Thứ ba, 17/10/2017 6:23 PM

Cây Lá Ngón - Gelsemium Elegans

Thứ năm, 26/11/2015 11:09 AM
Tên khác
Ngón vàng; Đoạn trường thảo; Thuốc đứt ruột; Thuốc rút ruột; Pa ngai, Dạ cát, Câu vẫn
Tên khoa học
Gelsemium elegans (Gardn. & Champ.) Benth.
Tên đồng nghĩa
Medica elegans Gardn.& Champ.; Leotopteris sumatrana Blume; Gelsemium sumatranum (Blume) Boerl.;

Trong cây lá ngón Bắc Mỹ, thành phần chủ yếu là chất gelmixin có độc tính rất mạnh, với liều thấp trên động vật có vú, trước khi thấy hiện tượng ức chế hô hấp thường thấy một thời kỳ hung phấn ngắn.

Còn gọi là co ngón (Lạng Sơn), thuốc dút ruột- hồ mạn trường-đại trà đằng, hổ mạn đằng, hoàng đằng, câu vẫn, đoạn tnròng thảo.

Cây lá ngón đuợc coi là loại cây độc nhất trong Việt Nam. Người ta cho rằng chỉ cần ăn 3 lá là đủ chết người.

Cây Lá Ngón
Hoa cây lá ngón

Tên cây ngón còn dùng để chỉ một cây khác nữa có tên khoa học là Pterocarya tonkinensis Dode thuộc họ Hổ đào Ụuglandaceae) sẽ giới thiệu ở sau. Cần chú ý tránh nhầm lẫn.

Mô tả cây

Đoạn là đứt, trường là ruột, tên đoạn trường thảo vì người ta cho rằng uống vị này sẽ bị đút ruột mà chết.

Đoạn trường thảo hay cây lá ngón là một loại dày mọc leo, thân và cành không có lông, trên thân hơi có khía dọc. Lá mọc đối, hình trứng thuôn dài, hay hơi hình mác, đầu nhọn, phía cuống nhọn hay hơi tù, mép nguyên, bóng, nhẵn, dài 7-12cm, rộng 2,5-5,5cm. Hoa mọc thành xim ở đầu cành hay ở kẽ lá. Cánh hoa màu vàng. Có tài liệu nói hoa màu trắng, nhưng ban thân tôi đã kiểm tra lại là màu vàng (tại Lạng Sơn và các nơi khác: Sapa, Hà Giang). Mùa hoa tháng 6-8-10. Quả là một nang, dài, màu nâu hình thon, dài 1cm, rộng 0,5cm. Hạt nhỏ, quanh mép có rìa mỏng màu nâu nhạt, hình thận.

Phân b

Cây lá ngón khá phổ biến ở miền rừng núi Việt Nam. Người ta thường không dùng làm thuốc, mà chỉ dùng để tự tử hay với mục đích đầu độc. Các tính miền núi như Hòa Bình, Hà Tây, Lào Cai, Cao bằng, Tuyên Quang, Hà Giang đều có. Còn có ở một số nước ơ vùng nhiệt đứi và á nhiệt đới chàu Á. Ổ Trung Quốc người ta thấy ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên. Bắc châu Mỹ có loài Gelsemium sempervirens Alt.

Cây Lá Ngón
Cây lá ngón (Gelsemium Elegans)

Nhân dân ta hay dùng lá như trên đã nói, trái lại Trung Quốc hay dùng rễ và bán tại các hiệu thuốc để làm thuốc chữa hủi hay chữa bệnh nấm ở tóc (teigne). Cũng được dùng với mục đích đầu độc.

Thành phần hóa học

Từ loài cây ngón mọc ở bắc châu Mỹ- Gehemium sempervirens nhiều tác giả đã chiết ra được nhiều loại ancaloit đặt tên là gelsemin có tinh thể, độ chảy 178°c chất gelmixin (lúc trước có tác giả xác định độ chảy 1780) chất sempecvirin và sempecvín. Hai chất sau tương tự vái nhau nhưng độ chảy khác nhau. Tất cả đều có độc tính rất mạnh, gẩn như tác dụng của strycnin, chất ancaloit trong mã tiền.

Năm 1931, Triệu Thừa Cố (Trung Quốc sinh lý học tạp chí, 1931, 5: 334 và 1936, 10: 79) đã nghiên cứu rễ, thân rễ và cành của cây đoạn trường thảo Trung Quốc (Gelsemium elegans) cùng loại với ta, đã chiết xuất được 4 loại ancaloit có tính chất và đặt tên như sau:

Kumin, độ chảy 170°c, D=-2650, dễ tan trong cồn, khó tan trong ête, không tan trong ête dầu hỏa và nước, tan trong axit sunfuric đặc cho dung dịch không màu, nếu thêm MnO2 sẽ chuyển màu tím nhạt, nhưng nếu thêm kali bicromat sẽ cho màu xanh vàng. Đây là thành phần chủ yếu của cây ngón, chất này không độc lắm.

Kuminin vớ định hình, không màu, dễ tan trong ête và trong nhiều dung môi hữu cơ khác, khó tan trong nước, từ dung dịch ête để bốc hơi sẽ cho chất có độ chảy thay đổi nhưng trên 1150C. Muối clohydrat có tinh thể không màu hình trụ, độ chảy trên 300°c, tan trong axit sunfuric đặc cho dung dịch không màu, thêm kali bicromat lúc đầu cho màu tím, sau chuyển màu nâu và cuối cùng màu xanh.

Cây Lá Ngón
Đoạn trường thảo

Kuminixin vô đỉnh hình, muối clohydrat tan trong nước, có năng suất quay cực trái.

Kuminidìn có tinh thể hình trụ không màu độ chảy 200°c (?) có thể tan nhiều trong dung môi hữu cơ và nuớc, cho muối clohydrat tan trong nước, hòa tan trong axít funfuric đặc sẽ cho dung dịch không màu, khi thêm kali bicromal sẽ chuyển màu xanh vàng và không xuất hiện màu tím.

Tý lệ cả bốn loại ancaloit trên trong nguyên liệu là 0,3%. Từ lá ngón Triệu Thừa Cố cũng lấy ra được 4 ancaloit là gelsemin, kumin, kuminin và một ancaloit mới đặt tên là kaunide, độ chảy 3150C. Muối clohydrat có độ chảy 318°c, chất ancaloit này có tác dụng làm yếu cơ và ức chế hô hấp.

Ba tác giả là Kỷ Dục Phong, Cao Di Sinh và Hoàng Diệu Tăng (1938, J Am. Chem. Soc., 60: 1723) đã báo cáo rằng chất mà Triệu Thừa Cố gọi là kuminin và không có tinh thể thực ra không thuần khiết. Từ chất này đã tách ra được chất gelsemin và đính chính rằng chất kiminidìn có độ chày 299°c.

Tóm lại qua các tác giả trên, trong cây ngón Celsemium clegans có gelsemin và kumlnidìn có tinh thể.

Cây Lá Ngón
Ngón vàng (Gelsemium Elegans)

Năm 1936, F Guichard (Compte rendu du X congrès de la For. Eastern Associatìon of Iropical medecine, Hanoi, 1: 607-612) nghiên cứu từ cây lá ngón mọc ở Việt Nam và đã chiết từ lá, vỏ thân và rễ cây ấy những chất giống như những chất trong lá ngón Trung Quốc. Ông đã thấy chất kumin cả trong quả và hạt, và ông còn tìm thấy một chất có huỳnh quang đối với ngoại tím, không tan trong các axil và ghi là thuộc nhóm chất esculetin.

Nhưng dù đã nghiên cứu như vậy, việc phát hiện các chất độc trong lá ngón khi bị ngộ độc còn khó khăn, vì phán ứng đặc hiệu tiến hành trên những chất lấy được ở cơ thể người bị ngộ độc, nhất là khi chỉ ăn có 3 lá là một việc không dễ dàng.

Năm 1953, M. M. Janot ở Paris, nghiên cứu thành phần ancaloit trong từng phần những mẫu cây lá ngón hái ở miền Nam Việt Nam đã thấy trong lá có gelsemìn, trong rễ có kumìn và toàn thân có semperverin (như vậy là semperverin được phát hiện có trong một loài Gelsemium khác loài Gelsenúum semperverens mọc ở Bắc Mỹ).

Năm 1977, Hoàng Như Tố và cộng sự (Tài liệu học tập tham khảo Cục Quán y-II, 1977) đã tiến hành thí nghiệm lại theo như Janot nhưng đối với loài lá ngón mọc ở miền Bắc Việt Nam đã thống nhất thấy lá có gelsemin, rễ có kumìn, còn chưa xác định được rõ ràng kumidin và semperverin.

Tác dụng dược lý

Trong cây lá ngón Bắc Mỹ, thành phần chủ yếu là chất gelmixin có độc tính rất mạnh, với liều thấp trên động vật có vú, trước khi thấy hiện tượng ức chế hô hấp thường thấy một thời kỳ hung phấn ngắn.

Trong cây lá ngón của ta và Trung Quốc có thành phần khác nhưng so vói tác dụng của những ancaloit của cây lá ngón Bắc Mỹ thì nhiều phần giống nhau. Chât kumin và kuminin ít độc hơn, gần giống tác dụng của gelsemin, chất kuminixin rất độc, nhưng chất gelsemixin lại độc hơn nữa ... Nhỏ dung dịch gelsemin và gelsemixin lên mắt thì thấy hiện tượng dãn đồng tử còn kumin và kuminin không làm dãn đồng tử.

Ngoài thành phần hóa học, Hoàng Như Tố còn kiểm tra truyền thuyết của dân gian nói “chi cần ăn 3 lá ngón là đù chết đồng thời tìm cơ chế tác dụng của lá ngón để tìm cách chống độc có hiệu quả đã đi tới một số kết luận sau:

Liều độc. Liều độc LD50 đối với chuột nhắt trắng của rễ là 102mg/kg thể trọng (rễ chiết bằng cồn 900), của lá là 600mg/kg (tươi chiết bằng nước), 200 mg/kg (lá khô chiết bằng nước), 150mg/kg (lá khô chiết bằng cổn 700), 89mg/kg (lá khô chiết bằng cồn 90°), của ancaloit toàn phần chiết từ lá khô là 200mg/kg, trong khi đó của gelsemin là 140mg/kg và kumin thì không độc. Như vậy lá ngón có độc, nhưng không đến mức 3 lá đủ chết người như dân gian thường nói.

Tác dụng độc của lá ngón không đặc hiệu trên hệ thống thần kinh, gây nên co giật và chết do ngừng hô hấp trong một trạng thái thiếu oxy rõ rệt.

Nghiên cứu về mặt chống độc cho phép kết luận cơ chế tác dụng của các hoạt chất cây lá ngón chủ yếu đánh vào các men hô hấp gây sự rối loạn trong tế bào dẫn tới sự thiếu oxy nghiêm trọng gây nên các hiện tượng co giật cơ và liệt. Phương hướng dùng các thuốc ngăn cản sự ức chế men và bảo trợ men đã dẫn tác giả tìm ra được tính chống độc của ATP. Khí dùng ATP để ngăn ngừa cũng như để điều trị ngộ độc bằng lá ngón đã giảm tỷ lệ chết của chuột nhắt xuống từ 58% còn 25% đã cứu được tất cả các thể làm thí nghiệm khi đã bị ngộ độc bằng liều chết của lá ngón.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân Việt Nam không dùng cây ngón làm thuốc, chỉ giới thiệu ở đây để chúng ta biết mà tránh và có thể phát hiện khi bị ngộ độc.

Tại Bắc Mỹ và Trung Quốc, người ta dùng rễ chữa bệnh động kinh và giảm đau nhưng cũng rất ít dùng.

 
Quan tâm  
5

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Gặp Người Bị Điện Giật Phải Sơ Cứu Như Thế Nào?
Điện giật là một tai nạn thường gặp trong đời sống hàng ngày, nhẹ thì bị bỏng, nặng hơn thì có thể dẫn đến tử vong. Việc thủ sẵn những kỹ năng sơ cứu khi bị điện giật giúp bạn và người thân bớt...
Thải Độc Cơ Thể, Đánh Bay Mỡ Bụng Sau 3 Ngày Với Bài Thuốc Từ Tỏi Và Chanh
Trong cuộc sống hiện đại, béo bụng trở thành căn bệnh của nhiều người đồng thời là kẻ thù không đội trời chung với bất kỳ ai dù là nam hay nữ! Mỡ bụng không chỉ ảnh hưởng đến dáng vẻ, đến tính thẩm mỹ mà còn là căn...
Cây Nấm Phiến Đốm Chuông - Panaeolus Campanulatus
Nấm Phiến Đốm Chuông mọc trên phân hoại mục ở các bãi cỏ từ tháng giêng tới tháng 9, thường riêng lẻ hoặc họp thành nhóm nhỏ. Có gặp ở Hà Nội, Hải Hưng. Lớp thịt mỏng, màu da sơn dương. Thịt không mùi, chứa những chất...
Cây Nấm Mỡ - Agaricus Bisporus
Cây Nấm Mỡ (Agaricus Bisporus) có vị ngọt, tính mát, có công dụng bổ tỳ ích khí, nhuận phế hoá đàm, tiêu thực lý khí, rất thích hợp cho những người chán ăn mệt mỏi do tỳ vị hư yếu, sản phụ thiếu sữa, viêm phế quản mạn...
Những Dấu Hiệu Báo Cơ Thể Đang Cần Giải Độc Gấp Để Đảm Bảo Sức Khỏe Bạn Nên Lưu Tâm
Khi cơ thể không sạch sẽ, nhiều mồ hôi và bụi bẩn, chúng ta nhanh chóng nhận ra và dễ dàng áp dụng các biện pháp vệ sinh. Nhưng bên trong lại khác. Rất khó để phát hiện những dấu hiệu ban đầu cho thấy nó đang tích tụ nhiều độc...
Cách Làm Trà Lá Sen Giúp Giảm Cân Hiệu Quả
Nếu bạn đã biết tới công dụng của hạt sen, ngó sen thì nay, bạn sẽ biết thêm công dụng giảm cân cực hiệu quả từ lá sen nữa. Hè đến, cùng học cách làm trà lá sen với chúng tôi nhé!
Cá Chẽm - Lates Calcarifer
Cá chẽm còn gọi cá vược, sống ở sông và biển được xếp hạng loại hải sản cao cấp vì chất lượng thịt thơm ngon bổ dưỡng. Theo sách Tuệ Tĩnh: “Cá chẽm vị ngọt, tính mát, tác dụng lợi tiểu, an thai, hòa ngũ tạng, mạnh gân...
1. Ngâm với rượu 1 đêm cho mềm, xắt nhỏ, sấy khô, để dành dùng (Bản Thảo Cương Mục). 2. Rửa sạch, ủ mềm, bỏ lõi, thái nhỏ rồi tẩm rượu 2 giờ, sao qua hoặc nấu thành cao lỏng [1ml = 5g] (Phương Pháp Bào chế Đông Dược Việt...
Cây Ngải Tượng
Cây Ngải Tượng hay còn gọi là Cây Bình vôi có tác dụng an thần, trấn kinh, chữa mất ngủ, sốt nóng, nhức đầu, khó thở, chữa đau dạ dày. Trong huyền môn thì nó được dùng để gọi người trở về, trông giữ của cải cho gia chủ...