Thứ tư, 18/07/2018 4:05 AM

Viện Vệ Sinh - Y Tế Công Cộng TP.HCM

Thứ năm, 13/10/2016 1:27 PM
Năm thành lập
1977
Địa chỉ đầy đủ
159 Hưng phú, Phường 8, Quận 8, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại
08.38559503
Fax
84-08-38563164
Email
ienytcc@iph.org.vn
Website
http://www.iph.org.vn
Viện Vệ Sinh - Y Tế Công Cộng TP.HCM
Viện Vệ Sinh - Y Tế Công Cộng TP.HCM

Lịch sử hình thành và phát triển

Viện Vệ sinh – Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức trên cơ sở của “Viện Quốc gia Y tế Công cộng” dưới chế độ cũ do Tổ chức Y tế Thế giới tài trợ xây dựng, khánh thành giai đoạn 1 hai tháng trước ngày miền Nam giải phóng, với diện tích 3.600m2 nhà làm việc, có trên 50 nhân viên, đa số là y tế trung cấp và sơ cấp, chỉ có vài bác sĩ với nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nhân viên trung cấp và sơ cấp về y tế công cộng, trang thiết bị kỹ thuật ít và cũ kỹ. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, một số nhân viên cũ đi học tập cải tạo, một số xin chuyển công tác và xin nghỉ việc.

Sau thời kỳ tiếp quản và quân quản, tháng 3 năm 1976, Bộ Y tế Xã hội Thương binh miền Nam thành lập “Viện Vệ sinh và Sốt Rét” thuộc Bộ.

Ngày 9 tháng 3 năm 1977, Bộ Y tế nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 278-BYT/QĐ thành lập “Viện Vệ sinh Thành phố Hồ Chí Minh” (tách bộ phận Sốt Rét thành Phân Viện Sốt Rét và Ký Sinh trùng).

Đồng thời được sự chấp thuận của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Y tế ký kết với Tổ chức Y tế Thế giới cùng đầu tư tiếp tục xây cất hoàn chỉnh Viện Vệ sinh với các nhà xét nghiệm, ký túc xá 400 chỗ cho học sinh trong nước, 50 chỗ cho học viên nước ngoài và 32 căn hộ cho giảng viên tham gia giảng dạy lưu trú, tổng diện tích sử dụng trên 15.000m2, tăng gấp 5 lần so với trước với sự tài trợ một phần của Chính phủ Hà Lan.

Lễ khánh thành các cơ sở mới xây dựng của Viện Vệ sinh thành phố Hồ Chí Minh được tiến hành trọng thể ngày 24/4/1985 nhân kỷ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, do Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì với sự tham dự của Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương, Đại diện của Chính phủ Hà Lan và Đại diện của Ủy Ban Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.

Ngày 02 tháng 4 năm 1988, trên cơ sở hợp nhất Phân hiệu Cán bộ Quản lý ngành Y tế thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị có chức năng đào tạo dài hạn, bổ túc về quản lý y tế và ngoại ngữ cho cán bộ y tế khu vực phía Nam) và Viện Vệ sinh thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Y tế ra quyết định Quyết định số 270/BYT-QĐ thành lập Viện Vệ sinh – Y tế công cộng trực thuộc Bộ Y tế.

Tên gọi qua các thời kỳ

- Viện Quốc gia Y tế công cộng: từ 1969 đến 1975

- Viện Y tế Công cộng : từ 1975 đến 1977

- Viện Vệ sinh Thành phố Hồ Chí Minh: từ 1977 đến 1988

- Viện Vệ sinh – Y tế công cộng: từ 1988 đến 2006

- Viện Vệ sinh – Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh: từ 2006 đến nay

Viện Vệ sinh – Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh 40 năm xây dựng và phát triển

Giai đoạn trước 1975

Năm 1968, ngày 24 tháng 10, Tổ chức Y tế thế giới ký Thỏa Hiệp Án VN.0038 có tên là “Plan d'opération pour un institute national de la santé publique dans la République du Viet Nam” với Chính phủ Việt Nam Cộng hòa với nội dung tài trợ xây dựng Viện Quốc gia Y tế Công cộng tại Việt Nam.

Năm 1969, Viện Quốc gia Y tế công cộng được thành lập theo Sắc lệnh số 041-SL/BYT/XHCT ngày 27 tháng 3 năm 1969 do BS Trần Lữ Y - Tổng Trưởng Y tế của Chính phủ Việt Nam cộng hòa phê duyệt. Viện có chức năng là cơ quan đào tạo, nghiên cứu và cung cấp dịch vụ do BS Đặng Quốc Phú làm viện trưởng.

Trong giai đoạn này, do chưa có cơ sở vật chất nên khởi đầu Viện tạm mượn một phần cơ sở của Nha Y tế công cộng số 699 đường Trần Hưng Đạo để đưa vào hoạt động. Đến tháng 5 năm 1971, Viện dời trụ sở đến số 135 đường Trần Hoàng Quân (nay là đường Nguyễn Chí Thanh) để tiếp tục hoạt động trong 3 năm. Và cũng trong thời gian này, Tòa Đô chánh cấp cho Bộ Y tế khu đất với diện tích 49. 870m2 tại đường Hưng Phú (số 159 Hưng Phú hiện nay) để xây dựng Viện Quốc gia Y tế Công cộng. Viện khởi công xây dựng giai đoạn I vào ngày 06/12/1972 theo bản thiết kế của Kiến trúc sư Clayton G. Cutter và phụ tá Kiến trúc sư Richard K. Cunningham dưới sự giám sát của KTS Clayton G. Cutter.

Đến ngày 3 tháng 3 năm 1975, Viện hoàn thành giai đoạn I. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng và trang bị cho giai đoạn này là 1,6 triệu USA do Tổ chức Y tế thế giới và một số nước tài trợ.

Nhân sự Viện tính đến thời điểm tháng 3/1975 là 59 người. Song song với quá trình xây dựng cơ sở vật chất, trong thời gian từ 1969 đến 1974 Viện đã đào tạo dưới nhiều hình thức: đào tạo cán sự y tế công cộng hệ 3 năm, 5 khóa tốt nghiệp 77 học viên, 19 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho 397 học viên. Đã thực hiện 10 đề tài nghiên cứu khoa học.

Định hướng phát triển của Viện thành một Trung tâm có chức năng nghiên cứu và giảng dạy y tế công cộng dành cho các quốc gia nói tiếng Pháp vùng Tây Thái Bình Dương; đào tạo cán bộ y tế công cộng có trình độ và khả năng chuyên môn tương đương với trình độ của cán bộ y tế công cộng quốc tế, đáp ứng cung ứng cho nhu cầu toàn quốc; là nơi trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm với các Viện Quốc gia Y tế trên thế giới, đặc biệt tại vùng Tây Thái Bình Dương về các vấn đề liên quan đến Y tế công cộng trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Giai đoạn 1975 - 1977

Ngay sau khi giải phóng miền Nam, Chính quyền Cách mạng tiếp quản Viện Quốc gia Y tế công cộng vào ngày 1/5/1975 do BS Nguyễn Văn Hiền làm viện trưởng, với nguyên hiện trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị gồm một phòng xét nghiệm vi sinh – hóa lý nước sinh hoạt và cơ sở đào tạo cán sự y tế công cộng một năm để làm công tác vãng gia.

Giai đoạn 1977 đến 1988

Năm 1977, Viện Vệ sinh phôi thai từ một tổ chức hỗn hợp trong thời kỳ quân quản (1975-1977) gồm Viện Quốc gia Y tế công cộng của Chính quyền cũ, Trường Bổ túc Văn hóa và Phân Viện Sốt Rét đã tổ chức và phát triển thành Viện Vệ sinh Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ, Viện có chức năng nghiên cứu khoa học, đào tạo, chỉ đạo về các mặt vệ sinh phòng bệnh ở miền Nam theo Quyết định số 278/BYT/QĐ ngày 9 tháng 3 năm 1977 của Cố Bộ trưởng Bộ Y tế - BS Vũ Văn Cẩn do BS Nguyễn Bát Can làm viện trưởng.

Qua 10 năm hoạt động công tác chỉ đạo tuyến trong thời gian này trọng tâm là góp phần hoàn thành 5 mục tiêu của ngành cụ thể là hướng dẫn xây 3 công trình vệ sinh nhất là cầu tiêu 2 ngăn để từng bước quản lý được phân, cải thiện môi trường sống. Bước đầu Viện phối hợp với Bộ Y tế làm thí điểm ở Kiên Giang, sau đó Viện trực tiếp chỉ đạo tại các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Sông Bé. Trọng tâm số 1 là xây dựng dứt điểm cầu tiêu 2 ngăn.

Giai đoạn này viện đã thực hiện 76 đề tài nghiên cứu khoa học: 02 đề tài cấp Nhà nước, 26 đề tài cấp Bộ, 45 đề cấp cơ sở và 03 đề tài hợp tác. Trong đó: 21 đề tài nghiên cứu vệ sinh phân đất rác, 17 đề tài nghiên cứu vệ sinh nước, 16 đề tài nghiên cứu vệ sinh lao động và không khí, 17 đề tài về vệ sinh thực phẩm dinh dưỡng, 4 đề tài nghiên cứu vệ sinh học đường và 01 đề tài phát triển thông tin y học vệ sinh phòng dịch. Với các nội dung nhằm giải quyết các vấn đề trọng tâm như vệ sinh hoàn cảnh, vệ sinh thực phẩm – dinh dưỡng, vệ sinh lao động, kết quả ứng dụng vào việc giải quyết nạn ô nhiễm môi trường sống, nhằm bảo vệ sức khỏe cho nhân dân lao động.

Nhằm giải quyết tình trạng thiếu cán bộ y tế trong giai đoạn bấy giờ nhất là cán bộ y tế chuyên ngành y tế dự phòng, Viện đã tổ chức đào tạo dưới nhiều hình thức: đào tạo Kỹ thuật viên hệ 3 năm, 7 khóa, tốt nghiệp 177 kỹ thuật viên, 42 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về vệ sinh thực phẩm – dinh dưỡng, vệ sinh lao động – bệnh nghề nghiệp, vệ sinh học đường, vệ sinh công cộng cho 1.384 lượt cán bộ. Tham gia giảng dạy về vệ sinh tại các trường Trung học Y tế, tham gia giảng dạy chuyên khoa Vệ sinh phòng dịch cho các lớp chính quy, chuyên tu của Trường Đại học Y Dược.

Tuyên truyền giáo dục vệ sinh phòng bệnh phòng dịch: Viện đã quan tâm đúng mức công tác này, Viện đã giúp các tỉnh Tây Ninh, Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang xây dựng triển lãm y tế vệ sinh, vẽ tranh tuyên truyền vệ sinh phân, rác, nước, thực phẩm, học đường, 5 dứt điểm cho các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Cửu Long, Bến Tre.

Trong thời gian này, năm 1978, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê chuẩn nhiệm vụ thiết kế xây dựng tiếp Viện Vệ sinh. Năm 1980, được sự chấp thuận của Chính phủ, Bộ Y tế đã ký cùng Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương đề án hoàn thiện Viện Vệ sinh với sự tài trợ 3,4 triệu USD của Chính phủ Hà Lan. Giai đoạn II xây dựng khu nội trú, phòng ăn, hệ thống nước cống rãnh, xây cất thêm khu lớp học, khu thí nghiệm, khu thể thao, hệ thống đường. Viện khánh thành ngày 24/4/1985

Giai đoạn hiện nay

Viện Vệ Sinh Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 278/BYT/QÐ ngày 9/3/1977 của Bộ trưởng Bộ Y tế, là cơ sở chuyên ngành vệ sinh trực thuộc Bộ Y Tế. Ðến năm 1988, thì hợp nhất Phân hiệu Cán bộ quản lý thành phố Hồ Chí Minh và Viện Vệ sinh thành phố Hồ Chí Minh thành Viện Vệ sinh - Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh như hiện nay ( theo Quyết định số 270/BYT-QÐ ngày 02/04/1988 của Bộ trưởng Bộ Y tế ) .

Theo Nghị định số 49/2003/NÐ-CP ngày 15-5-2003 của Chính Phủ, Viện Vệ sinh - Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế. Viện Vệ sinh - Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh ( Viện VSYTCC ) và hiện nay hoạt động theo Ðiều lệ tổ chức và hoạt động được qui định tại Quyết định số : 2390 / QÐ - BYT ngày 05 / 07 / 2006 của Bộ Trưởng Bộ Y tế. .

CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ

1. Cơ sở pháp lý

Ngày 24 tháng 3 năm 2011, Viện trưởng đã ký quyết định số 91/QĐ-VVS, thành lập Khoa Xét Nghiệm trên cơ sở sáp nhập labo lý hóa nước, labo vi sinh nước thuộc khoa Sức khỏe môi trường và labo sinh hóa huyết học, labo độc chất môi trường thuộc khoa Sức khỏe lao động-bệnh nghề nghiệp.

2. Chức năng – nhiệm vụ

2.1. Chức năng

Tham gia quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chỉ đạo các trung tâm y tế địa phương, xây dựng và đề xuất các phương pháp kiểm nghiệm, các quy chuẩn Việt Nam, xây dựng thường qui kỹ thuật đồng thời thực hiện các dịch vụ phân tích kiểm nghiệm trong lĩnh vực: lý – phóng xạ – hóa – độc chất – vi sinh vật trong môi trường và phóng xạ trong thực phẩm; lĩnh vực kiểm định và đánh giá an toàn bức xạ; xét nghiệm sinh hóa - huyết học phục vụ phòng bệnh và chữa bệnh.

2.2. Nhiệm vụ

2.2.1. Thực hiện phân tích, kiểm định và cung cấp dịch vụ bao gồm:

- Kiểm nghiệm, giám sát chất lượng đất, nước, không khí, chất thải, vật liệu về các chỉ tiêu lý – phóng xạ – hóa – độc chất – vi sinh vật theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành.

- Kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng các chế phẩm diệt côn trùng.

- Kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng và hiệu quả của các giải pháp xử lý đất, nước, nước thải, khí, khí thải, rác thải nguy hại.

- Kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng khí thải các lò đốt rác y tế đồng thời kiểm định thiết bị xử lý rác thải y tế.

- Phân tích, đánh giá và kiểm định cấp độ sạch, cấp độ vô trùng của phòng sạch theo WHO, ASEAN; phòng mổ và các khu vực đòi hỏi cấp độ sạch, vô trùng; các dụng cụ y tế.

- Kiểm nghiệm, giám sát, đánh giá chất lượng an toàn thực phẩm trong nước và nhập khẩu về chỉ tiêu phóng xạ.

- Kiểm định và đánh giá an toàn bức xạ trong các cơ sở bức xạ.

- Thực hiện đo đạc, lấy mẫu và khảo sát các yếu tố nguy cơ môi trường tại các nhà máy, doanh nghiệp, cơ sở, trường học và cộng đồng dân cư.

- Thực hiện công tác xét nghiệm sinh hóa - huyết học để giám sát, đánh giá ô nhiễm môi trường, bệnh lý con người phục vụ công tác vệ sinh phòng bệnh.

- Thực hiện các xét nghiệm phục vụ công tác chẩn đoán sớm bệnh thông thường, bệnh nghề nghiệp, các bệnh không lây và khám sức khỏe định kỳ.

- Xây dựng phòng thí nghiệm đạt các tiêu chuẩn ISO, đạt điều kiện kiểm chuẩn do ngành y tế qui định và các tiêu chuẩn khác.

- Tạo các mẫu thử nghiệm thành thạo và tổ chức thử nghiệm thành thạo để đánh giá tay nghề nhân viên và cán bộ y tế địa phương theo ISO 17043.

2.2.2. Nghiên cứu khoa học:

- Thực hiện các đề tài nghiên cứu về các chỉ tiêu lý – phóng xạ – hóa – độc chất – vi sinh vật trong đất, nước, không khí, chất thải, vật liệu và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến môi trường và sức khỏe con người; xét nghiệm sinh hóa - huyết học phục vụ phòng bệnh và chữa bệnh.

- Tham gia nghiên cứu về các giải pháp quản lý hiệu quả tài nguyên đất, nước và bảo vệ môi trường không khí.

- Tham gia nghiên cứu về công nghệ và cải tiến công nghệ trong xử lý đất, nước, chất thải rắn, vật liệu rắn, nước thải, khí thải từ các nguồn gây ô nhiễm môi trường.

- Nghiên cứu xây dựng phương pháp, quy trình xét nghiệm, quy trình kiểm định, phục vụ cho công tác kiểm nghiệm, kiểm định các chỉ tiêu lý – phóng xạ – hóa – độc chất – vi sinh vật trong đất, nước, không khí, chất thải, vật liệu và các chỉ tiêu phóng xạ trong thực phẩm.

- Nghiên cứu đánh giá an toàn bức xạ trong thực phẩm, môi trường và các cơ sở bức xạ.

- Tham gia nghiên cứu phối hợp các giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường.

2.2.3. Chỉ đạo tuyến:

- Chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật, năng lực kiểm định, năng lực kiểm nghiệm, giám sát chất lượng đất, nước, không khí, chất thải, vật liệu về các chỉ tiêu lý – phóng xạ – hóa –độc chất – vi sinh vật theo thường qui kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành cho các cơ sở y tế địa phương thuộc phạm vi Viện Vệ Sinh - Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh quản lý.

- Tham gia phòng chống thiên tai, thảm họa, dịch bệnh.

2.2.4. Đào tạo:

- Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn, kỹ thuật, năng lực kiểm định, năng lực kiểm nghiệm, giám sát chất lượng đất, nước, không khí, chất thải, vật liệu về các chỉ tiêu lý – phóng xạ – hóa – độc chất – vi sinh vật; năng lực kiểm nghiệm phóng xạ thực phẩm và đánh giá an toàn bức xạ theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành; xét nghiệm sinh hóa -huyết học cho các cơ sở y tế địa phương thuộc phạm vi Viện Vệ Sinh - Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh quản lý.

- Thực  hiện các lớp đào tạo dịch vụ theo yêu cầu cho các tổ chức và cá nhân có yêu cầu trong lĩnh vực: kiểm định, kiểm nghiệm, giám sát chất lượng đất, nước, không khí, chất thải, vật liệu về các chỉ tiêu lý – phóng xạ – hóa – độc chất – vi sinh vật;  kiểm nghiệm phóng xạ thực phẩm và đánh giá an toàn bức xạ theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành; xét nghiệm sinh hóa - huyết học.

2.2.5. Hợp tác quốc tế:

- Chủ động khai thác các nguồn đầu tư viện trợ của các tổ chức quốc tế, tăng cường mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, cung cấp trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua Viện Vệ Sinh - Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đề xuất với Bộ Y tế thông qua Viện Vệ Sinh - Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng dự án đầu tư liên doanh, liên kết với các nước và tổ chức quốc tế kể cả tổ chức phi Chính phủ, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.

- Xây dựng kế hoạch hoạt động cho đoàn ra, đoàn vào theo chương trình hợp tác quốc tế với Khoa, đề xuất cử cán bộ đi học tập, nghiên cứu, công tác ở nước ngoài và nhận chuyên gia, giảng viên, học viên là người nước ngoài đến làm việc tại Khoa sau khi được Viện Vệ Sinh - Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh thông qua.

- Tham gia tổ chức và quản lý các hội nghị, hội thảo và các lớp học quốc tế thuộc phạm vi Khoa quản lý theo đúng các quy định.

Viện Vệ Sinh - Y Tế Công Cộng TP.HCM

Địa chỉ:159 Hưng phú, Phường 8, Quận 8, TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: 08. 38559503

Fax: 84-08-38563164

Email: vienytcc@iph.org.vn

Website: iph.org.vn

 
Quan tâm  
6

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Trung Tâm Truyền Thông - Giáo Dục Sức Khỏe Trung Ương
Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khoẻ Trung ương có chức năng: Truyền thông giáo dục sức khoẻ (GDSK); nghiên cứu khoa học, áp dụng các khoa học chuyên ngành truyền thông; chỉ đạo tuyến; đào tạo, hợp tác quốc tế và triển khai thực...
Phòng Khám Hoàn Mỹ Sài Gòn
Phòng Khám Hoàn Mỹ Sài Gòn (được đổi tên từ “Phòng khám Hoàn Mỹ Tân Bình” vào tháng 11/2015) là thành viên của Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ - Hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân lớn nhất Việt Nam.
Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Trung Ương 3 Foripharm
Xí nghiệp Dược phẩm Trung Ương 3 với nhiệm vụ bào chế, sản xuất thuốc đông dược phục vụ sức khỏe của nhân dân trong nước và xuất khẩu. Đến năm 1993 theo nghị định 388/HĐBT ngày 07/05/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Y tế...
Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Hòa Bình
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cùng với ngành Y tế tỉnh nhà và ngành Y tế của cả nước đó trải qua các giai đoạn phát triển và trưởng thành gắn với từng giai đoạn của lịch sử Cách mạng Việt Nam, đó là cả một chặng đường...
Sở Y Tế Tỉnh Yên Bái
Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế dự phòng; khám, chữa bệnh; phục...
Trung Tâm Dưỡng Lão Diên Hồng
Trung tâm dưỡng lão Diên Hồng thể hiện khát vọng của người sáng lập muốn xây dựng một Viện dưỡng lão kiểu mẫu theo đuổi các giá trị: Tận tâm chăm sóc người cao tuổi, Đồng cảm với cảm xúc và hoàn cảnh của người cao tuổi...
Trường Trung Cấp Y Tế Vĩnh Phúc
Trường Trung cấp Y tế Vĩnh Phúc tiền thân là Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Y tế Vĩnh Phúc được thành lập vào tháng 4 năm 1998. Ngày 19 tháng 01 năm 2001, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định số 184/QĐ-CT thành lập...
Viện Sốt Rét - Ký Sinh Trùng - Côn Trùng Tp Hồ Chí Minh
Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP. Hồ Chí Minh là Viện chuyên khoa đầu ngành của khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng về nghiên cứu và chỉ đạo phòng chống sốt rét, phòng chống các bệnh ký sinh trùng, bệnh do côn trùng truyền, góp phần...
Bệnh Viện Đa Khoa Hữu Nghị 103
Được xây dựng trên diện tích 7080 m2, tiền thân là Phòng khám chất lượng cao Hữu Nghị 103, tháng 1/2009, Bệnh viện Đa khoa Hữu Nghị 103 đã chính thức đi vào hoạt động theo quyết định của Bộ Y tế. Bệnh viện bao gồm các chuyên khoa...
Viện Y Dược Học Dân Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh
Viện Y Dược Học Dân Tộc thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị phụ trách đầu ngành khám bệnh, chữa bệnh bằng y, dược cổ truyền của 19 tỉnh, thành miền Nam (trong đó có thành phố Hồ Chí Minh) và 05 tỉnh Tây Nguyên theo quyết định số...