Thứ bảy, 20/01/2018 12:27 AM

Cây Đậu Trắng - Vigna Unguiculata

Thứ ba, 25/04/2017 4:03 PM
Tên khác
Đậu mắt đen, Đậu trắng nhỏ, Đậu mắt cua, Bạch tiểu đậu, Bạch đậu
Tên khoa học
Vigna unguiculata subsp. unguiculata (L.) Walp.
Tên nước ngoài
Black eyed pea, Black eyed bean

Cây Đậu Trắng hay còn gọi là Đậu mắt đen, Đậu trắng nhỏ vì nó trắng và chỉ nhỏ như hạt đậu đen, xanh, đỏ…; khác đậu trắng to tên thuốc là bạch biển đậu. Ở Việt Nam nó còn có tên Đậu mắt cua vì ở rốn hạt có chấm đen trông như mắt con cua. Nước ngoài gọi nó là đậu mắt đen (black - eyed pea). Tên khoa học Vigna unguiculata. Subsp V.u.unguiculata, họ đậu Fabaceae.

Vườn đậu trắng

Mô tả:

Thân thảo, hằng năm hoặc lâu năm, dây leo hay trường hoặc hơi thẳng, trồng như cây sống hàng năm, hệ thống rễ cái phát triển mạnh, và rễ phụ bên và ngẩu nhiên nhiều, thân đạt đến khoảng 4 m, có góc cạnh, hơi có gân.

Lá kép, mọc cách, 3 lá phụ, lá kèm hình bầu dục khoảng 0,5 đến 2 cm dài, cuống lá dài 15 (-25 ) cm dài, có rãnh ở mặt trên, phồng to bên dưới, lá bẹ phụ nhỏ, lá phụ hình trứng hay hình thoi (1,5–)7–14(–20) cm × (1–)4–10(–17) cm, mặt bên bất đối xứng, bìa nguyên, đôi khi có thùy, láng hoặc hơi có lông mịn, với 3 gân lá phát xuất từ đáy.

Phát hoa, chùm giả, mọc ở nách lá hoặc ở ngọn nhánh 2 đến 4 hoa, đạt được khoảng 35 cm dài, hoa hợp lại thành nhóm gần đỉnh ngọn.

Hoa lưỡng tính, có cuống dài khoảng 1-3 mm, lá hoa phụ hình muỗng, rụng sớm. Đài hoa hình chuông, ống đài khoảng 5 mm, thùy hẹp hình tam giác khoảng 5 mm dài. Cánh hoa màu hồng đến màu tím nhạt, đôi khi màu trắng hoặc màu vàng nhạt, cờ rất rộng hình bầu dục, khoảng 2 cm dài, lườn khoảng 2 cm dài. Tiểu nhụy 10, bao gồm 9 hợp dính với nhau, 1 rời, bao phấn đồng dạng. Bầu noản thượng, khoảng 1,5 cm dài, vòi nhụy cong, phủ lớp lông mịn ở phần trên, nuốm hình cầu nghiêng.

Trái, đậu hình trụ thẳng 8–30(–120) cm dài, thẳng hoặc hơi con, với một mỏ ngắn, láng hơi có lông mịn, máu nâu khi trưởng thành, bên trong chứa khoảng 8-30 hạt.
Hạt, hình chữ nhật gần như hình cầu, thường nén lại ở cạnh ngang 0,5–1 cm dài, màu đen, nâu, hồng hoặc trắng, tể hình thuôn dài, bao bởi một tấm màng màu trắng, với tử y lớp màng bao hạt màu đen nhạt. Cây con nẩy mầm trên mặt đất, lá mầm hình thuôn dài hay hình lưỡi liềm, dày, 2 lá đầu tiên ( song tử diệp ) đơn và mọc đối, những lá kế tiếp mọc cách có 3 thùy.

Quả đậu trắng già

Phân bố:

Đậu mắt đen có nguồn gốc ở Ấn Độ và được trồng rộng rãi ở châu Á sau dó được di thực và trồng rộng rãi ở châu Mỹ (từ thế kỷ 17 đến nay). Đậu mắt đen thường được dùng trong các bữa ăn truyền thống của người da đen ở miền Nam nước Mỹ. Đậu mắt đen làm giàu nitơ cho đất, có giá trị dinh dưỡng cao.

Hạt đậu trắng

Bộ phận sử dụng: Rễ, lá, và hạt.

Thành phần dinh dưỡng:

Đậu mắt đen có chứa: calories (160); protein (5,23g); carbohydrate (33,5g); tổng số chất béo (0,63g); chất xơ (8,2g).

Đậu mắt đen còn là nguồn cung cấp giàu canxi (211mg/chén), folate (209mg/chén), và vitamin A (1305 IU).

Sử dụng trong dân gian:

Theo truyền thống vùng miền Nam Mỹ, đậu mắt đen mang lại sự thịnh vượng vào năm mới. Đậu thường được nấu với thịt lợn (thịt hun khói, thịt jăm bông, thịt mỡ sấy khô), hành tây thái hạt lựu, kèm với nước sốt ớt nóng hoặc giấm có chút hạt tiêu.

Hầu hết các loại đậu đều có các thành phần dinh dưỡng giống nhau và vì vậy chúng cùng có những tác dụng kể trên.

Theo các nhà nghiên cứu Michigan, các loại đậu sấy khô sẽ có giá trị dinh dưỡng nhiều nhất và mang lại nhiều lợi ích nhất cho cơ thể, đặc biệt là đậu xanh, đậu đen, đậu trắng (đậu mắt cua).

Các nhà nghiên cứu đưa ra lời khuyên chung là mỗi tuần dùng 3 cốc, nhưng một số kết quả nghiên cứu khác lại cho rằng, chỉ cần 1 cốc mỗi tuần là đủ mang lại những lợi ích tối đa cho sức khỏe.

Ở Việt Nam dùng đậu này nấu chè đậu trắng, xôi đậu trắng với nước dừa, nấu với cơm. Đậu mắt đen (đậu mắt cua) đã được thế giới nghiên cứu rất công phu và sâu sắc về mọi mặt: thực vật học, thành phần hóa học. Năm 1995 đã có cả một luận án tiến sĩ (400 trang) nghiên cứu sâu thành phần hóa học (6 saponin, 2 ancaloit…) của đậu mắt đen (trong luận án cũng đã kể đến kinh nghiệm của Việt Nam). Trong lúc đó ở Việt Nam thì hầu như chưa thấy được quan tâm đến đậu này, ngoài một số cách dùng đơn giản theo kinh nghiệm địa phương và thường là nấu cháo (ở một số tỉnh Tây Bắc) cũng chưa có được nhận xét gì đặc biệt để phát huy tiềm năng của đậu mắt đen theo nguyên lý của Đông y và kết hợp Đông Tây y.

Đậu mắt đen mới được trọng dụng từ 10 năm nay ở một số địa phương nước ta xuất phát từ kinh nghiệm dùng nó kết hợp với tỏi chữa tăng huyết áp cho kết quả đối với một số thể bệnh tăng huyết áp. Giá bán đậu mắt đen từ đó mà ngày càng tăng cao, có nơi là 5.000 đồng 1 lạng (gấp 5 lần lúc đầu).

Theo sách Đông y: bạch tiểu đậu có hạt giống như hạt xích tiểu đậu, nhưng sắc nó trắng cho nên người ta gọi là “Bạch đậu”, giống đậu này khi nó còn non tươi luộc mà ăn thì ngon và mát. Bạch tiểu đậu khí bình, vị cam, không độc. Bạch tiểu đậu, bổ được 5 tạng, điều hòa được trung nguyên, giúp ích được 12 kinh mạch. So với tư liệu của các loại đậu khác thì tư liệu Đông y nói về đậu trắng nhỏ còn chưa được bao nhiêu.

Ông Tôn Tự Mạc đời Đường nói ở sách “Thiên kim dực” rằng: Bạch đậu có thể sát được quỷ khí. Nó là một thứ thuốc của Thận kinh, cho nên nói rằng khi Thận kinh có bệnh mà dùng nó thì rất tốt.

Các nhà y học Nhật Bản và Trung Hoa bàn về bạch đậu rằng: bạch đậu nó có thể làm cho người ta ấm áp được tràng vị.

- Lá đậu trắng (bạch đậu diệp): dùng nó nấu mà ăn có thể làm cho người ta lợi được 5 tạng, hạ được nghịch khí xuống , lá non của nó dùng cũng tốt. Dùng lá cũng giống như hạt…

Bài thuốc đậu - tỏi chữa cao huyết áp:

Công thức và cách dùng như sau: 100g tỏi ta, 100g đậu trắng (loại đậu màu trắng, mày cũng màu trắng, hạt to hơn hạt đậu đen một chút), 2 lít nước. Tỏi bóc vỏ rửa sạch, đậu vo sạch, cho cả vào 2 lít nước ninh nhừ tới khi còn xâm xấp (còn khoảng 1/8 lượng ban đầu) thì cho vào rây chắt lấy nước uống hết một lần; Có thể ăn luôn cả hạt đậu và tỏi đã nhừ. Mỗi tháng uống 1 lần, người bệnh nặng (huyết áp từ 180/100 trở lên) có thể uống 2 lần/tháng. Nên uống khi nước còn ấm và trước bữa ăn khoảng 1 - 2h cho khỏi ngán khi đến bữa cơm.

 
Quan tâm  
6

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Kỹ Năng Sơ Cứu Khi Bị Bỏng, Nghẹt Thở, Chảy Máu, Mất Nước, Ngất Xỉu, Hạ Thân Nhiệt Hoặc Bị Vật Sắc Nhọn Đâm
Những kỹ năng sơ cấp cứu cơ bản có thể cứu sống người khi cần thiết. Hô hấp nhân tạo, sơ cứu người bị chết đuối, sơ cứu người bị đau tim, bỏng, cháy máu nhiều, tắc thở vì dị vật, cách di chuyển nạn nhân là các kỹ năng...
Trị Ho Gà, Viêm Da Nứt Nẻ Do Lạnh, Cảm Mạo, Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em Bằng Châu Chấu Lúa
Theo dược học cổ truyền, Châu chấu lúa có vị cay ngọt, tính ấm có tác dụng chỉ khái c, tư bổ cường tráng, trị chứng kinh phong, giải độc thấu sang, thường dùng để chữa cho trẻ co giật Ho gà, viêm da nứt nẻ do lạnh, cảm mạo,...
Cây Nấm Phiến Đốm Chuông - Panaeolus Campanulatus
Nấm Phiến Đốm Chuông mọc trên phân hoại mục ở các bãi cỏ từ tháng giêng tới tháng 9, thường riêng lẻ hoặc họp thành nhóm nhỏ. Có gặp ở Hà Nội, Hải Hưng. Lớp thịt mỏng, màu da sơn dương. Thịt không mùi, chứa những chất...
Cây Mi Hồ Đào - Actinidia Pilosula
Theo Đông y, Mi Hồ Đào (Actinidia Pilosula) có vị ngọt, chua, tính hàn; tác dụng giải nhiệt, chỉ khát (làm hết khát nước), thông lâm (giúp thông tiểu tiện, ngừa sỏi niệu), tiêu viêm, lưu thông khí huyết. Thường dùng chữa sốt nóng,...
4 Bước Thải Độc Bằng Nước Lọc Của Người Nhật Giúp Da Đẹp, Dáng Thon Và Cơ Thể Căng Tràn Sức Sống
Gần đây bạn thấy cơ thể mệt mỏi, da xạm và bắt đầu mọc mụn... đó là một trong những dấu hiệu báo cơ thể bạn cần thải độc rồi đấy. Mà cách làm các loại nước Detox thì rất tốn kém và chiếm nhiều...
Cách Ngâm Rượu Hồi Xuân Dùng Khi Thận Dương Bất Túc, Tinh Thần Mệt Mỏi, Liệt Dương, Cơ Thể Suy Nhược
Rượu Hồi Xuân có tác dụng bổ âm, bổ dương, bồi nguyên cố thể, điều dưỡng khí huyết. Trị thận dương bất túc, tinh thần mệt mỏi, liệt dương, lãnh tinh do khí huyết hư tổn gây nên, eo lưng đầu gối mỏi đau...
Chân Vịt: Trị Phù Thũng, Nhiều Mồ Hôi, Nhiệt Miệng Khô Khát, Ăn Ngủ Kém, Mệt Mỏi, Đau Bụng Kinh, Sản Phụ Thiếu Sữa, Đại Tiện Không Thông
Chân vịt tác dụng, bổ hư, lợi thấp, dưỡng gân xương, thông huyết mạch... trị chứng khí huyết đều hư, chứng phù thũng, nhiều mồ hôi, nội nhiệt miệng khô khát, ăn ngủ kém, mệt mỏi, ra nhiều mồ hôi, đau bụng kinh, sản phụ...
Dương Huyết
Tiết dê (dương huyết) có vị mặn, tính bình, có công dụng chỉ huyết, khứ ứ. Được dùng trị thổ huyết, chảy máu cam, xuất huyết và cầm máu vết thương.
Cây Ngải Tượng
Cây Ngải Tượng hay còn gọi là Cây Bình vôi có tác dụng an thần, trấn kinh, chữa mất ngủ, sốt nóng, nhức đầu, khó thở, chữa đau dạ dày. Trong huyền môn thì nó được dùng để gọi người trở về, trông giữ của cải cho gia chủ...