Thứ hai, 24/09/2018 9:27 AM

Cây Đại Kích - Euphorbia Pekinensis

Thứ tư, 27/04/2016 4:11 PM
Tên khác
Hồng nha đại kích, Hồng mao đại kích, Tử đại kích, Miên đại kích, Thảo đại kích, Bắc đại kích
Tên khoa học
Euphorbia Pekinensis Rupr

Mô tả: Cây thảo sống lâu năm, có độc, thân cao 0,3-0,7m, có lông nhỏ lá mọc cách, hình mũi mác, bầu dục, hai bên mép lá có răng cưa không rõ ràng, thân lá cắt ra có dịch trắng chảy ra, đầu mùa hè thân phân nhánh và ra hoa màu vàng xanh. Quả hơi dẹp hình tròn, có vết nứt lồi ra.

Phân biệt: Có 2 loại Đại kích là Hồng nha đại kích và Miên đại kích.

Hồng nha đại kích: Còn gọi là Hồng mao đại kích hoặc Tử đại kích là vị Đại kích mà người phương nam Trung Quốc hay dùng, vị thuốc khô biểu hiện hình tơ xe, cong nhăn teo, dài từ 32-50mm, dầy chừng 6-12mm, bên ngoài có màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi có rễ nhánh, vết nhăn dài mà sâu, liên tiếp không dừng, chất cứng mà giòn (gặp trời mẩm dễ hút ẩm và mềm trở lại) bẻ gẫy có màu nâu đất, có mùi đặc biệt.

Miên đại-kích: Còn gọi là Thảo đại kích hoặc Bắc đại kích, biểu hiện hình trụ tròn dài, mà nhỏ, dài chứng 18-25cm có khi tới 50cm, rộng chừng 6-9mm, mặt ngoài màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi uốn cong chất mềm khó bẻ gẫy, dễ tước, vị này ít dùng.

Cây Đại Kích - Euphorbia Pekinensis
Hoa Cây Đại Kích - Euphorbia Pekinensis

Địa lý: Cây này Việt Nam chưa thấy có, còn phải nhập của Trung Quốc. Thường có ở Quảng Đông, Quảng Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Thiểm Tây, Giang Tô, Triết Giang.

Thu hái, sơ chế: Thu hái vào tháng 8-10 âm lịch, ngâm nước cho mềm cạo bỏ lõi ở giữa xắt lát phơi khô.

Phần dùng làm thuốc: Rễ.

Bào chế: Sao với giấm hoặc chưng với đậu hũ cho nhừ.

Tính vị: Vị đắng. Tính mát Có độc.

Quy kinh: Vào kinh Thận.

Tác dụng: Trục thủy, hóa ẩm.

Chủ trị: Trị phù thũng tay chân, bụng lớn. Ho suyễn, đàm ẩm tích tụ. Đau hông sườn như dao cắt.

Liều dùng: 2 - 6g.

Kiêng kỵ: Người nguyên dương suy yếu không nên dùng.

Phụ nữ có thai cấm dùng.

Bảo quản: Để nơi khô ráo.

Cây Đại Kích - Euphorbia Pekinensis
Cây Đại Kích - Euphorbia Pekinensis

Đơn thuốc kinh nghiệm:

- Trị trúng phong thái dương kinh, biểu đã giải mà lý chưa hòa, đau tức ran sườn, hoặc vì nước đình tích mà ho, phù thủng thở gấp, đại tiểu tiện bí: Cam toại, Nguyên hoa, Đại kích, tán bột sắc với nước Đại táo uống (Thập Táo Thang - Thương Hàn Luận).

- Trị trúng gió phát sốt: Đại kích, Khổ sâm, mỗi thứ 120g, nước dấm, rượu trắng 1 đấu nấu mà rửa, lạnh thì thôi (Thiên Kim Phương).

- Đại kích thường hay bỏ vào ‘Ngọc Khu Đơn, Tử Kim Đính’ để giải cổ độc, nhiệt độc ung thư, mụn nhọt, các loại rắn độc cắn, trong uống ngoài dán, khi nào đi cầu được là tốt (Tam Nhân Phương).

- Trị bệnh đậu biến thành đen, khô hãm không phát ra được, hàn mà đại tiện bón: Đại kích 30g, Táo 3 trái, 1 chén nước nấu rồi phơi khô, bỏ Đại kích, lấy Táo nhục sấy khô làm thanh viên, uống từ 1 - 2g, đến khi nào đi cầu được thì thôi (Bách Tường Hoàn - Tam Nhân Phương).

- Trị đờm dãi lưu trệ trên hoặc dưới ngực, hung cách, biến chứng đủ thứ bệnh, khi đau cổ gáy ngực vai lưng sườn, khi tay chân đau nhức không chịu được, gân cốt rã rời, đau không cố định khi rung chỗ này khi giật nơi khác, da thịt mất cảm giác như bại liệt, những chứng ấy không nên cho là phong khí, phong độc và ung nhọt để trị, hoặc trong lúc ngủ chảy nước dãi nơi miệng, ho suyễn, đờm mê tâm khiếu: Tử đại kích, Cam toại, Bạch giới tử  đều 30g, sao qua, tán bột, lấy nước cốt gừng trộn làm viên to bằng hạt ngô đồng lớn, uống lần 7-20 viên nuốt với nước bọt, nếu muốn đi cầu được lợi hơn dùng 50-60 viên (Khống Diên Đơn - Tam nhân phương).

- Trị đau răng, răng lung lay:  Đại kích nhai nhét vào chỗ đau (Sinh Sinh Phương).

- Trị phù thủng thở gấp, tiểu tiện ít, phù bụng: Đại kích 60g, Can khương sao đen đều 15g, tán bột, mỗi lần uống 9g với nước gừng sống, khi nào đại tiểu tiện thông thì thôi (Thánh Tế Tổng Lục).

- Trị phù thủng cấp hoặc mãn tính, dùng Đại kích, Đương quy, Quất bì mỗi thứ 30g, sắc với 2 thăng nước còn 7 chén, đi cầu được là tốt, nhưng cũng cần uống thêm 2- 3 thăng nữa, khi đỡ rồi, cữ ăn thức ănà độc trong 1 năm (Binh Bộ Thủ Tập Phương).

- Trị phù thủng căng trướng: Đại kích 30g, Quảng mộc hương 15g, tán bột, uống 3 - 5g với rượu, đi cầu ra nước xanh biếc, sau đó ăn cháo, cử ăn thức ăn mặn (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

- Trị phù thủng căng trướng: Đại kích 30g đốt tồn tính tán bột uống rượu lúc đói (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

- Trị phù lớn như cái trống, phù cả người: Táo1 đấu,  bỏ vào nồi, tẩm qua nước, dùng Đại kích (rễ và ngọn non) trét kín nắp nồi thật kín, nấu chín, lấy Táo ăn (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

- Trị phù lớn như cái trống, phù cả người: Đại kích, Bạch khiên ngưu, Mộc hương, các vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần dùng 3g,  lấy thịt thăn heo, xẻ ra bỏ thuốc vào giữa gói lại, nướng chín, ăn lúc đói (Đại Kích Tán - Hoạt Pháp Cơ Yếu).

theo Tuetinhlienhoa.com.vn

 
Quan tâm  
7

Bài viết liên quan

Ý kiến bạn đọc

4 Cách Sơ Cứu Nhanh Khi Bị Trúng Độc Bằng Trứng Gà
Trúng độc (thuốc sâu, thạch tín...) phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Nếu giao thông ách tắc, không có cách nào đi viện ngày thì chọn mấy phương thuốc sau để sơ cứu rồi đưa đi bệnh viện sau:
Trị Ho, Viêm Họng, Nôn Mửa Và Nước Ăn Chân Bằng Quả Me Rừng
Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu...
Cây Chữa Rắn Cắn - Eupatorium Rugosum
Cây chữa rắn cắn hay White Snakeroot (Eupatorium rugosum) là một thành viên thuộc họ cúc ở Bắc Mỹ. Hoa White Snakeroot màu trắng rất đẹp, thoạt nhìn có phần vô hại và "mỏng manh" tuy nhiên đây lại là loài cây mang độc tính cực mạnh, lọt...
Cây Cà Ri Ấn Độ - Murraya Koenigii
Toàn bộ lá, thân, quả, hạt và rễ Cây Cà Ri Ấn Độ (Murraya Koenigii) đều được sử dụng làm gia vị và làm thuốc. Ở Ấn Độ, người ta trồng chủ yếu để lấy lá, phần lớn để chế bột cari và làm thuốc trị rối loạn tiêu...
Trị Rắn Độc Cắn Bằng Trứng Gà Cực Kỳ Hiệu Nghiệm
Khi bị rắn độc cắn bạn hãy buộc kỹ trên dưới chỗ cắn không cho nọc độc truyền đi khắp nơi. Dùng dao hoặc kim khử trùng chích chỗ bị cắn và nặn nọc độc ra hoặc dùng bình hút hút hết chất độc ra. Sau đó dùng các bài...
Phương Pháp Ngâm Rượu với Rễ Cây Nhàu Để Chữa Đau Lưng Nhức Mỏi và Tê Bại
Nhàu là một trong những cây thuốc quý với rất nhiều tác dụng, tất cả các bộ phận của cây Nhàu đều dùng làm thuốc được nhưng trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin mạn phép chỉ hướng dẫn quý độc giả Phương Pháp Ngâm Rượu...
Cá Nheo - Parasilurus Asotus
Thịt cá nheo (niềm ngư nhục) Có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng tư âm, bổ khí, mát máu, chỉ huyết, kiện tỳ, khai vị, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa phù thũng, tiểu tiện bất lợi, chứng mắt miệng méo xệch, đau dạ...
Sữa Đậu Nành
Trong sữa đậu nành có vitamin A, B1, B2, D, PP, K, F và các men có ích cho tiêu hóa. Ngoài ra, đồ uống này còn chứa chất isoflavon bù lại tình trạng thiếu oestrogene của phụ nữ có tuổi, chống loãng xương, phòng trị ung thư vú. Nó cũng cải...
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn
Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn là bài thuốc quý có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh bổ khí huyết. Bài thuốc được dùng chữa các chứng khí huyết bất túc sau khi mắc bệnh lâu ngày. Trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch não,...
Ngải Đen
Có 3 loại ngải đen: Ngải có hoa màu đen, lá màu đen và củ màu đen. Ngải đen là dòng ngải quý hiếm, không những có linh khí rất mạnh trong huyền môn mà nó còn là một loại dược thảo có khả năng trị được nhiều bệnh và bổ dưỡng.