Thứ hai, 28/05/2018 4:30 PM

Cây Huyết Kiệt - Daemonorops Draco

Thứ hai, 16/05/2016 10:10 AM
Dược Vị Huyết Kiệt
Dược Vị Huyết Kiệt
Thành Phần Cây Huyết Kiệt
Thành Phần Cây Huyết Kiệt
Quả Huyết Kiệt
Quả Huyết Kiệt
Cây Huyết Kiệt
Cây Huyết Kiệt
Dùng Dịch Tiết Từ Quả Và Thân Cây Làm Thuốc
Dùng Dịch Tiết Từ Quả Và Thân Cây Làm Thuốc
Tên khác
Huyết kết, Huyết nục, Khát bẩm, Kỳ lân huyết, Kỳ lân kiệt, Hải tích thạch, Trảo nhi huyết, Máu rồng
Tên khoa học
Daemonorops Draco (Willd.) Blume, 1838

Mô tả: Là loại song mây, có thể dài hơn 10 mét, đường kính từ 2-4cm. Lá mọc kép, so le, cùng về phía gốc hầu như mọc đối, có nhiều gai ở trên thân và lá. Hoa mọc đơn độc, đực cái khác gốc. Quả hình cầu đường kính chừng 2cm, khi chín có màu đỏ, trên quả rất nhiều vảy, khi quả (thường hay gọi nhầm là trái) chín, trên mặt những vẩy này phơi đầy chất nhựa máu đỏ.

Cây Huyết Kiệt - Daemonorops Draco

Địa lý: Cây này chưa thấy xuất hiện ở nước ta, hiện nay Trung Quốc còn phải nhập thêm của Inđônêxia, Việt Nam phải nhập lại của Trung Quốc.

Phân biệt: Ngoài vị được dùng làm Huyết kiệt vừa mô tả trên ra, trên thị trường người ta còn dùng nhựa từ các cây Calamus propinquus Becc, hoặc cây Dracaena cinnabary Balf... cũng với tên Huyết kiệt, nhưng trong loài nhựa này không có vẩy của quả như loại chính thức ở trên.

Thu hái, sơ chế: Ở các đảo thuộc Inđônnêxia, Huyết kiệt mọc hoang, người ta thu hái quả chín về cho vào túi gai để vò xát thì chất nhựa khô dòn ở quả sẽ lỏng ra, xong  rây riêng chất nhựa, bỏ tạp chất. Phơi nắng hay đem cách thủy cho nóng chảy rồi đổ vào khuôn hình trụ đều nhau, hoặc thành từng cục được gói trong lá cây Cọ, hoặc đóng thành từng bánh tròn có khi nặng tới vài kg. Có khi người ta đun quả với nước để nhựa chảy ra rồi đóng thành bánh, nhưng loại nhựa này chất lượng kém hơn.

Phần dùng làm thuốc: Nhựa khô (Resina Draconis, Sanguis Draconis), chích tử quả và thân cây Huyết kiệt. Nên chọn loại khi phơi khô kết thành khối có màu nâu, hoặc nâu đỏ, đồng nhất, không lẫn tạp chất là tốt. Ngày dùng: 1 - 1,5g dưới dạng thuốc viên.

Tính vị: Vị ngọt, mặn. Tính bình.

Quy kinh: Vào kinh Tâm bào, Can.

Tác dụng: Khử ứ chỉ thống, đồng thời có tác dụng liễm sang sinh cơ cầm máu, chữa lành vết thương.

Chủ trị:

Chấn thương huyết tụ, kinh nguyệt bế tắc, sau khi sinh huyết khối gây đau đớn xuất huyết do ngoại thương, lở loét.

Liều dùng: 5 phân-9g.

Kiêng kỵ: Không có ứ tích, phụ nữ có thai cấm dùng.

Bảo quản: Đậy kín, phòng ẩm thấp, sau khi bị ẩm rất khó tán bột.

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị tất cả các loại tổn thương do chấn thương: Dùng Huyết kiệt, Nhũ hương, Một dược, Tự nhiên đồng, Ma bì hôi, Cẩu hĩnh cốt (đốt tồn tính), Giá trùng, Hoàng kinh tử, Cốt toái bổ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Bôi để trị các loại sưng độc và các vết thương do dao búa chém, có tác dụng  sinh cơ chỉ thống: Dùng Huyết kiệt, Phát hôi (Tóc rối), Nhũ hương, Mộc dược, Phiến não, Khinh phấn, Tượng nha mạt (bột ngà Voi) Hồng phấn sương, tán bột bôi (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Chảy máu do ngoại thương: Dùng bột Kỳ lân kiệt xức vào (Quảng Lợi Phương).

+ Huyết sung tức lên tâm ngực sau khi sinh, suyễn tức ngực, rất nguy cấp: Dùng Huyết kiệt, Một dược, mỗi thứ 3g tán bột, trộn Đồng tiện và rượu uống (Y Lâm Tập Yếu Phương).

+ Gom miệng vết thương: Dùng bột Huyết kiệt 3g, trộn 1 chút Long não, Đại táo đốt nóng chảy thành tro nửa chỉ. Tất cả tán bột trộn nước dải xức (Cứu Nguyên Phương).

+ Trị trong bụng có huyết khối: Dùng Huyết kiệt, Một dược, mỗi thứ 30g, Hoạt thạch, Mẫu đơn bì, mỗi thứ 30g, cùng sao qua tán bột trộn hồ và giấm, viên hoàn bằng hạt ngô đồng lớn, uống lúc bụng đói (Trích Huyền Phương).

+ Móng tay hõm đau nhức: Dùng bột Huyết kiệt bôi vào (Trích Huyền Phương).

+ Phong thấp đau nhức chạy nơi này qua nơi khác, hai đầu gối Sưng nóng: Dùng Kỳ lân kiệt, bột Lưu hoàng, mỗi thứ 30g, uống với rượu nóng lần 3g (Thánh Huệ Phương).

+ Trị cước khí mới mắc hay đã lâu: Dùng Huyết kiệt, Nhũ hương, hai vị bằng nhau, tán bột, lấy 1 trái Mộc qua khoét lỗ bỏ thuốc vào trong, bọc ngoài một lớp Miến dày sao với cát, đâm bột để cả Miến làm viên bằng hạt ngô đồng lớn, uống với rươu nóng lần 3g (Thánh Huệ Phương).

+ Trị cước khí mới hoặc bị đã lâu: Dùng Huyết kiệt, Nhũ hương, hai vị bằng nhau, tán bột, lấy 1 trái Mộc qua khoét lỗ bỏ thuốc vào trong, bọc ngoài một lớp Miến dày sao với cát, tán bột để cả Miến, làm viên to bằng hạt ngô đồng lớn, uống với rượu nóng, mỗi  lần 30 viên kỵ các đồ sống mát (Kỳ Hiệu Phương).

+ Động kinh mãn tính, co giật tay chân, yên phách định thần ích khí: Dùng Huyết kiệt nửa lượng, Nhũ hương 6g rưỡi, tán làm tễ, sao với lửa cho chảy ra để làm viên với nước sắc Bạc hà, mùa hè uống với nước sắc Nhân sâm (Ngự Dược Viện Phương).

+ Chảy máu mũi: Dùng Huyết kiệt, Bạc hà, các vị bằng nhau tán bột thổi vào (Y Lâm Tập Yếu Phương).

+ Đi tiêu ra máu: Dùng Huyết kiệt tán bột xức vào (Trực Chỉ Phương).

+ Chứng huyết vậng không biết người xung quanh mình là ai, nói xàm: Dùng Kỳ lân kiệt 30g, tán bột, lần uống 6g với rượu nóng (Thái bình thánh huệ phương).

Trị Liêm sang không khép được miệng, dùng bột Huyết kiệt xức vào cho tới khi khô (Tế Cấp Tiên Phương).

Đơn thuốc kinh nghiệm hiện nay:

+ Trị lao xương, miệng nhọt lở lâu ngày không gom miệng: Huyết kiệt 3g, Nhi trà 3g 5, Một dược 3g 5, Tỳ ma tử 15g, Ba đậu nhân 1 phân 5 ly, Mộc miết tử 6 hạt, Hạnh nhân (sống) 30g, Khinh phấn 30g, Chương đơn 150g, dầu Mè nửa cân, chế thành cao, lấy cao phết trên vải, dán trên ống rò, mỗi lần dán 10-15 ngày thay 1 lần (trên miếng cao khi có chất mủ chảy ra, có thể dùng nước sạch để rửa, ho nóng miếng cao dán lên để cho mềm dễ thay miếng khác (Sinh Cơ Tán - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Tham khảo:

Công dụng chủ yếu của Huyết kiệt, uống trong có tác dụng hoạt huyết chỉ thống, tán ứ, hễ nội thương huyết tụ, kinh nguyệt bế tắc, sau khi sinh huyết khối gây đau đớn, chấn thương do bổ té đập đánh, các loại đau trong ngực bụng, thì không thể không dùng tới nó, dán bên ngoài có thể cầm được máu sinh cơ liễm được miệng ở các ung nhọt lâu ngày không khép, chảy máu do ngoại thương loe miệng không khép, cũng dùng nhiều tơí nó, nhất là hay dùng trong các bệnh ở ngoại khoa hay thương khoa. Khi dùng nên tán bột uống với thuốc, uống với Rượu lại càng tốt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

theo Dongyminhphuc.com, Tuetinhlienhoa.com.vn

 
Quan tâm  
7

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Nấm Độc Trắng Hình Nón - Amanita Virosa
Khi bị ngộ độc Nấm Độc Trắng Hình Nón (Amanita Virosa) bệnh nhân sẽ đau bụng, buồn nôn, nôn dữ dội, khát dữ dội và ỉa chảy kéo dài 2-3 ngày, sau đó người bị ngộ độc sẽ bị co giật, mất ý thức, tổn thương gan thận, hôn...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Tùng Lam - Isatis Tinctoria
Theo các nhà nghiên cứu tại Viện thí nghiệm cây công nghiệp ở Bologna (Ý), trong cây Tùng Lam (Isatis tinctoria) có chứa một lượng lớn glucobrassicin (GBS), một chất có khả năng chống ung thư và hiện được sử dụng như nguồn dược liệu...
Triệu Chứng Và Cách Xử Lý Khi Ngộ Độc Tetrodotoxin
Tetrodotoxin rất độc với thần kinh, ức chế kênh natri, đặc biệt ở cơ vân, ngăn cản phát sinh điện thế và dẫn truyền xung động, hậu quả chính là gây liệt cơ và suy hô hấp, dễ tử. Để được cứu sống, bệnh nhân cần được đảm...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Điềm Qua Tử
Điềm Qua Tử là hạt quả Dưa Bở có vị ngọt, tính hàn; có tác dụng tán kết tiêu ứ, thanh phế, nhuận tràng. Được dùng Trị ho do nhiệt, miệng khát, suy giảm chức năng ở ruột và phổi, táo bón; trị đờm; giúp nhuận tràng.
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.