Thứ sáu, 22/06/2018 6:39 AM

Chim Chào Mào - Pycnonotus Jocosus

Thứ năm, 02/03/2017 11:10 AM
Chim Có Mào Dài Nhọn
Chim Có Mào Dài Nhọn
Dưới Mắt Có Vệt Đỏ Thắm
Dưới Mắt Có Vệt Đỏ Thắm
Mỏ Và Chân Đen
Mỏ Và Chân Đen
Dưới Đuôi Đỏ
Dưới Đuôi Đỏ
Mắt Nâu
Mắt Nâu
Chim Chào Mào Đang Ăn
Chim Chào Mào Đang Ăn
Lông Cổ Trắng
Lông Cổ Trắng
Trứng Chim Chào Mào
Trứng Chim Chào Mào
Chim Chào Mào Con
Chim Chào Mào Con

Chim Chào Mào (Pycnonotus Jocosus) trưởng thành có mào dài và nhọn. Trán, đỉnh đầu, mào, trước mắt và hai bên đầu đen. Mặt lưng, kể cả cánh và đuôi nâu, các lông cánh sơ cấp viền màu nhạt hơn và mút các lông đuôi hai bên có vệt trắng. Phía dưới mắt có việt đỏ thắm. Má trắng viền đen.

Chim Chào Mào - Pycnonotus Jocosus
Chim Chào Mào - Pycnonotus Jocosus

Cằm và họng trắng. Hai bên ngực có vệt nâu thẫm lớn tạo thành vòng đứt đoạn ở trước ngực. Bụng trắng nhạt hay trắng, hai bên sườn và đùi nâu nhạt. Dưới đuôi đỏ. Mắt nâu. Mỏ và chân đen.

Chim chào mào có tên tiếng Anh là Red-whiskered Bulbul, tên khoa học là (Pycnonotus jocosus) và là một thành viên trong bộ chim sẻ biết hót, được phân bố hầu hết khắp châu Á. Chúng chính là loài được giới thiệu ở các nước nhiệt đới châu Á và do đó, chúng có những khu vực dành riêng do chúng tạo lập. Chúng ăn trái cây và côn trùng nhỏ và dễ thấy trên các nhánh cây vì các "cuộc gọi của họ" từ 1 - 4 âm tiết. Chúng có một cái mào dễ nhận biết, hai má trắng và phía trên "mảng" trắng là màu đỏ do đó khiến chúng có tên tiếng Anh là râu đỏ (Red-whiskered). Tại Việt nam, tùy theo vùng miền mà chúng có tên gọi khác nhau: Hoành hoạch mồng, chóp mũ đỏ, đít đỏ ... nhưng tên thông dụng nhất vẫn là chào mào.

Chúng là một trong nhiều loại chim được mô tả đầu tiên bởi nhà động vật vật - thực vật học - bác sĩ người Thụy Điển Calorus Linnaeus vào năm 1758 trong một tập sách xuất bản viết về các công trình của ông có tên gọi là Systerma Naturae. Trong đó, ông đã đặt chúng cùng với họ bách thanh là "Lanius".

Tại vùng châu Á, chúng có nhiều tên gọi khác. Cụ thể Turaha pigli-Pitta tại Telugu, bulbul Sipahi tại Bengali hay bulbul hoặc Kanera bulbu Phari trong tiếng Hinddi.

Trong tự nhiên, chào mào thường sinh sống trong các khu vực có nhiều cây cối, bụi rậm nhưng không phải là rừng rậm. Môi trường của chúng chính là những chảng cây hay rừng thưa, hầu như chúng xuất hiện vào một thời gian nào đó chưa xác định trong năm với một đàn lớn với rất nhiều cá thể. Với giọng hót đặc biệt, chúng rất dễ dàng xác định vị trí khi đậu trên một nhánh cây cao hoặc trên ngọn cây. Giọng hót được đánh giá là "dễ nghe" với tiếng hót được lập lại nhiều lần được miêu tả là Pettigrew-kick hoặc Pettigrew phiên dịch là "tôi muốn gặp mặt". Đó là giọng hót thường được nghe, nhất là những buổi sáng sớm. Tuổi thọ trung bình được ghi nhận là 11 năm.

Kích thước:

Cánh: (đực): 85 - 90, (cái): 82 - 87; đuôi: 86 - 96; giò: 21 - 22; mỏ: 14 - 15mm.

Phân bố:

Chào mào phân bố ở Bắc ấn Độ, Bắc Miến Điện, Bắc Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương. Ở Việt Nam loài này rất phổ biến từ biên giới phía Bắc cho đến Hải Vân và Kontum.

Sinh sản, hành vi sinh thái:

Mùa sinh sản được bắt đầu từ tháng mười hai đến tháng năm ở miền nam Ấn Độ và từ tháng ba đến tháng mười ở miền bắc Ấn Độ. Có cặp có thể sinh sản 2 lần/năm. Những màn "ve vãn" của con trống là những hành vi như cúi đầu, đuôi nhâm nhấp và cánh rũ xuống. Tổ có hình dạng cốc và được xây dựng ở bụi cây, tường tranh hoặc trong những bụi cây nhỏ. Tổ được kết dính từ các nhánh cây chắc chắn với các thành phần của rể cây và cỏ và có thể được tạo thêm từ vỏ cây, giấy hay những mảng nilon. Mỗi ổ thường chứa từ 2-3 trứng có màu đất màu hoa cà nhạt với các đốm nâu. Trứng đo được là dài 21 mm và rộng 16 mm. Trứng mất 12 ngày để nở. Chim bố mẹ đều tham gia trong việc nuôi con. Chim non được bố mẹ đút sâu bướm và côn trùng được thay thế bằng trái cây và dâu khi chúng bắt đầu trưởng thành. Trứng và chim non là đối tượng thức ăn của giống chuột lang và quạ. Trong thời gian con non còn trong ổ, khi phát hiện có sự nguy hiểm, chim mái thường giả vờ bị thương hay giả chết để đánh lạc hướng kẻ thù.

Mỗi cặp khi vào mùa sinh sản, chúng sẽ bảo vệ ổ trong một diện tích khoảng 0,3 ha đến 0,75 ha. Thông thường, có đến hàng trăm con và thường ngủ trên một ngọn cây cao và thông thường, những nhánh cây này hay đong đưa.

Việc sinh sản rất dễ dàng trong chuồng nuôi với điều kiện nuôi nhốt. Đặc biệt đã có sự ghi nhận phủ giống lai tạo giữa các loài trong họ hoành hoặch, đó là các loài Pycnonotus cafer, Pycnonotus leucotis, Pycnonotus xanthopygos, Pycnonotus melanicterus và Pycnonotus leucogenys với những cá thể có sắc tố bạch tạng (leucism). (sẽ có phần phụ lục giới thiệu về 5 loài chim trên trong họ hoành hoặch)

Đây là loài chim lồng rất phổ biến tại các vùng Ấn Độ đã được ghi nhận trên tạp chí của Hiệp hội châu Á của Bengal. Chúng yêu cầu nuôi dạy sử dụng thế chiến trận/chiến thuật với dáng vẻ không hề sợ hãi. Chúng cũng được yêu cầu dạy dỗ cho đứng trên lòng bàn tay hoặc ngón tay. Và là loài đang phát triển mạnh mẽ trong thế giới chim lồng ở các vùng tiếp theo tại Đông Nam Á.

Các phân loài:

Đây là điều làm người viết rất ngạc nhiên và bất ngờ khi biết loài chim chào mào này có đến 9 phân loài. Cả 9 phân loài đều tập trung tại châu Á và đều có hình dáng rất giống nhau. Nhưng sự phân biệt cho từng phân loài cụ thể dựa vào các yếu tố :

- Hình dạng của yếm,

- Độ đậm nhạt và độ dày mỏng của 2 miếng vá đen chạy từ vùng vai xuống bụng,

- Màu sắc phía trên lưng đen hay đen nâu,

- Mức độ bông trắng của phần lông đuôi và độ dài của phần trắng của lông đuôi ấy.

- Phần gốc mũ ở đỉnh đầu rậm hay thưa (như cách gọi so sánh là mũ kim hay sừng mà chúng ta hay gọi).

- Kích thước hình thể to hay nhỏ - ...

Các phân loài có tên và vùng phân bố tập trung được liệt kê sau đây:

- Pycnonotus jocosus jocosus (Linneaus, 1758), được tìm thấy ở phía đông nam Trung Quốc - khu vực đông Quý Châu đến Quảng Tây, phía đông Quảng Đông và Hong Kong.

- Pycnonotus jocosus fuscicaudatus (Gould, 1866) phân bố tại bán đảo Ấn Độ, khu vực phía tây và trung tâm Ấn Độ. Phần yếm đã gần như hoàn chỉnh và phần màu trắng ở cuống họng (cổ) rõ ràng, không có màu trắng nằm cuối cùng ở lông đuôi. (dể hiểu hơn là đuôi không có bông trắng).

- Pycnonotus jocosus abuensis (Whistler, 1931) - Tây Bắc Ấn Độ (phía tây tỉnh Rajasthan, bắc Maharashtra, nhưng vắng mặt tại nhiều khu vực khô hạn). Có yếm đen nhạt màu, trông có vẻ như bị đứt từng đoạn và đuôi cũng không có bông trắng.

- Pycnonotus jocosus pyrrhotis (Bonaparte, 1850) - Bắc Ấn Độ (từ phía đông Punjab đến Arunachal Pradesh) và Nepal. Có phần lưng nhạt màu, phần yếm hoàn chỉnh như phân loài Pycnonotus jocosus fuscicaudatus và phần lông đuôi có bông trắng rất rõ ràng.

- Pycnonotus jocosus emeria (Linnaeus, 1758) - Phía đông Ấn Độ (vùng phía nam đồng bằng sông Hằng đến Rameswaram, ở Tamil Nadu), Bangladesh, phía bắc, tây và nam Myanmar (bao gồm cả Arakan Hills) và cả miền tây nam Thái Lan. Có màu nâu đậm trên lưng, yếm đen mỏng và thanh mảnh, mũ kim - Đây là loài đã được du nhập vào Florida trong khoảng năm 1960 - 1971.

- Pycnonotus jocosus whistleri (Deignan, 1948) được tìm thấy trong các quần đảo Andaman, có một màu nâu ấm áp ở phần lưng, có mũ kim, yếm đen dày nhưng ngắn hơn nhiều so với phân loài Pycnonotus jocosus emeria.

- Pycnonotus jocosus monticola (Horsfield, 1840) - phân bố phía đông dãy Himalaya ở Đông Bắc Ấn Độ và Tây Tạng, phía đông, phía nam và đông bắc Myanmar và Trung Quốc (khu vực phía tây và nam ở Vân Nam). Có màu trắng ở bụng tối và trông có vẻ "bẩn" hơn.

- Pycnonotus jocosus Pattani (Deignan, 1948) - phân bố ở phía cực nam của Myanmar, cực nam ở Tenasserim), Thái Lan, phía bắc bán đảo Malaysia, Lào và nam đông dương Đông Dương.

- Pycnonotus jocosus hainanensis (Hachisuka, 1939) - phân bố tại bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (khu vực nam Quảng Đông, bao gồm cả Nao Chow Tao).

Và một phân loài có tên là Pycnonotus jocosus peguensis được ghi nhận mô tả từ miền nam Miến Điện nhưng đến nay chưa được hiệp hội công nhận.

Tài liệu dẫn: Chim Việt Nam hình thái và phân loại - Võ Qúi - tập 2 trang 84.

theo Vncreatures.net, Nhanonglamgiau.com

 
Quan tâm  
4

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Câu Chuyện Ly Kỳ Về Nhà KHoa Học Alexander Flemming Phát Hiện Ra Penicillin
Trong nhiều thế kỷ trước, con người đã biết cách dùng nấm để trị các chứng viêm. Tại Anh, vào giữa thế kỷ XVII, John Parkinson, một vị thầy thuốc hoàng gia đã biết cách chữa trị các vết thương bằng cách dùng rêu áp lên để vết...
Hồ Bà Dương: Từng Chôn Vùi 70 Vạn Đại Quân Của Trần Hữu Lượng và Những Vụ Đắm Tàu Huyền Bí Giờ Chỉ Còn Là Đồng Cỏ
Có diện tích lớn gấp 3 lần thủ đô Luân Đôn nước Anh, hồ nước ngọt Bà Dương từng là một địa điểm du lịch nổi tiếng. Tuy nhiên hạn hán đang dần giết chết và biến hồ nước này thành đồng cỏ khô.
Giải Pháp Biến Sa Mạc Thành Đất Trồng Tươi Tốt
Nếu không có giải pháp thì đến năm 2045 khoảng 135 triệu người sẽ mất nhà và kế sinh nhai do đất đai bị sa mạc hóa. Thật may, gần đây 1 công ty của Na Uy đã phát minh ra một phương pháp giúp biến đất sa mạc thành đất trồng tươi...
Những Hòn Đảo Biết Di Chuyển Tại Peru
Hấu hết các hòn đảo tự nhiên đều không thể di chuyển nhưng đây lại là trường hợp ngoại lệ, hòn đảo này có hơn 500 người sinh sống và đặc biệt là nó có thể di chuyển đấy.
Trực Thăng Có Thể Hoạt Động Trên Sao Hỏa Được Không?
Con người đang dần bước sang một kỷ nguyên mới trong công cuộc khám phá vũ trụ khi NASA tuyên bố sẽ đưa trực thăng lên sao Hỏa vào năm 2020. Đây là một bước tiến cực lớn, chưa có tiền lệ.
8 Phát Minh Vượt Thời Gian Của Leonardo Da Vinci Khiến Hậu Thế Không Khỏi Thán Phục
Leonardo da Vinci là một trong những nghệ thuật gia nổi tiếng nhất của lịch sử nhân loại. Ngoài danh hoạ nổi tiếng, ông cũng là một nhà phát minh thiên tài trong các lĩnh vực xây dựng dân dụng, hóa học, thủy động lực học, quang học,...
10 Bức Ảnh Đẹp Nhất Của Giải Thưởng Nhiếp Ảnh Động Vật Hoang Dã Năm 2017
Hai chú cá thòi lòi đồng ca, sóc nhảy híp hóp hay voi biển bị sốc trước những tiết lộ của bạn mình là 3 trong 10 Bức Ảnh Đẹp Nhất Của Giải Thưởng Nhiếp Ảnh Động Vật Hoang Dã Năm 2017.