Thứ hai, 22/01/2018 11:02 PM

Thục Địa

Thứ tư, 11/05/2016 11:15 AM
Tên khoa học
Radix Rehmanniae Glutinosae Conquitae

Thục địa là phần rễ của cây Địa Hoàng (Rehmannia Glutinosa) có tác dụng dưỡng huyết tư âm, bổ tinh ích tủy. Chủ trị các chứng huyết hư, phụ nữ kinh nguyệt không đều, băng lậu can thận âm hư, chứng tiêu khát, tinh huyết hư.

Thục Địa - Radix Rehmanniae Glutinosae Conquitae
Thục Địa - Radix Rehmanniae Glutinosae Conquitae

Tính vị qui kinh:

Ngọt hơi ôn, qui kinh Can thận.

Theo Y văn cổ:

- Sách Bản thảo thập di: Ôn.

- Sách Bản thảo cương mục: Ngọt hơi đắng.

- Sách Bản thảo cương mục: Ngọt, hơi đắng, ôn, nhập thủ túc thiếu âm, quyết âm kinh.

- Sách Bản thảo tân biên: Vị ngọt, ôn.

- Sách Bản thảo tùng tân: Nhập túc tam âm kinh.

Thành phần chủ yếu:

B-sitosterol, mannitol, stigmasterol, campesterol, rehmannin, catalpol, arginine, glucose.

Tác dụng dược lý:

A. Theo Y học cổ truyền:

Dưỡng huyết tư âm, bổ tinh ích tủy. Chủ trị các chứng huyết hư, phụ nữ kinh nguyệt không đều, băng lậu .can thận âm hư, chứng tiêu khát, tinh huyết hư.

Trích đoạn Y văn cổ:

- Sách Bản thảo thập di: "Ôn bổ".

- Sách Trân châu nang: "Đại bổ huyết hư, bất túc thông huyết mạch, ích khí lực".

- Sách Bản thảo cương mục (tập 16): "bổ cốt tủy, trưởng cơ nhục, sinh tinh huyết, bổ ngũ tạng, nội thương bất túc.làm rõ tai mắt, làm đen răng tóc, nam tử ngũ lao thất thương, nữ tử thương trung bào lậu, kinh lậu bất điều, thai sản bách bệnh".

- Sách Cảnh nhạc toàn thư: "Bổ huyết lấy Thục địa làm chính mà Khung qui làm tá dược. trị âm huyết hư không thể không có Thục địa".

- Sách Dược phẩm hóa nghĩa: "Bổ huyết lấy Thục địa mà nấu chưng rượu, vị đắng thành ngọt, tính lương thành ôn vào kinh can bổ huyết... ích tâm huyết, bổ thận thủy".

- Sách Bản thảo tùng tân: "Tư thận thủy cốt tủy, lợi huyết mạch, bổ ích chân âm, làm rõ tai mắt, làm đen râu tóc. Còn bổ tỳ âm, trị cửu tả, trị lao thương phong tý, âm hư phát nhiệt, ho khan, ho có đàm, suyễn, tức khó thở. sau khi mắc bệnh chân đùi đau nhức, sau đẻ bụng rốn đau cấp, chứng cảm âm hư, tiện táo, không ra mồ hôi, các chứng huyết động, tất cả chứng can thận âm hư, bách bệnh hư tổn là chủ dược thuốc tráng thủy".

B. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

- Nước sắc Đại hoàng có tác dụng kháng viêm. Đối với chuột cống, thực nghiệm gây sưng tấy bằng Formalin vùng chân đùi, thuốc làm giảm sưng rõ.

- Địa hoàng làm hạ đường huyết. Cũng có báo cáo nói Địa hoàng làm tăng cao đường huyết của chuột cống hoặc không ảnh hưởng đến đường huyết bình thường của thỏ.

- Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống chất phóng xạ, chống nấm.

- Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit nhưng không làm ức chế hoặc teo vỏ thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa đều có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.

Ứng dụng lâm sàng:

Trên lâm sàng Đông y, thường dung Thục địa trong các bài thuốc để trị các chứng sau:

1. Trị chứng huyết hư kinh nguyệt không đều ở phụ nữ hoặc các chứng huyết hư khác như sắc da tái nhợt, váng đầu, hoa mắt, ù tai, thiếu máu: Thường dùng bài Tứ vật thang (Cục phương) gia giảm.

Tứ vật thang: Thục địa 20g, Đương quy, Bạch thược mỗi thứ 12g, Xuyên khung 6 - 8g.

Gia giảm: Khí hư gia Đảng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí sinh huyết, nếu ứ huyết nặng gia thêm Đào nhân, Hồng hoa (tức bài Đào hồng Tứ vật) để tăng tác dụng hoạt huyết hóa ứ. Trường hợp huyết hư kiêm hàn gia Nhục quế, Bào khương để ôn dưỡng huyết mạch. Nếu huyết hư sinh nội nhiệt gia thêm Liên kiều, Đơn bì, Thục địa thay bằng Sinh địa để lương huyết dưỡng huyết. Trường hợp huyết hư kèm chảy máu bỏ Xuyên khung gia A giao, Hoa hòe để bổ huyết chỉ huyết.

2. Trị chứng âm hư (hư nhiệt sốt âm ỉ vào chiều tối nặng hơn, sôt kéo dài, ra mồ hôi trộm, môi khô, lưỡi thon đỏ, mạch tế, sác.) thường gặp trong các bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục, bệnh ung thư suy kiệt, bệnh chất tạo keo, viêm đa khớp dạng thấp, bệnh suy giảm miễn dịch tùy tình hình bệnh lý có thể chọn dùng các bài sau:

Tả qui hoàn (Cảnh nhạc toàn thư): Thục địa 20g, Sơn thù, Câu kỷ tử, Thỏ ty tử, Lộc giác giao, Qui bản mỗi thứ 12g, Sơn dược 16g, Ngưu tất 12g, tán bột mịn luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 8 - 12g, ngày 2 lần.

Lục vị Địa hoàng hoàn (Tiểu nhi dược chứng trực quyết): Thục địa hoàng 32g, Sơn dược 16g, Sơn thù 16g, Bạch linh, Trạch tả, Đơn bì mỗi thứ 12g. Thục địa sắc lấy nước còn bã cùng các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn trộn với nước Thục địa cho thêm mật ong vừa đủ làm hoàn nhỏ. Mỗi lần uống 8 - 12g, ngày 2 - 3 lần với nước sôi nguội hòa nước nuối nhạt, chủ yếu là bổ thận âm.

Đại bổ âm hoàn (Đơn khê tâm pháp): Thục địa (rượu chưng), Qui bản (dấm chích) mỗi thứ 24g, Tri mẫu, Hoàng bá mỗi thứ 16g, Thục địa sắc lấy nước như trên, các vị thuốc tán bột mịn cùn tủy heo chưng chín luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 8 - 12g, ngày uống 2 lần sáng tối.

Đối với những bệnh viêm thận mạn, huyết áp cao, tiểu đường, suy nhược thần kinh thể âm hư, dùng bài Lục vị gia giảm có kết quả tốt, có thể cải thiện chức năng thận ( Nghiên cứu dược lý bài Phức phương Lục vị địa hoàng hoàn, Tác dụng của thuốc đối với huyết áp và chức năng thận đối với mô hình viêm thận của chuột trắng to - Tạp chí Nội khoa Trung hoa 12:23-25,1964.

3. Trị hư suyễn: Kinh nghiệm cổ nhân có nói: "Thục địa là thuốc trị hư đờm". Bệnh nhân hư suyễn có thể dùng Thục địa uống thay trà phối hợp với Ngưu tất càng tốt. Có thể dùng các bài:

Đô khí hoàn (Lục vị địa hoàng gia Ngũ vị tử) mỗi lần 8 -12g, ngày 2 lần, tùy tình hình bệnh có thể gia vị sắc uống.

Kim thủy lục quân tiễn (Cảnh nhạc toàn thư): Đương qui 12g, Thục địa 16g, Trần bì 6g, Bán hạ chế gừng 8g, Bạch linh 12g, Chích thảo 4g, sắc uống.

4. Trị táo bón do âm hư: Thường trở thành tập quán dùng Thục địa 80g sắc với thịt nạc heo uống.

5. Trị tiểu đường: dùng bài:

Sinh tân chỉ khát thang (kinh ngiệm): Đại Thục địa 12g, Thái tử sâm 16g, Sơn dược 20g, Ngũ vị tử 8g, sắc uống.

6. Trị huyết áp: Mỗi ngày dùng Thục địa 20 - 30g liên tục trong 2 tuần. Trị 62 ca kết quả tốt, huyết áp và cholesterol đều hạ, triglycerid giảm, não huyết lưu đồ và điện tâm đồ đều được cải thiện.

7. Trị viêm thoái hóa cột sống: Dùng Thục địa 30 cân, Nhục thung dung 20 cân, đều sấy khô, tán bột mịn, Cốt toái bổ, Dâm dương hoắc, Kê huyết đằng, mỗi thứ 20 cân, La bạc tử 10 cân, sắc thành cao còn 22 cân, gia mật 3 cân, trộn đều luyện thành hoàn nặng 2,5g/hoàn, mỗi lần uống 2 hoàn, ngày uống 2 - 3 lần, liệu trình một tháng. Đã trị trên 3 vạn ca, theo 1000 ca được thống kê: kết quả tốt 803 ca, tiến bộ 141 ca, không kết quả 56 ca, phần lớn trong 1 - 2 liệu trình có kết quả (Lưu bá Linh, Phân tích lâm sàng 1.000 ca viêm thoái hóa cột sống, Tạp chí Trung y Liêu ninh 1982,3:40).

8. Trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh: Dùng Lục vị địa hoàng gồm: Thục địa, Sơn thù, sơn dược, trạch tả, Phục linh, Đơn bì theo tỷ lệ 8:4:4:3:3:3, tán mịn, luyện mật làm hoàn. Mật, thuốc tỷ lệ mỗi thứ 1/2, mỗi hoàn 10g, mỗi lần uống 1 -2 hoàn, ngày uống 1 - 3 lần liên tục trong 12 năm. Đã trị 46 ca nghi ung thư thực quản và tế bào thực quản tăng sinh, kết quả ung thư hóa 1 ca, ổn định 4 ca, tiến bộ tốt 41 ca. Đối với tế bào thượng bì thực quản tăng sinh, tỷ lệ tiến bộ tốt 89,1% ( Bệnh viện Ung thư tỉnh Hà bắc: Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh bằng Lục vị Địa hoàng hoàn, Tạp chí Tân y dược học 1977,7:15).

Liều lượng thường dùng và chú ý lúc dùng:

Liều: 10 - 30g, thuốc sắc, nấu cao, hoàn tán.

Chú ý:

Thục địa tính nê trệ cùng dùng với Trần bì, Sa nhân để dễ tiêu hóa hấp thu.

Theo kinh nghiệm cổ truyền: Thục địa sao thành than để cầm máu.

Thục địa ngâm rượu vừa có tác dụng bổ huyết vừa hoạt huyết.

Trường hợp tỳ vị hư hàn, tiêu chảy, ăn kém hay đầy bụng, lúc cần nên phối hợp thuốc kiện tỳ hành khí.

theo Baophuyen.com.vn

 
Quan tâm  
7

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

Kỹ Năng Sơ Cứu Khi Bị Bỏng, Nghẹt Thở, Chảy Máu, Mất Nước, Ngất Xỉu, Hạ Thân Nhiệt Hoặc Bị Vật Sắc Nhọn Đâm
Những kỹ năng sơ cấp cứu cơ bản có thể cứu sống người khi cần thiết. Hô hấp nhân tạo, sơ cứu người bị chết đuối, sơ cứu người bị đau tim, bỏng, cháy máu nhiều, tắc thở vì dị vật, cách di chuyển nạn nhân là các kỹ năng...
Trị Ho Gà, Viêm Da Nứt Nẻ Do Lạnh, Cảm Mạo, Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em Bằng Châu Chấu Lúa
Theo dược học cổ truyền, Châu chấu lúa có vị cay ngọt, tính ấm có tác dụng chỉ khái c, tư bổ cường tráng, trị chứng kinh phong, giải độc thấu sang, thường dùng để chữa cho trẻ co giật Ho gà, viêm da nứt nẻ do lạnh, cảm mạo,...
Cây Nấm Phiến Đốm Chuông - Panaeolus Campanulatus
Nấm Phiến Đốm Chuông mọc trên phân hoại mục ở các bãi cỏ từ tháng giêng tới tháng 9, thường riêng lẻ hoặc họp thành nhóm nhỏ. Có gặp ở Hà Nội, Hải Hưng. Lớp thịt mỏng, màu da sơn dương. Thịt không mùi, chứa những chất...
Cây Mi Hồ Đào - Actinidia Pilosula
Theo Đông y, Mi Hồ Đào (Actinidia Pilosula) có vị ngọt, chua, tính hàn; tác dụng giải nhiệt, chỉ khát (làm hết khát nước), thông lâm (giúp thông tiểu tiện, ngừa sỏi niệu), tiêu viêm, lưu thông khí huyết. Thường dùng chữa sốt nóng,...
4 Bước Thải Độc Bằng Nước Lọc Của Người Nhật Giúp Da Đẹp, Dáng Thon Và Cơ Thể Căng Tràn Sức Sống
Gần đây bạn thấy cơ thể mệt mỏi, da xạm và bắt đầu mọc mụn... đó là một trong những dấu hiệu báo cơ thể bạn cần thải độc rồi đấy. Mà cách làm các loại nước Detox thì rất tốn kém và chiếm nhiều...
Chân Vịt: Trị Phù Thũng, Nhiều Mồ Hôi, Nhiệt Miệng Khô Khát, Ăn Ngủ Kém, Mệt Mỏi, Đau Bụng Kinh, Sản Phụ Thiếu Sữa, Đại Tiện Không Thông
Chân vịt tác dụng, bổ hư, lợi thấp, dưỡng gân xương, thông huyết mạch... trị chứng khí huyết đều hư, chứng phù thũng, nhiều mồ hôi, nội nhiệt miệng khô khát, ăn ngủ kém, mệt mỏi, ra nhiều mồ hôi, đau bụng kinh, sản phụ...
Dương Huyết
Tiết dê (dương huyết) có vị mặn, tính bình, có công dụng chỉ huyết, khứ ứ. Được dùng trị thổ huyết, chảy máu cam, xuất huyết và cầm máu vết thương.
Cây Ngải Tượng
Cây Ngải Tượng hay còn gọi là Cây Bình vôi có tác dụng an thần, trấn kinh, chữa mất ngủ, sốt nóng, nhức đầu, khó thở, chữa đau dạ dày. Trong huyền môn thì nó được dùng để gọi người trở về, trông giữ của cải cho gia chủ...