Thứ tư, 23/05/2018 1:44 PM

Khổ Luyện Căn Bì

Thứ năm, 12/05/2016 10:52 AM
Tên khác
Khổ Luyện Bì
Tên khoa học
Cortex Meliae Radicis

Khổ luyện căn bì là vỏ thân của cây Xoan (Melia Azedarach L) có vị đắng tính bình thường dùng trị các chứng lãi đũa, lãi kim, lãi móc, chốc đầu, ghẻ lở.

Khổ Luyện Căn Bì - Cortex Meliae Radicis
Khổ Luyện Căn Bì - Cortex Meliae Radicis

Cây Xoan mọc hoang hoặc được trồng khắp nơi trong nước ta. Khi làm thuốc nên chọn những cây đến tuổi khai thác gỗ (6 - 7 năm tuổi). Vỏ phơi hay sấy khô, khi dùng sao lên hơi vàng hết mùi hăng là được. Vỏ thân và vỏ rễ đều dùng được nhưng rễ mạnh hơn.

Tính vị qui kinh:

Vỏ Xoan vị đắng tính hàn, qui kinh Tỳ Vị Can. Thuốc có độc.

Theo các sách thuốc cổ:

- Sách Danh y biệt lục: Hơi hàn.

- Sách Nhật hoa tử bản thảo: Đắng hơi độc.

- Sách Y lâm soạn yếu thám nguyên: Đại khổ, đại hàn.

Thành phần chủ yếu:

Toosendanin, nimbolin A, nimbolin B, fraxinellone, geduninkulinone, kulactone, meliantriol, resin, tannin.

Tác dụng dược lý:

A. Theo Y học cổ truyền:

Khổ luyện căn bì có tác dụng: Sát trùng, liệu tiên (diệt lãi, trị ghẻ lở).

Chủ trị các chứng lãi đũa, lãi kim, lãi móc, chốc đầu, ghẻ lở.

Trích đọan Y văn cổ:

- Sách Danh y biệt lục: "Liệu hồi trùng, lợi đại tràng".

- Sách Nhật hoa tử bản thảo: "Trị du phong nhiệt độc, phong chẩn, ác sang giới lại, tiểu nhi tràng nhiệt, nấu nước ngâm rửa".

- Sách Trấn nam bản thảo: "Cân bì sát tiểu nhi thốn bạch trùng".

- Sách Hiện đại thực dụng Trung dược: " Vỏ rễ Xoan trị sán (taeniasis), lãi đũa, lãi kim có kết quả".

B. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

- Xuyên luyện tố Toosendanin là thành phần chủ yếu diệt giun đũa, tác dụng chậm hơn nhưng kéo dài hơn Santonin. Nước sắc vỏ Xoan đậm (25 - 50%), in vitro có tác dụng làm tê liệt giun kim ở chuột. Vì thuốc có tác dụng ức chế một số nấm ngoài da.

- Xuyên luyện tố có tác dụng điều trị rõ rệt đối với súc vật thí nghiệm bị nhiễm độc thịt độc (độc tố thịt độc là loại độc tố mạnh nhất).

- LD 50 của Xuyên luyện bì đối với chuột nhắt là 1 lần bơm thuốc vào bao tử là 2194mg/kg thấp hơn Santonin khoảng 3,26 lần. Vỏ ngoài của Vỏ Xoan rất độc nên lúc dùng phải cạo sạch. Khổ luyện tử có thể ức chế trung khu hô hấp, không nên dùng hoặc phải rất thận trọng lúc dùng cho những bệnh nhân suy gan, suy tim, lóet dạ dày, cơ thể suy nhược nặng.

Ứng dụng lâm sàng:

1. Trị lãi đũa: Dùng nước sắc cô đặc vỏ xoan 50%, mỗi lần uống 4 0 - 60ml, hoặc viên thuốc (mỗi viên có 0,45g thuốc cao), mỗi lần uống 4 - 8 viên liên tục 2 - 3 ngày uống trước lúc ngủ và sáng sớm hôm sau lúc ngủ dậy. Đã theo dõi 4757 ca, tỷ lệ ra lãi 93,65, nhưng sau khi uống thuốc xuất hiện tác dụng phụ 35,2%, chủ yếu là: đau đầu, váng đầu, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, mắt mờ, mệt mỏi, chân tay tê ( Bì Thụy Hòa, Tạp chí Nội khoa Trung hoa 1962, 8:491).

Một báo cáo khác của Vương ấm Bích: Sở nghiên cứu Trung dược Tứ xuyên chế thử 3 loại thuốc Xuyên luyện viên: Viên thô (bỏ một phần tạp chất) 0,3/viên; Viên bán tinh (bỏ phần lớn tạp chất), mỗi viên 0,1g; Viên tinh 0,025/viên, người lớn mỗi lần uống 6 - 8 viên, uống trước lúc ngủ hoặc 2 lần trước lúc ngủ và sau lúc thức dậy. Trị 4374 ca, kết quả ra lãi 73,79% (trung y tạp chí 1959,4:46).

Cách chế và dùng thuốc theo sách của GS Đỗ tất Lợi:

Thuốc bột Xoan: Vỏ xoan cạo bỏ lớp vỏ nâu ngoài, sao hơi vàng rồi tán nhỏ, đóng gói 0,7 - 1g/gói. Liều dùng:

- Trẻ 1 tuổi trở xuống: 0,15 - 0,2g/ngày.

- Trẻ 2 tuổi: 0,2 - 0,25g/ngày.

- Trẻ 3 tuổi trở xuống: 0,25 - 0,35g/ngày.

- Trẻ 4 tuổi trở xuống: 0,35 - 0,50g/ngày.

- Trẻ 5 tuổi trở xuống: 0,7 - 1g/ngày.

- Trẻ từ 10 tuổi trở xuống: ngày uống 1 - 1,5g/ngày.

- Trẻ 15 trở xuống: 1,5 - 2g/ngày.

Sirô Xoan: Người lớn 2 - 3g/ngày, uống 3 sáng sớm lúc đói, có thể lấy chuối chấm bột uống.

Cách chế Vỏ xoan như, sắc 4 lần cô thành dịch sắc 100%, cho thêm sirô đơn bằng lượng thuốc sắc. Liều dùng:

- Trẻ 1 - 2 tuổi: 20ml.

- Trẻ 3 - 5 tuổi: 30ml.

- Trẻ 6 - 9 tuổi: 40 ml.

- Trẻ 16 - 19 tuổi: 65 ml.

- Từ 19 tuổi trở lên: uống 75 - 80ml.

Uống vào lúc sáng sớm lúc đói, nhịn ăn tới trưa thì ăn bình thường. Thuốc trị được giun kim.

Vỏ rễ Xoan tươi 25g sắc đặc 24g sắc đặc gia đường đỏ (đường mía thô) 30g uống một lần, trẻ em giảm  liều hoặc hơn. Sau 3 ngày không ra giun uống lại 1 lần.

2. Trị lãi kim:

Khổ luyện căn bì 75g, Bách bộ 150g, Ô mai 10g cho nước 2 bát to sắc còn 1 bát to, mỗi tối dùng thụt đại tràng 1 lần liên tiếp 2 - 4 tối.

3. Trị giun móc:

Sirô Khổ luyện Căn bì Binh lang: Khổ luyện căn bì tươi 24g, Binh lang 15g, sắc nước cho uống thêm ít mật ong uống vào buổi tối trước lúc ngủ 1 lần ( bụng đói). Uống liên tục 2 tối, trẻ em giảm liều.

4. Trị trùng roi âm đạo:

Dùng nước sắc vỏ rễ xoan (vỏ rễ xoan tươi 200g cho vào 1000 - 1500ml nước đun sôi 20 phút, lọc), bơm vào âm đạo 5 ml và nhét thêm 1 miếng gạc tẩm thuốc sắc, hôm sau lấy ra, 5 - 10 lần là 1 liệu trình. Trị 27 ca và dùng thuốc đạn (thuốc được tinh luyện gia thêm glycerine minh dao chế thành) mỗi viên 3 - 5g, trước lúc ngủ đặt vào âm đạo, các ngày 1 lần, dùng 5 lần, kết quả tốt (Nghiêm gia Tường, Tạp chí Phụ sản khoa Trung hoa 1959,3:193).

Liều dùng và chú ý:

- Thuốc khô: 6 - 15g, tươi 15 - 30g; sắc uống hoặc cho vào thuốc hoàn tán.

- Thuốc tươi tốt hơn. Dùng ngoài lượng vừa đủ, sắc rửa hoặc tán bột đắp.

- Thuốc rất độc, dùng phải hết sức thận trọng. Liều lượng trong các bài thuốc chỉ để tham khảo sử dụng, phải tùy tình hình cụ thể của bệnh nhân nhưng tuyệt đối không nên dùng liều lượng quá cao và kéo dài.

- Những người cơ thể hư yếu và những bệnh nhân gan thận không nên dùng.

- Những triệu chứng nhiễm độc vỏ xoan, quả xoan (độc hơn vỏ rễ ) lá xoan và cách xử trí (theo sách Những cây có độc chủ yếu ở phương nam).

Toàn bộ cây Xoan là có độc, quả là độc nhất, lá độc nhẹ nhất. Aên 6 - 8 quả là có thể ngộ độc gây đau đầu, váng đầu, nôn, tiêu chảy, khó thở, tim đập nhanh, run giật, ăn nhiều sẽ tê mê, nặng mất hết cảm giác và tử vong.

Cách xử trí cấp cứu: Lúc chưa co giật: cho uống thuốc gây nôn, thụt rửa dạ dày, lúc cần gây tiêu chảy, uống lòng trắng trứng gà hoặc bột mì, than hoạt, uống nước đường cam thảo, chích glucoza. Lúc co giật phải dùng thuốc chống co giật.

Phụ chú:

- Lá Xoan non hơ lửa cho mềm giã lấy nước đắp trị bệnh Bạch điến phong.

- Quả Xoan non gọi là Luyện tử cũng gọi là Kim linh tử: Vị đắng, tính hàn, có độc, qui kinh Can. Có tác dụng lợi thấp nhiệt, chỉ thống, sát trùng. Trị Vị quản nhiệt thống, thấp nhiệt sán thống, trùng tích phúc thống như:

- Kim linh tử tán; Xuyên luyện tử 12g, Diên hồ sách 10g, sắc nước uống. Trị bụng đau, đau dây thần kinh liên sườn.

Nhất quán tiễn: Xuyên luyện tử 12g, Sa sâm, Mạch môn, Đương quy đều 10g, Sanh địa 12g, Kỷ tử 10g, sắc nước uống. Trị can thận âm hư, khí trệ, sườn ngực đau tức, họng khô, mạch tế.

theo Baophuyen.com.vn

 
Quan tâm  
5

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Nấm Độc Trắng Hình Nón - Amanita Virosa
Khi bị ngộ độc Nấm Độc Trắng Hình Nón (Amanita Virosa) bệnh nhân sẽ đau bụng, buồn nôn, nôn dữ dội, khát dữ dội và ỉa chảy kéo dài 2-3 ngày, sau đó người bị ngộ độc sẽ bị co giật, mất ý thức, tổn thương gan thận, hôn...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Tùng Lam - Isatis Tinctoria
Theo các nhà nghiên cứu tại Viện thí nghiệm cây công nghiệp ở Bologna (Ý), trong cây Tùng Lam (Isatis tinctoria) có chứa một lượng lớn glucobrassicin (GBS), một chất có khả năng chống ung thư và hiện được sử dụng như nguồn dược liệu...
Triệu Chứng Và Cách Xử Lý Khi Ngộ Độc Tetrodotoxin
Tetrodotoxin rất độc với thần kinh, ức chế kênh natri, đặc biệt ở cơ vân, ngăn cản phát sinh điện thế và dẫn truyền xung động, hậu quả chính là gây liệt cơ và suy hô hấp, dễ tử. Để được cứu sống, bệnh nhân cần được đảm...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Điềm Qua Tử
Điềm Qua Tử là hạt quả Dưa Bở có vị ngọt, tính hàn; có tác dụng tán kết tiêu ứ, thanh phế, nhuận tràng. Được dùng Trị ho do nhiệt, miệng khát, suy giảm chức năng ở ruột và phổi, táo bón; trị đờm; giúp nhuận tràng.
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.