìn, đôi mắt còn là cửa sổ tâm hồn, đôi khi chỉ cần nhìn vào nơi ấy thôi là ta có thể đoán được tính cách một người. Chuyện đó sẽ được bàn trong một chủ đề khác. Bài viết này sẽ giới thiệu đến bạn...
Oán Trời Trách Người Để Được Chi, Phải Chăng Là Tự Vượt Lên Được Nghịch Cảnh Mới Là Đỉnh Cao Của Minh Trí
Khi gặp chuyện bất lợi, không theo ý mình thay vì oán trời trách người, thì chỉ có mạnh mẽ vượt lên chính mình mới là thực tại, chỉ có tự mình đi trên con đường của chính mình mới là minh trí.
Tổng Thống Mỹ Lyndon B. Johnson và Câu Chuyện Tranh Cử Đại Biểu Quốc Hội Vùng Texas
Thế giới này nhiều người như thế nhưng suy cho cùng thì chỉ có 2 loại mà thôi: Kẻ thất bại và người thành công. Vậy những người thành công suy nghĩ và hành động ra sao, họ có khác biệt so với người đối lập, câu chuyện về vị...
Lợn Đi Chợ: Than Thân Và Trách Phận Không Bao Giờ Thay Đổi Được Thời Cuộc
Khi tai hoạ tới, sợ hãi và than thân trách phận cũng không thể thay đổi được thực tế. Cách tốt nhất là cố gắng thay đổi vận mệnh của mình ngay từ đầu. Câu chuyện Lợn Đi Chợ hôm nay sẽ giúp bạn hiểu hơn về dụng ý này.
Đọc Sách Như Kết Giao Bằng Hữu, Nên Cầu Ít Mà Tinh Tường
Lời hay ý đẹp của cổ nhân không phải do ngẫu nhiên, tùy hứng mà có. Bởi nó được đúc rút qua biết bao thế hệ, được mài gọt từ thực tế "phũ phàng" của bao kiếp nhân sinh để rồi lưu truyền cho hậu thế và dưới đây là những...
Trận Thủy Chiến Vàm Nao: Nhà Nguyễn Đập Tan Hơn 4 Vạn Quân Xiêm La Xâm Lược
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ta đã phải chịu không biết bao nhiêu cuộc sâm lăng của các thế lực hùng mạnh và hầu hết các cuộc chống giặc ngoại sâm đều diễn ra trên sông. Trận thủy chiến trên sông Vàm Nao vào thời...
Truyền Thuyết Về Sự Xuất Hiện Của 4 Mùa Trong Thần Thoại Hy Lạp
Hiện chúng ta đang sống trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông nhưng bạn có biết vì sao có 4 mùa này không? Một câu chuyện hay thấm đưỡm tình yêu thương trong thần thoại Hy Lạp sẽ là lời giải thích hợp lý cho điều này.
10 Vạn Hùng Binh Của Nước Bột Hải Bị 1 Đạo Thư Của Lý Bạch Dọa Lui
Thái sư là bậc đại thần, đại úy là cận thần, thì cũng chỉ là quyền quý trong nhân gian. Học sĩ họ Lý kia lại là thần tiên giáng trần, đặc biệt đến để giúp đỡ Thiên triều, còn có loại người nào dám sánh cùng cơ chứ!