Thứ hai, 22/10/2018 2:54 PM

Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn

Thứ sáu, 21/10/2016 2:43 PM
Tên Khác
Bệnh viện Saint – Paul, Bệnh viện B, Phòng khám Sinh Từ Bệnh viện Ba Đình
Năm thành lập
1911
Địa chỉ đầy đủ
12, Chu Văn An, Phường Điện Biên, Quận Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại
(84-4) 38 233 069
Website
http://bvxanhpon.vn
Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn
Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn

Lịch sử hình thành và phát triển của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Saint Paul) gắn liền với các giai đoạn lịch sử của đất nước. Bệnh viện ra đời vào những năm đầu của thế kỉ XX, thế kỉ của chủ nghĩa anh hùng ca cách mạng mà dân tộc Việt Nam là một trong những đại diện tiêu biểu. Việt Nam đã ghi những trang vàng vào lịch sử giải phóng dân tộc bằng những mốc son chói lọi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thần kì. Một thế kỉ so với bốn nghìn năm lịch sử của đất nước chưa phải là dài nhưng với truyền thống vẻ vang ấy Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn hoàn toàn có quyền tự hào về quá khứ và tin tưởng vào một tương lai huy hoàng, xán lạn trong những thiên niên kỉ tiếp theo.

1. Thời kỳ đầu thành lập (1911-1970)

Năm 1911, Toàn quyền Đông Dương A. Klobukowski hết nhiệm kì, Albert Sarraut sang thay, Nhà nước bảo hộ Pháp quyết định cho phép Bệnh viện Saint Paul (Ancient Hôpital Saint Paul) được nhận điều trị người bản xứ, thay vì chỉ là cơ sở chữa bệnh cho các quan thầy Pháp. Cơ sở vật chất ban đầu của bệnh viện nằm cạnh nhà thờ Saint Paul, nằm trong khuôn viên của bệnh viện có tượng Thánh Paul và có xây dựng thêm một số dãy nhà về hướng đông. Phía bắc bệnh viện giáp với đường Félix Faure (nay là đường Trần Phú), phía nam giáp với đường Gurue Duvillier (nay là đường Nguyễn Thái Học), phía đông giáp với Đại lộ Avenue Van Vollenhoveh (nay là đường Chu Văn An), phía tây giáp với Đại lộ Avelue Briere de Lisle (nay là đường Hùng Vương).

Thời kì này Bệnh viện Saint Paul chỉ có một khoa ngoại với 90 giường bệnh, tiếp nhận các bệnh nhân cấp cứu bụng, chấn thương, tiết niệu và bỏng, do các thầy thuốc người Pháp đảm nhiệm.  Như vậy, cùng với Bệnh viện Phủ Doãn, Bệnh viện Quân đội Đồn Thủy, Bệnh viện Ngoại khoa Saint Paul là những cơ sơ ngoại khoa đầu tiên của Hà Nội trước năm 1954.

Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp nhưng chỉ bắt giữ giới cầm quyền và quân sự Pháp mà không đụng chạm đến các trí thức dân sự, do vậy các hoạt động ở Bệnh viện Saint Paul vẫn diễn ra như thường lệ.

Ngày 19/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương, nhân dân cả nước đã nhất tề nổi dậy khởi nghĩa cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong niềm vui chung của dân tộc, Bệnh viện Saint Paul cũng bước sang một trang sử mới.

Mùa đông năm 1946, Thực dân Pháp quyết tâm quay trở lại xâm chiếm nước ta một lần nữa. Ngày 16/12/1946, Cao uỷ Pháp D'Argenlieu tuyên bố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là lãnh thổ của Pháp. Đêm 18/12/1946, Bác Hồ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. 20 giờ 5 phút ngày 19/12, tiếng súng đại bác từ Pháo Đài Láng đã nổ, mở đầu cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Bệnh viện Saint Paul lại nằm giữa Thủ đô sục sôi chiến đấu.

Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, Hà Nội nô nức đón đoàn quân chiến thắng trở về. Mùa xuân năm 1955, Thực dân Pháp chính thức bàn giao lại Bệnh viện Saint - Paul cho chính quyền Cách mạng. Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa Pháp về Bệnh viện Saint Paul được ký kết ngày 26 tháng 11 năm 1956, việc quản lý, mở rộng và phát triển bệnh viện từng bước được phía Việt Nam đảm nhận để đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ được giao trong giai đoạn mới của Cách mạng: xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Thất bại trong âm mưu mở rộng cuộc chiến tranh, ngày 01 tháng 11 năm 1968, đế quốc Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc và chấp nhận kết quả đàm phán ở Paris. Trước tình hình đó miền Bắc tranh thủ hòa bình khôi phục kinh tế, tiếp tục làm tốt nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Quan tâm đến công tác chăm sóc sức khoẻ của cán bộ và nhân dân Thủ đô, sẵn sàng phục vụ sản xuất và chiến đấu, ngày 26 tháng 6 năm 1970, Ủy ban Hành Chính Thành phố Hà Nội đã ra văn bản quyết định cải tiến mạng lưới y tế. Ngày 26 tháng 8 năm 1970, Sở Y tế Hà Nội ra quyết định Số 1093/YT-TC “về tổ chức bốn bệnh viện đa khoa khu vực nội thành”, trong đó Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn thành lập trên cơ sở hợp nhất bốn đơn vị: Bệnh viện Ngoại khoa Saint Paul, Bệnh viện B Nhi khoa, Bệnh viện Khu phố Ba Đình, Phòng khám Phụ khoa Hà Nội. Nhiệm vụ chủ yếu của Bệnh viện là: Chữa bệnh cho cán bộ, công nhân viên và nhân dân khu phố Ba Đình; Đầu ngành của Thành phố về Ngoại khoa, Sản Phụ khoa, Nhi khoa. Riêng khoa Xương - Bỏng tiếp nhận bệnh nhân toàn miền Bắc; Cơ sở thực tập cho học sinh, sinh viên; Khám và điều trị bệnh cho người nước ngoài.

Bệnh viện có 520 giường bệnh, trong đó khối Nhi có 282 giường (khoa Sơ sinh, Truyền nhiễm, Hô hấp, Tiêu hóa, Tim mạch, Hồi sức Cấp cứu), khối Ngoại có 160 giường (khoa Tổng hợp, Tiêu hóa, Xương - Bỏng, Tiết niệu, Hồi sức cấp cứu), khoa Sản có 20 giường, khoa Nội và Y học dân tộc có 50 giường, khoa Tai Mũi Họng có 8 giường. Bệnh viện có các phòng khám chuyên khoa: Ngoại, Nhi, Nội, Sản Phụ khoa, Đông y, Tai Mũi Họng, Răng Hàm Mặt, Mắt, Da liễu.

Ban Giám đốc Bệnh viện gồm 4 người do Bác sĩ Thái Duy Bích làm Giám đốc. Đảng bộ Bệnh viện có 133 Đảng viên gồm 6 Chi bộ, 24 tổ Đảng. Tổng số cán bộ công nhân viên lúc mới thành lập là 526 cán bộ, trong đó có 60 bác sĩ và dược sĩ cao cấp, 56 y sĩ và dược sĩ trung cấp, 176 y tá, 13 dược tá, 6 nữ hộ sinh, 55 hộ lí, 7 xét nghiệm, 1 lương y.

Trong xã hội mới, xã hội không còn sự áp bức bóc lột, mọi người dân đều có cơm ăn áo mặc, có cuộc sống ấm no hạnh phúc, có quyền được hưởng sự chăm sóc y tế, Bệnh viện Saint Paul như được thổi vào một luồng sinh khí mới, không ngừng phát triển và lớn mạnh. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bệnh viện đã dốc lòng, dốc sức chi viện cho chiến trường và biết bao những thầy thuốc ưu tú không quản ngại gian nguy, xung phong vào tuyến lửa, máu của họ đã tô thắm thêm ngọn cờ anh hùng bất khuất vẻ vang của dân tộc.

Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn
Bệnh viện Saint Paul (Ancient Hôpital Saint Paul) những năm đầu Thế kỉ XX

2. Thời kỳ 1970-1975

Ngay sau khi hợp nhất 4 bệnh viện để trở thành Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Ban Giám đốc đã chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quan trọng trước mắt là củng cố đội ngũ cán bộ các khoa, phòng, mở rộng, sửa chữa, tăng thêm trang thiết bị để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học và đào tạo. Xuất phát từ thực tế, Bệnh viện đã đề ra những nội dung nghiên cứu cụ thể. Một số đề tài chính đã được tiến hành nghiên cứu là: “Tiêu chuẩn để phân định di chứng chấn thương”, “Điều trị bỏng tại chỗ bằng mật ong”, “Tổng kết chảy máu đường tiêu hóa”, “Điều trị viêm não”, “Điều trị viêm phổi sơ sinh”, “Nguyên nhân co giật ở trẻ em”, “Điều trị vô sinh”, “Cấp cứu suy hô hấp”, “Châm cứu, day huyệt điều trị di chứng viêm não”.

Năm 1972, miền Bắc bước vào cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, Bệnh viện đã kịp thời chuyển hướng sang hoạt động thời chiến, nhanh chóng triển khai một phân viện tại Minh Khai gồm 50 giường, thành lập hai đội công tác lưu động phục vụ trại trẻ sơ tán ở Đan Phượng và Sài Sơn, xây dựng phương án có thể tiếp nhận cùng lúc từ 150 đến 1000 nạn nhân. Khối Ngoại chuẩn bị phương án để triển khai từ 5 đến 7 phòng mổ cấp cứu, đồng thời thành lập hai đội phẫu thuật cơ động sẵn sàng lên đường tăng cường cho các tuyến. Ở nội thành tổ chức thêm 3 cơ sở phẫu thuật ở Bệnh viện Việt Nam Cu Ba, Hai Bà Trưng, Đống Đa. Cán bộ ngoại khoa là nòng cốt thực hiện chủ trương “ngoại khoa hóa” y tế Hà Nội, phụ trách các lớp tập huấn cấp tốc về cấp cứu phòng không cho cán bộ tuyến cơ sở.

Đêm 18 tháng 12 năm 1972, máy bay B52 của Mỹ tấn công vào Hà Nội, hai đội phẫu thuật cơ động đã lên đường chi viện cho hai trọng điểm bị địch bắn phá là Đông Anh và Gia Lâm. Trong suốt 12 ngày đêm “chiến dịch Điện Biên Phủ trên không”, vượt lên khói lửa đạn bom Mỹ, đội ngũ thầy thuốc Bệnh viện đã bám trụ kiên cường trên các vị trí chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Mỗi cán bộ, nhân viên là những chiến sĩ xung kích trên mặt trận cứu chữa bệnh nhân với tinh thần quên mình phục vụ. Các bác sĩ Trần Bảo, Phạm Văn Phúc, Đặng Hưng Khánh, Đặng Ngọc Khuê, Ngô Vi Tuấn và các kíp gây mê hồi sức của Bệnh viện Xanh Pôn đã có nhiều đóng góp cho thời kỳ này. Từ ngày 8 đến 29 tháng 12 năm 1972, trung tâm phẫu thuật Bệnh viện Xanh Pôn và Việt Đức đã đảm nhận giải quyết trên 52% số nạn nhân và phẫu thuật trên 61% tổng số ca mổ của toàn Thành phố. Hai ngày Bệnh viện phải tiếp nhận số người bị thương cao nhất là rạng sáng 21 tháng 12 (địch đánh vào An Dương) và đêm 26 tháng 12 (địch đánh vào Khâm Thiên) với tổng số 223 trường hợp.

Chiến công oanh liệt của nhân dân Hà Nội đánh thắng đế quốc Mỹ trong "Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 có đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, nhân viên Bệnh viện. Với chiến công đó, Bệnh viện đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì.

Đầu năm 1973, Ban lãnh đạo Bệnh viện có ba đồng chí được điều đi nhận nhiệm vụ mới, quyền Bệnh viện trưởng là đồng chí Phạm Văn Phúc. Trong những năm 1973-1975, nhiều bác sĩ của Bệnh viện được tăng cường cho miền Nam, 10 bác sĩ, y tá, xét nghiệm viên đã vào chi viện cho Thành phố Huế ngay sau khi thành phố được giải phóng. Ngày 12 tháng 10 năm 1974, Ủy Ban Hành Chính Hà Nội đã quyết định công nhận Bệnh viện Saint Paul là Bệnh viện loại I và là một trong những bệnh viện lớn nhất của Thủ đô.

Sau 5 năm phát triển, với những thành tích to lớn ấy, năm 1975, Bệnh viện đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng III.

3. Thời kỳ 1976-1980

Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kì hàn gắn vết thương chiến tranh và xây Chủ nghĩa Xã hội. Bệnh viện bước vào thời kỳ mới với những thay đổi về tổ chức, cơ cấu giường bệnh.

Năm 1977, phòng khám ngoại kiều của Bệnh viện được sát nhập vào Bệnh viện Quốc tế mới thành lập.

Năm 1980, được sự tài trợ của Hội liên hiệp Phụ nữ Thế giới, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ra đời, khoa Sản và phòng khám Sản Phụ khoa của Bệnh viện đã cung cấp đội ngũ cán bộ nòng cốt cho Bệnh viện Phụ sản. Để nâng cao chất lượng phục vụ, khối Ngoại và khối Nhi đã tổ chức thành nhiều chuyên khoa sâu. Khối Ngoại có: Chấn thương Chỉnh hình, Bỏng, Tiết niệu, Gan mật, Hồi sức Cấp cứu; Khối Nhi có: Tim mạch, Hô hấp, Tiêu hóa, Sơ sinh thận, Hồi sức Cấp cứu. Năm 1977, Phòng thăm dò chức năng Tim mạch, ghép với khoa Tai Mũi Họng thành Liên chuyên khoa. Năm 1978 thành lập khoa Y học dân tộc tách ra từ khoa Nội.

Số liệu tổng hợp trong 5 năm từ 1976 đến 1980, Bệnh viện đã thực hiện điều trị ngoại trú 1.282.297 lượt đạt 169% kế hoạch, số bệnh nhân điều trị nội trú đạt 130%, bình quân hàng năm Bệnh viện phải phục vụ thêm 140 giường bệnh.

Năm 1978 - 1979, khi có chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, nhiều đoàn phẫu thuật tăng cường của Bệnh viện đã kịp thời có mặt, hỗ trợ cho các bệnh viện tiền tuyến. Một số cán bộ của Bệnh viện được cử sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế.

Với đội ngũ cán bộ khoa học lâu năm, có kinh nghiệm, giàu nhiệt tình, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng Ủy, Ban Giám đốc, công tác nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh, áp dụng nhiều kĩ thuật nhằm nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân. Trong 5 năm 1976 - 1980, toàn Bệnh viện đã có 168 đề tài nghiên cứu khoa học và 189 sáng kiến cải tiến xuất phát từ yêu cầu thực tế khám chữa bệnh. Khối ngoại đã nghiên cứu và giải quyết tốt các phẫu thuật về gan, mật, phình thực quản, sỏi thận, thay chỏm xương đùi, giải quyết có hiệu quả tổn thương cột sống do tai nạn. Công trình nghiên cứu của Bác sĩ Dương Đức Bính “Ứng dụng kỹ thuật kết xương AO để điều trị gẫy xương phức tạp” đã được áp dụng rộng rãi và được Bộ Y tế khen thưởng. Bác sĩ Phạm Văn Phúc đã tổng kết kinh nghiệm chữa bỏng trong tập sách “Xử trí cấp cứu bỏng”. Khối Nhi tập trung nghiên cứu và giải quyết tốt các trường hợp cấp cứu, hồi sức bệnh viêm phổi cấp tính, viêm phổi tụ cầu, tràn mủ màng phổi ở trẻ sơ sinh, bù nước và điện giải bằng tiêm truyền tĩnh mạch trong điều trị ỉa chảy cấp ở trẻ em, dùng Atropine liều cao trong điều trị hội chứng não cấp. Từ thực tế điều trị dịch sốt xuất huyết đầu tiên ở miền Bắc (1969) các bác sĩ khoa Nhi, Giải phẫu bệnh, Huyết học, Truyền nhiễm như Nguyễn Hữu Thuyết, Nguyễn Hữu Thanh, Đinh Tuấn Bá, Phạm Ngọc Trọng đã đi sâu nghiên cứu cơ chế sinh bệnh, đề ra được phác đồ cấp cứu và điều trị, góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân. Phối hợp với khoa Tai Mũi Họng, X quang đã chụp phế quản cản quang để chẩn đoán và điều trị khối u trong lồng ngực.

Năm 1980, nghiên cứu áp dụng “Vi lượng đồng căn” do Bác sĩ Phạm Ngọc Trọng phụ trách để điều trị một số bệnh và một số triệu chứng như: hen, dị ứng, viêm cơ, ho, viêm xoang, thấp khớp, rối loạn tiêu hóa. Nghiên cứu “Ăn uống chữa bệnh suy dinh dưỡng và các bệnh đường tiêu hóa người lớn”được thực hiện với sự phối hợp của nhiều cơ quan và viện Trung ương  (Bác sĩ Lê Thị Ngọc Anh chủ trì). Trong hoàn cảnh thực phẩm khó khăn, cán bộ, nhân viên khoa Dinh dưỡng vẫn đảm bảo được đầy đủ 10 chế độ ăn bệnh lí  của người lớn và 6 chế độ ăn của trẻ em.  Nhiều sáng kiến cải tiến cũng đã góp phần quan trọng cho chẩn đoán và điều trị như: Thay thế môi trường Parker trong nuôi cấy tế bào limpho bằng nguyên liệu trong nước;Dùng Sirô đơn thay thế Glycerin (rất hiếm) để cố định tiêu bản xét nghiệm”.

Thời kí này, khoa Vi sinh Y học đã có nhiều cố gắng chỉnh lí lại các quy trình kĩ thuật, làm thêm môi trường nuôi cấy, phát hiện nhanh hơn một số vi khuẩn và kí sinh vật như: amíp, sán, bạch hầu. Khoa đã mạnh dạn áp dụng và phát triển các kỹ thuật mới: Tets Oxydaze trong chẩn đoán lậu cầu, não mô cầu; Tets RPR để chẩn đoán giang mai; Xét nghiệm cặn dư phân trong chẩn đoán rối loạn tiêu hóa; Môi trường Mannitol - di động trong chuẩn đoán vi khuẩn.

4. Thời kì 1981 – 1985

Đây là thời kì đầy khó khăn gian khổ, hậu quả của hơn 30 năm chiến tranh, cuộc tổng điều chỉnh giá năm 1981 - 1982 và đổi tiền năm 1985 đã gây ra những khó khăn rất lớn cho đời sống xã hội, đặc biệt là cán bộ, công nhân viên. Thực trạng đó, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của Bệnh viện.

Là đơn vị điểm của Ngành Y tế Hà Nội thực hiện chỉ thị 81/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, để thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh chống tiêu cực, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đề ra chương trình công tác cụ thể gồm 3 nội dung: Xây dựng tổ chức, từng bước kiện toàn đội ngũ lãnh đạo các cấp; Xây dựng nội quy, quy chế chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; Phát huy quyền làm chủ của cán bộ công nhân viên Bệnh viện.

Công tác chỉ đạo tuyến được tổ chức chặt chẽ, có hiệu quả. Ngoài việc tổ chức các đoàn đi khám và lập hồ sơ quản lí sức khỏe, các đoàn công tác theo từng chuyên khoa: Ngoại, Nhi, Dinh dưỡng, Xét nghiệm,  Bệnh viện còn trực tiếp giúp đỡ xây dựng Bệnh viện huyện Đông Anh, giúp đỡ các cơ sở y tế xã Yên Thường, Dục Tú, Đồng Phú, Cao Viên, Long Hưng.

Phong trào nghiên cứu khoa học và áp dụng sáng kiến cải tiến tiếp tục được đẩy mạnh. Trong 5 năm đã có 137 công trình nghiên cứu và hơn 300 sáng kiến cải tiến được áp dụng. Nhiều kết quả nghiên cứu và sáng kiến được phổ biến tới các tuyến cơ sở, nâng cao hiệu quả khám và chữa bệnh. Năm 1983 - 1985, Bệnh viện đã đạt cả ba giải Nhất, Nhì, Ba trong Hội thi Y tá giỏi và giải Nhất thi Bác sĩ giỏi cấp Thành phố.

Tháng 12 năm 1984, Hiệp định hợp tác quốc tế được ký kết giữa UBND Thành phố Hà Nội, Ban Giám đốc Bệnh viện, tổ chức phi chính phủ của Pháp (SPF, CIMADE , L’APPEL), cùng Bộ Ngoại giao Pháp. Hiệp định hợp tác về cải tạo một phần Bệnh viện, xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng khám, chữa bệnh. Năm 1985, hai trung tâm lớn đã được khánh thành và đưa vào hoạt động: Trung tâm nghiên cứu phòng và điều trị trẻ em suy dinh dưỡng do SPF giúp đỡ, Trung tâm phòng và điều trị bệnh tim mạch trẻ em do L’APPEL giúp đỡ.

Chặng đường 10 năm 1976 - 1985 là chặng đường vượt khó vươn lên, tạo dựng cơ sở cho bước phát triển mới. Năm 1985, đội ngũ cán bộ Bệnh viện đã trưởng thành lớn mạnh, với tổng số 692 cán bộ công nhân viên, trong đó có 2 giáo sư, 1 phó tiến sĩ, 34  bác sĩ chuyên khoa I và II, 118 bác sĩ và dược sĩ đại học, 7 kỹ sư, 277 y tá, kỹ thuật viên, dược sĩ trung cấp. Bệnh viện tiếp tục giữ vai trò đầu ngành của Thành phố: Ngoại, Nhi, Dinh dưỡng, Xét nghiệm. Từ năm 1981, Bệnh viện thành lập thêm khoa Vật lý thể dục liệu pháp.

Một thế kỉ, một chặng đường với bao biến đổi cùng vận mệnh dân tộc, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử của mình để cùng cả nước chuẩn bị bước sang giai đoại đổi mới và phát triển toàn diện. Trong mỗi thời khắc quan trọng của đất nước, Bệnh viện đã luôn chứng tỏ được vai trò và ảnh hưởng để thực sự đã lắng đọng trong lịch sử Thủ đô Hà Nội mà mỗi lần nhắc đến luôn gợi lại trong lòng người biết bao niềm tự hào và nỗi nhớ.

 
Quan tâm  
6

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Trung Tâm Truyền Thông - Giáo Dục Sức Khỏe Trung Ương
Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khoẻ Trung ương có chức năng: Truyền thông giáo dục sức khoẻ (GDSK); nghiên cứu khoa học, áp dụng các khoa học chuyên ngành truyền thông; chỉ đạo tuyến; đào tạo, hợp tác quốc tế và triển khai thực...
Phòng Khám Hoàn Mỹ Sài Gòn
Phòng Khám Hoàn Mỹ Sài Gòn (được đổi tên từ “Phòng khám Hoàn Mỹ Tân Bình” vào tháng 11/2015) là thành viên của Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ - Hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân lớn nhất Việt Nam.
Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Trung Ương 3 Foripharm
Xí nghiệp Dược phẩm Trung Ương 3 với nhiệm vụ bào chế, sản xuất thuốc đông dược phục vụ sức khỏe của nhân dân trong nước và xuất khẩu. Đến năm 1993 theo nghị định 388/HĐBT ngày 07/05/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Y tế...
Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Hòa Bình
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cùng với ngành Y tế tỉnh nhà và ngành Y tế của cả nước đó trải qua các giai đoạn phát triển và trưởng thành gắn với từng giai đoạn của lịch sử Cách mạng Việt Nam, đó là cả một chặng đường...
Sở Y Tế Tỉnh Yên Bái
Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế dự phòng; khám, chữa bệnh; phục...
Trung Tâm Dưỡng Lão Diên Hồng
Trung tâm dưỡng lão Diên Hồng thể hiện khát vọng của người sáng lập muốn xây dựng một Viện dưỡng lão kiểu mẫu theo đuổi các giá trị: Tận tâm chăm sóc người cao tuổi, Đồng cảm với cảm xúc và hoàn cảnh của người cao tuổi...
Trường Trung Cấp Y Tế Vĩnh Phúc
Trường Trung cấp Y tế Vĩnh Phúc tiền thân là Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Y tế Vĩnh Phúc được thành lập vào tháng 4 năm 1998. Ngày 19 tháng 01 năm 2001, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định số 184/QĐ-CT thành lập...
Viện Sốt Rét - Ký Sinh Trùng - Côn Trùng Tp Hồ Chí Minh
Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP. Hồ Chí Minh là Viện chuyên khoa đầu ngành của khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng về nghiên cứu và chỉ đạo phòng chống sốt rét, phòng chống các bệnh ký sinh trùng, bệnh do côn trùng truyền, góp phần...
Bệnh Viện Đa Khoa Hữu Nghị 103
Được xây dựng trên diện tích 7080 m2, tiền thân là Phòng khám chất lượng cao Hữu Nghị 103, tháng 1/2009, Bệnh viện Đa khoa Hữu Nghị 103 đã chính thức đi vào hoạt động theo quyết định của Bộ Y tế. Bệnh viện bao gồm các chuyên khoa...
Viện Y Dược Học Dân Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh
Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị phụ trách đầu ngành khám bệnh, chữa bệnh bằng y, dược cổ truyền của 19 tỉnh, thành miền Nam (trong đó có thành phố Hồ Chí Minh) và 05 tỉnh Tây Nguyên theo quyết định số...